Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về công tác giáo dục sức khoẻ 1. Một số khái niệm về giáo dục sức khỏe Giáo dục sức khỏe là quá trình tác động có mục đích vào con người nhằm thay đổi kiến thức, thái độ thực hành của con người. Phát triển những thực hành lành mạnh mang lại trạng thái sức khỏe tốt nhất có thể được cho con người (1).
Truyền thông là phương tiện giúp con người có mối liên hệ gần gũi với nhau trong môi trường sống, truyền thông qua ngôn ngữ bằng lời và không lời, với sự hỗ trợ của một số phương tiện. Truyền thông là quá trình liên tục chia sẻ thông tin, kiến thức thái độ, tình cảm, kỹ năng nhằm tạo sự hiểu biết lẫn nhau giữa bên truyền và bên nhận thông điệp, dẫn đến các thay đổi trong nhận thức, hành động và nhằm mục đích quan trọng là để đáp ứng nhu cầu cuộc sống (1). Hành vi là biểu hiện cụ thể các yếu tố cấu thành đó là kiến thức, thái độ, thực hành của người đó trong một tình huống hay trong một sự việc cụ thể nhất định (1). Hành vi sức khỏe là những hành vi của con người ảnh hưởng tốt hoặc xấu đến sức khỏe của chính bản thân họ, của những người xung quanh và của cộng đồng (1).
Kiến thức là những kinh nghiệm, những sự kiện có thực phản ánh trí thông minh của con người, được hình thành qua học tập, quan sát, kinh nghiệm (1). Thái độ có vai trò quan trọng đối với hành vi con người. Trong công tác GDSK cần xem xét phân tích rõ tại sao hầu hết mọi người đều có thái độ nhất định đối với các hành vi sức khỏe, để từ đó có tác động thích hợp nhằm làm chuyển đổi thái độ (1). Thực hành là công việc thực tế đã đạt được qua thực hiện kỹ năng và kỹ xảo.
Sự thay đổi kiến thức, thái độ và thực hành trở nên khác trước, có thể theo chiều hướng tăng hoặc giảm, tích cực hoặc tiêu cực và để có sự thay đổi đó cần có sự tác động bằng nhiều cách khác nhau (1). Nội dung và hoạt động giáo dục sức khỏe 1. Mô hình giáo dục sức khỏe Ngày nay sự phát triển của các cuộc khoa học kỹ thuật, đánh dấu rằng xã hội loài người đã và đang phát triển mạnh mẽ, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật thì y khoa cũng phát triển nhờ có sự xuất hiện của tiêm chủng phòng bệnh, y học thực nghiệm ra đời, phát minh ra kháng sinh…(11). Năm 1960 được gọi là kỷ nguyên y khoa, tư vấn GDSK mang tính độc thoại người thầy thuốc tuyên truyền hoặc nói chuyện với bệnh nhân, đến năm 1970 tư vấn GDSK chuyển từ độc thoại sang đối thoại.
Năm 1980 là giai đoạn phát triển mạnh của truyền thông tiếp thị xã hội, chủ yếu sử dụng các cách truyền thông thiếp thị tích hợp. Đến thập kỷ 90 của thế kỷ XX, công tác GDSK đã được sử dụng phương thức lồng ghép đa phương tiện người gửi và người nhận thông tin đã cùng nhau chia sẻ thông tin (11). Mã hóa Thông điệp Giải mã Chủ Người thể Nhận Phương tiện truyền thông Nhiễu Phản hồi Phản ứng đáp lại Chủ thể là người phát tin gửi cho bên còn lại (bên nhận thông tin), người gửi có thể là cá nhân hay một nhóm cán bộ y tế. Mã hoá là chuyển từ ý tưởng sang ký tự chữ viết hoặc biểu tượng, giúp đối tượng (bên nhận thông tin) nâng cao hiểu biết, thay đổi thái độ và hành vi sức khỏe theo hướng có lợi cho sức khỏe.
Thông điệp là tập hợp các ký tự, biểu tượng bên gửi truyền đi thật chính xác rõ ràng, ngắn gọn, cụ thể phù hợp với trình độ và nhận thức của bên nhận thông tin 6 Phương tiện truyền thông: Là các phương thức, các kênh truyền thông, thông qua đó thông điệp được truyền từ người gửi đến người nhận. Giải mã là quá trình người nhận giải nghĩa các ký tự và biểu tượng người gửi chuyển đến. Người nhận là bên nhận thông điệp của bên gửi, có thể là người bệnh hay người nhà người bệnh hoặc người đến BV với nhiều mục đích khác nhau. Phản ứng đáp lại là phản ứng của người nhận với thông điệp Phản hồi là người nhận gửi thông tin phản hồi với chủ thể, dựa vào phản hồi mà người gửi (chủ thể) đánh giá được tác động của truyền thông đến người nhận.
Nhiễu là các yếu tố tác động từ môi trường, xã hội tác động vào quá trình TT - GDSK làm sai lệch thông tin trong quá trình truyền thông đến người nhận. Hoạt động giáo dục sức khỏe Giáo dục sức khỏe: giống như giáo dục chung, đó là quá trình tác động nhằm thay đổi kiến thức, thái độ và thực hành của con người để phát triển những thực hành lành mạnh mang lại tình trạng sức khỏe tốt nhất cho con người (1), (12). Truyền thông GDSK là quá trình liên tục chia sẻ thông tin, kiến thức, thái độ, tình cảm và kỹ năng nhằm tạo sự đồng cảm, hiểu biết lẫn nhau giữa bên truyền và bên nhận (1). Để cộng đồng có sức khỏe tốt cần can thiệp trên nhiều phương diện, theo WHO (1977) Một hoạt động nhằm vào các cá nhân để đưa đến việc thay đổi hành vi hoặc bao gồm những hoạt động nhằm thông tin, động viên và giúp đỡ quần chúng chấp nhận và duy trì những hành vi có lợi cho sức khỏe (1), (2)… 1.
Truyền thông giáo dục sức khỏe Truyền thông GDSK rất quan trọng, vì có hiểu biết kiến thức sẽ giúp ích cho mỗi người, cộng đồng có thái độ đến hành vi phòng tránh hay xử trí vấn đề sức khỏe khi gặp phải. Nếu hiểu nguyên nhân và hậu quả của một hành vi có hại tới sức khỏe, sẽ giúp họ thay đổi hành vi và duy trì hành vi mới có lợi cho sức khỏe (13), (12). Hành vi sức khỏe lành mạnh của một cá nhân cần 5 yếu tố (14): 1) Kiến thức: Hiểu biết đầy đủ về hành vi lành mạnh đó; 2) Niềm tin và thái độ: Tích cực, muốn thực hiện hành vi lành mạnh; 7 3) Kỹ năng: Cố gắng để thực hiện hành vi lành mạnh đó; 4) Các nguồn lực: Có đủ để có thể thực hiện hành vi đó; 5) Sự ủng hộ: Có môi trường và sự hỗ trợ để thực hiện duy trì hành vi lâu dài. Truyền thông GDSK có 3 nhiệm vụ quan trọng là: nâng cao kiến thức; thay đổi thái độ; thực hành của con người về sức khỏe (1), (15).
Muốn thay đổi hành vi sức khỏe theo hướng có lợi cho sức khỏe cần tryền thông– GDSK và GDSK cần tiến hành thường xuyên, liên tục, lâu dài, bằng nhiều biện pháp khác nhau, chứ không phải là một công việc có thể làm một lần là được (16). Phương pháp truyền thông giáo dục sức khỏe Các hoạt động –truyền thông GDSK được chia làm hai phương pháp chính: Truyền thông gián tiếp: Qua phương tiện truyền thông đại chúng như truyền hình, truyền thanh, báo chí, viết bài, tin, ảnh; pano, áp phích, băng rôn, tờ rơi, sách, sổ tay hướng dẫn, Internet, điện thoại; tin nhắn. Truyền thông trực tiếp: Tư vấn cá nhân (mọi vấn đề về sức khỏe…), làm mẫu, thăm hộ gia đình, truyền thông nhóm, tập huấn, mít tinh, hội thảo, tuần hành, tọa đàm, hội trại, truyền thông lồng ghép, hội thi, lễ phát động. Để triển khai truyền thông GDSK hiệu quả cần có sự chỉ đạo của các cấp, sự phối kết hợp liên ngành tại các tuyến thành phố, quận huyện, xã phường (1), (17).
Đánh giá hiệu quả hoạt động GDSK giúp cán bộ y tế có hiểu biết thái độ thực hành đúng, qua các hoạt động của CBYT sẽ tác động tới cộng đồng thay đổi hành vi, cải thiện trong phòng và điều trị bệnh như: cải thiện chăm sóc tại cộng đồng trong điều trị HIV/AIDS (4), xử trí nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ em (13), vệ sinh môi trường (17), (18), kiểm soát bệnh đái tháo đường (13), (12). đã góp phần làm giảm hoặc thanh toán bệnh, nâng cao sức khỏe bà mẹ, trẻ em, chăm sóc sức khỏe hợp lý; giảm số người mắc và tử vong do bệnh. Nghiên cứu của Nguyễn Văn Hiến trong xây dựng thí điểm phòng Truyền thông GDSK tại Trung tâm Y tế huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam cho thấy, hoạt động GDSK đã làm tăng số lượng, chất lượng hoạt động và kỹ năng truyền thông GDSK của cán bộ y tế. Người dân được nâng cao kiến thức và thực hành về phòng chống bệnh tật thường gặp như tiêu chảy cấp, ngộ độc thực 8 phẩm, bệnh lây truyền qua đường tiêu hóa (1), (16).
Nghiên cứu của Lê Thị Tài về ảnh hưởng của mô hình TT - GDSK Câu lạc bộ: Phụ nữ vì sức khỏe môi trường lên kiến thức, thái độ, thực hành về vệ sinh môi trường đạt được tất cả điểm kiến thức về vệ sinh môi trường đều tăng rõ rệt so với trước can thiệp (18). Công tác giáo dục sức khỏe của NVYT trong bệnh viện 1. Mục tiêu của công tác GDSK trong bệnh viện Công tác GDSK của NVYT luôn gắn liền, hỗ trợ và bổ sung giữa điều trị và chăm sóc nhằm đạt được kết quả cao nhất trong công tác điều trị và chăm sóc người bệnh, bao gồm các mục tiêu sau (3): Cung cấp kiến thức cơ bản về bệnh, các nguy cơ diễn biến của bệnh, để người bệnh hiểu, biết cách theo dõi và tự chăm sóc mình trong thời gian nằm viện Cung cấp những kỹ năng cần thiết trong việc phòng bệnh, hướng dẫn tập phục hồi chức năng để phòng các biến chứng, cũng như các kiến thức về dinh dưỡng chế độ ăn hợp lý nâng cao thể trạng, chế độ ăn bệnh lý trong khi nằm viện và sau khi ra viện Hướng dẫn kỹ năng vệ sinh cá nhân và phòng các bệnh lây nhiễm qua đường hô hấp, tiêu hoá… Tạo niềm tin và thái độ trong việc thay đổi hành vi có hại cho sức khoẻ người bệnh thay thế bằng hành vi có lợi cho sức khoẻ của người bệnh Thông qua tư vấn GDSK cho người bệnh đã gián tiếp mang lại GDSK cho cộng đồng Kết quả GDSK trong bệnh viện đã góp phần vào nâng cao chất lượng điều trị, chăm sóc, phục hồi sức khoẻ và dự phòng bệnh cho người bệnh và cộng đồng ngày càng tốt hơn 1. Văn bản quy định công tác GDSK trong bệnh viện Công tác GDSK luôn được Đảng và nhà nước ta quan tâm, nâng cao sức khỏe bảo vệ giống nòi là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn xã hội, ngành y tế là nòng cốt.