Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi tại cơ sở trợ giúp xã hội. Cơ sở lý luận nghiên cứu dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi tại cơ sở trợ giúp xã hội. Kết quả nghiên cứu thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi tại cơ sở trợ giúp xã hội; Chương 4.
Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi tại cơ sở trợ giúp xã hội. 14 Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƢỜI CAO TUỔI TẠI CƠ SỞ TRỢ GIÚP XÃ HỘI 1. Những nghiên cứu về ngƣời cao tuổi và ngƣời cao tuổi tại cơ sở trợ giúp xã hội 1. Những nghiên cứu về người cao tuổi Người cao tuổi là nhóm xã hội đặc biệt được quan tâm từ gia đình đến phạm vi xã hội.
Đây không chỉ là trách nhiệm xã hội, mà còn là văn hóa dân tộc. Ở tất cả các quốc gia, người cao tuổi đều được quan tâm chăm sóc. Chính vì vậy, người cao tuổi cũng là đối tượng tìm hiểu, quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Có thể nêu ra một số nghiên cứu sau: Các tác giả Brendan M Baird , Richard E Lucas, M Brent Donnellan (2010) đã nghiên cứu về sự hài lòng cuộc sống theo tuổi thọ.
Nghiên cứu thứ nhất được tiến hành với 40.000 người tham gia trên toàn nước Đức (Dự án GSOEP). Có 51% số người tham gia là phụ nữ. Trong nghiên cứu này các tác giả muốn xem có sự khác biệt về hài lòng cuộc sống hay không ở những nhóm tuổi tác khác nhau. Các tác giả cũng chỉ ra, hạnh phúc chủ quan, hạnh phúc của con người là kết quả trực tiếp nhất từ các hoàn cảnh khách quan của cuộc sống của họ.
Sự hài lòng trong cuộc sống của một người có thể xem xét qua các điều kiện khách quan của cuộc sống của cá nhân đó. Sự khác biệt về độ tuổi có sự hài lòng cuộc sống khác nhau. Về mức độ hài lòng trong cuộc sống thể hiện rõ nhất khi đối chiếu những người lớn tuổi nhất trong mẫu với các nhóm tuổi khác. Nghiên cứu thứ hai (Dự án BHPS) được tiến hành ở Anh từ năm 1991 đến 2001, với mẫu là 24.000 người tham gia, có 53 người là phụ nữ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy sự hài lòng cuộc sống giảm dần theo nhóm tuổi. Và sự hài lòng cuộc sống giảm nhẹ đối với nhóm tuổi người cao tuổi. Kết quả của hai nghiên cứu này cho thấy mức độ hài lòng trong cuộc sống bắt đầu giảm sau giữa những năm 70 tuổi và những sự sụt giảm này có thể khá đáng kể. Những suy giảm này có thể liên quan đến các vấn đề sức khỏe ngày càng giảm, mất hỗ trợ xã hội, hoặc thậm chí là cái chết sắp xảy ra.
Như vậy, sự hài lòng về cuộc sống giảm xuống vào cuối tuổi thọ, thời điểm mà nhiều hoàn cảnh khách quan có thể trở nên tồi tệ hơn [71]. Nghiên cứu của Baltes và Mayer (1999) cho thấy khi sức khỏe thể chất, tình trạng tài chính hoặc các mối quan hệ xã hội của một cá nhân thay đổi theo thời gian, các đánh giá về 15 sự hài lòng trong cuộc sống của người đó cũng sẽ thay đổi. Bởi vì sự già đi có xu hướng liên quan đến sức khỏe kém hơn, ít tiền hơn và ít giao tiếp xã hội hơn thì sự hài lòng cuộc sống cũng có thể giảm đi. Nghiên cứu này cũng cho thấy nếu sự hài lòng trong cuộc sống bị ảnh hưởng bởi các khía cạnh tương đối ổn định là tính khí, thì mức độ hạnh phúc trung bình có thể duy trì ổn định trong suốt thời gian cuộc sống của cá nhân [dẫn theo 71].
Những nghiên cứu theo Lý thuyết chọn lọc xã hội cho rằng mọi người thực sự có thể trở nên hạnh phúc hơn và hài lòng hơn với cuộc sống của họ khi họ già đi. (1991) cho rằng khi con người bước vào những năm cuối đời, họ ngày càng có ý thức về khoảng thời gian họ còn lại để sống. Nhận thức về tỷ lệ tử vong sắp xảy ra này có thể khiến những người lớn tuổi tập trung vào các cách để làm cho những trải nghiệm còn lại của họ trở nên thú vị nhất có thể. Ví dụ, so với những người trẻ hơn, những người lớn tuổi có xu hướng chú trọng nhiều hơn đến các khía cạnh cảm xúc của các tương tác xã hội tiềm năng và có nhiều khả năng nhớ nội dung cảm xúc của trải nghiệm của họ hơn [77].
Sinha (2009) đã nghiên cứu về hỗ trợ xã hội và tình trạng sức khỏe của những người lớn tuổi ở Hoa Kỳ. Nghiên cứu được tiến hành ở 1.732 người cao tuổi. Nghiên cứu cũng chỉ ra, sự cô lập với xã hội và thiếu sự hỗ trợ của xã hội có khả năng là những tác nhân gây căng thẳng cấp tính và mãn tính ảnh hưởng đến đời sống tâm lý, trước hết là hành vi của người cao tuổi. Sự hỗ trợ xã hội không đầy đủ và sự cô lập xã hội là những yếu tố gây căng thẳng có ảnh hưởng đến hệ miễn dịch, trao đổi chất và hệ thống tim mạch cũng như các hành vi liên quan đến sức khỏe người cao tuổi.
Kết quả nghiên cứu cho thấy có trong số hơn 7 triệu người cao tuổi, tức 17 dân số này, không hài lòng với mức độ hỗ trợ tinh thần dành cho họ. Hơn 2 triệu người cao tuổi (5 ) cho biết không có bất kỳ nguồn hỗ trợ tinh thần nào, trong đó phần lớn người cao tuổi (hơn 26,5 triệu, tương đương 59,6 ) chỉ nhận được sự hỗ trợ tinh thần từ các thành viên trong gia đình. Đa số người cao tuổi cho biết họ có nhiều mối quan hệ xã hội gần gũi trong cuộc sống (27,6 triệu người, tương đương 62 ); 32 có ít nhất một số lượng bạn thân tối thiểu, nhưng 1,6 triệu (3,7 ) bị cô lập về mặt xã hội và không có bạn thân. Những người cao tuổi có ít nhất 1 tình bạn thân thiết cho biết họ khỏe mạnh hơn những người không có tình bạn thân thiết.
Đại đa số, 78 , đã không chấp nhận hỗ trợ tài chính trong năm trước. Kết quả của nghiên cứu này chứng minh rằng có vài triệu người cao tuổi sống trong 16 cộng đồng vẫn thiếu sự hỗ trợ đầy đủ về mặt tinh thần. Yếu tố xã hội quan trọng quyết định đến sức khỏe thể chất và tinh thần của người cao tuổi vẫn chưa được giải quyết đầy đủ [58]. Có một số nghiên cứu về sự hỗ trợ xã hội đối với tâm lý và sinh lý người cao tuổi.
Đó là: Nghiên cứu của Cohen về các mô hình tâm lý xã hội đối với vai trò của hỗ trợ xã hội trong căn nguyên của bệnh thể chất [84]. tìm hiểu sự tác động trung tâm của yếu tố căng thẳng đối với sức khỏe và bệnh tật ở người cao tuổi. Nghiên cứu chỉ ra tác dụng bảo vệ và tác hại của căng thẳng đối với sức khỏe người cao tuổi [dẫn theo 84]. Tác giả Aggarwal BAF , Liao M , Mosca L nghiên cứu vấn đề hoạt động thể chất như một cơ chế tiềm năng của hỗ trợ xã hội làm giảm nguy cơ bệnh tim mạch [55].
(1966) tìm hiểu về mối quan hệ giữa hỗ trợ xã hội và các quá trình sinh lý của người cao tuổi. Nghiên cứu phân tích các cơ chế và tác động cơ bản của các mối quan hệ xã hội đối với sức khỏe người cao tuổi [135]. Các tác giả Berkman LF , Leo- Summers L , Horwitz RI nghiên cứu vấn đề hỗ trợ cảm xúc cho người cao tuổi sau khi bị nhồi máu cơ tim. Nghiên cứu chỉ ra vai trò của hộ trợ cảm xúc giúp người cao tuổi hồi phục sau khi bị nhồi máu cơ tim [66].
Các tác giả Tiina-Mari Lyyra, Riitta-Liisa Heikkinen (2006) đã nghiên cứu vấn đề nhận thức về hỗ trợ xã hội và tỷ lệ tử vong ở người cao tuổi. Nghiên cứu này xem xét tác động của nhận thức về hỗ trợ xã hội của người cao tuổi đối với thực trạng tử vong do mọi nguyên nhân tại thời điểm cũng như các yếu tố trung gian hợp lý trong mối liên quan này. 17 Thời gian theo dõi là 10 năm. Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa hỗ trợ xã hội (sự đảm bảo về giá trị, sự gần gũi về mặt tình cảm, cảm giác thân thuộc và cơ hội được nuôi dưỡng) và tỷ lệ tử vong ở phụ nữ.
Ở nam giới, không có mối liên hệ nào đáng kể giữa hỗ trợ xã hội với tỷ lệ tử vong ở người cao tuổi. Theo Tiina-Mari Lyyra, Riitta-Liisa Heikkinen có hai giả thuyết (mô hình) liên quan đến các mối liên hệ nhân quả giữa hỗ trợ xã hội và tỷ lệ tử vong. Các hỗ trợ xã hội có thể thực hiện để giảm tỷ lệ tử vong ở người cao tuổi. Chúng được gọi là các mô hình ảnh hưởng trực tiếp và mô hình liên quan đến căng thẳng.
Mô hình liên quan đến căng thẳng cho rằng hỗ trợ xã hội là bảo vệ con người, vì nó làm giảm tác động có hại của căng thẳng trong cuộc sống của một người [132]. Mô hình tác động trực tiếp lại hoạt động theo hai cách. Đầu tiên, môi trường được coi là có ảnh hưởng đến thái độ và hành vi - bao gồm quy định về hành vi sức khỏe và tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe - bằng cách cung cấp các nguồn thông tin liên quan. (1973) đề xuất một mô hình lý thuyết mô tả việc cung cấp các mối quan hệ xã hội.
Ông đã xác định và mô tả 06 loại cung cấp xã hội dựa trên đánh giá của cá nhân về cách hoạt động của các mối quan hệ xã hội của họ. Sáu loại là: Gắn bó, hòa nhập xã hội, đảm bảo giá trị, cơ hội để nuôi dưỡng, hướng dẫn và liên minh đáng tin cậy. Lý thuyết này ngụ ý rằng tất cả 06 loại cung cấp xã hội đều cần thiết, mặc dù có thể có một số khác biệt về tầm quan trọng tương đối của chúng trong các hoàn cảnh khác nhau hoặc trong các giai đoạn khác nhau của quá trình sống. Sự gắn bó được cung cấp bởi các mối quan hệ, nhờ đó một người có được cảm giác an toàn và bảo mật.
Thiếu cảm giác gắn bó có thể do cô đơn hoặc cô lập về mặt cảm xúc. Hội nhập xã hội được cung cấp bởi một mạng lưới các mối quan hệ mà qua đó một cá nhân chia sẻ những lợi ích và mối quan tâm chung.