ĐẶT VẤN ĐỀ “An toàn người bệnh (ATNB) là làm giảm nguy cơ gây tổn hại không cần thiết. An toàn người bệnh làm giảm hết mức có thể nguy cơ gây tổn hại không cần thiết liên quan đến chăm sóc y tế” (1). Ngày nay, trong điều kiện kinh tế thị trường phát triển nên các dịch vụ y tế ngày càng có nhiều sự thay đổi, nhu cầu của con người và xã hội đòi hỏi ngày càng tăng cao. Sự phát triển và triển khai nhiều ứng dụng khoa học kỹ thuật công nghệ cao đối với trang thiết bị y tế hiện được sử dụng, khai thác trong các kỹ thuật khám và điều trị nên mức độ rủi ro càng cao.
Khi nhắc đến một cơ sở y tế, người ta thường quan tâm đến văn hóa ATNB thông qua chất lượng khám chữa bệnh tại cơ sở đó. Vì theo Cơ quan nghiên cứu y tế và chất lượng Hoa Kỳ (AHRQ), “Văn hóa ATNB của một tổ chức là sản phẩm của giá trị cá nhân và nhóm, thái độ, nhận thức, năng lực và mô hình hành vi để xác định sự cam kết, cũng như cách thức và trình độ quản lý sức khỏe và an toàn của một tổ chức” (2). Các cơ sở y tế cần có sự “thay đổi” nhận thức về văn hóa ATNB, chú trọng tìm nguyên nhân gốc không do lỗi cá nhân, để cải thiện và xây dựng một hệ thống phòng ngừa chuẩn nhằm giúp giảm thiểu sai sót, sự cố y khoa. Theo nghiên cứu của Mardon và cộng sự năm 2010, văn hóa ATNB tại các bệnh viện có liên quan đến các sự cố, sai sót y khoa (3).
Do đó, thách thức lớn nhất hiện nay là thay đổi từ “Văn hóa buộc tội” khi sai sót xảy ra khiến nhân viên y tế (NVYT) sợ hãi và không báo cáo những sự cố sai sót. Như vậy phải làm thế nào có thể thay đổi được nhận thức từ lỗi cá nhân sang xem xét lỗi hệ thống để cải tiến nhằm hướng đến ATNB. Tại Việt Nam, qua các nghiên cứu khảo sát về văn hóa ATNB tại các bệnh viện đa khoa cho thấy: việc bàn giao - chuyển bệnh, chịu trách nhiệm thông tin của NVYT ảnh hưởng tới ATNB; phản hồi sai sót ảnh hưởng tích cực tới việc truyền đạt thông tin của người bệnh; làm việc nhóm và tần suất báo cáo sự cố ảnh hưởng tới quá trình giao ca, đặc biệt là đối tượng điều dưỡng – đây là nhân lực đông đảo nhất trong bệnh viện (4, 5). Hiện đã có nhiều nghiên cứu khảo sát văn hóa ATNB tại các bệnh viện như bệnh viện Nhi đồng 1 (2018), bệnh viện Từ Dũ (2015), bệnh viện Nhân dân Gia Định và một số bệnh viện khác.
Các nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ trả 2 lời tích cực về văn hóa ATNB đạt từ khoảng 60% - 70% (6-8). Tuy nhiên, đây chỉ là các nghiên cứu mô hình văn hóa ATNB tại bệnh viện đa khoa theo hướng y học hiện đại, về thực trạng văn hóa ATNB tại các bệnh viện Y học cổ truyền vẫn còn hạn chế. Bệnh viện Y dược cổ truyền Tây Ninh được thành lập từ năm 1981, trải qua nhiều năm hoạt động hiện nay với quy mô 100 giường bệnh và 112 cán bộ, NVYT và người lao động, đang hoạt động tại 10 khoa, phòng. Văn hóa Hành xử không buộc tôi và tần suất báo cáo sự cố, sai sót theo ghi nhận của nhà quản lý là thấp vì mỗi năm chỉ có 1-2 ca báo cáo sai sót.
Nhận thức, thái độ và hành vi của nhân viên y tế về ATNB tại bệnh viện vẫn còn là một ẩn số. Hàng năm, bệnh viện có xây dựng kế hoạch và triển khai nhiều hoạt động nhằm đảm bảo ATNB, tuy nhiên việc triển khai chưa trọng điểm vì chưa có nghiên cứu đánh giá nào về văn hóa ATNB của bệnh viện được thực hiện. Các nhà Quản lý bệnh viện, các khoa lâm sàng và phòng chức năng vẫn chưa biết can thiệp cụ thể vấn đề gì để nhằm cải thiện, nâng cao văn hóa ATNB tại bệnh viện. Do đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu Văn hóa ATNB của NVYT và một số yếu tố ảnh hưởng tại Bệnh viện Y dược cổ truyền Tây Ninh năm 2020 nhằm cung cấp bằng chứng khoa học cho việc xây dựng và thực hiện cải thiện văn hóa ATNB của bệnh viện một cách hiệu quả hơn.
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế tại bệnh viện Y dược cổ truyền Tây Ninh năm 2020. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế bệnh viện Y dược cổ truyền Tây Ninh năm 2020. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Một số khái niệm cơ bản sử dụng trong nghiên cứu 1. Khái niệm về an toàn người bệnh Theo WHO, “An toàn là làm giảm nguy cơ gây tổn hại không cần thiết. An toàn người bệnh làm giảm hết mức có thể nguy cơ gây tổn hại không cần thiết liên quan đến chăm sóc y tế”. Đây cũng là một nội dung mà Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đưa vào chương trình giảng dạy ở các bệnh viện, cơ sở y tế trên khắp thế giới(1).
Cơ quan nghiên cứu y tế và chất lượng Hoa Kỳ (AHRQ) đưa ra khái niệm về an toàn người bệnh như sau: “Một cách cơ bản, an toàn người bệnh là việc không gặp phải những tổn thương không mong muốn, có thể phòng ngừa được, gây ra do chăm sóc y tế. Những biện pháp can thiệp nhằm cải tiến an toàn người bệnh là những biện pháp giúp giảm tần suất các sự cố có thể ngăn ngừa được”(2). Khái niệm văn hóa an toàn người bệnh Theo AHRQ, “Văn hóa an toàn người bệnh của một tổ chức là sản phẩm của giá trị cá nhân và nhóm, thái độ, sự nhận thức, năng lực và mô hình hành vi để xác định sự cam kết, cũng như cách thức và trình độ quản lý sức khỏe và an toàn của một tổ chức. Tổ chức có nền văn hóa an toàn tích cực đặc trưng bởi sự thành lập của truyền thông dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau, bởi nhận thức chung về tầm quan trọng của an toàn và niềm tin vào sự hiệu quả của biện pháp phòng ngừa”(9).
Theo Cox và cộng sự, văn hóa ATNB là tập hợp những giá trị, thái độ, niềm tin, nhận thức về an toàn của mỗi nhân viên trong một bệnh viện (10). Một số khái niệm liên quan đến văn hóa an toàn người bệnh “Sự cố y khoa (adverse event): là tình huống không mong muốn xảy ra trong quá trình chẩn đoán, chăm sóc và điều trị do các yếu tố khách quan hoặc chủ quan mà không phải là diễn tiến bệnh lý hoặc cơ địa người bệnh, có tác động đến sức khỏe, tính mạng của người bệnh” (11). 5 “Tình huống có nguy cơ gây ra sự cố sự cố (sự cố tiềm ẩn, near-miss): các tình huống tương tự sự cố y khoa, nhưng chưa gây hậu quả, chưa gây tổn thương cho người bệnh do được phát hiện và ngăn chặn kịp thời” (11). Sự cố y khoa (SCYK) được phân loại theo mức độ tổn thương.
Dưới đây là bảng phân loại SCYK theo thông tư số 43/2018/TT-BYT ngày 26/12/2018 của Bộ trưởng Bộ Y tế. Phân loại sự cố y khoa theo mức độ tổn thương Phân nhóm Theo mức độ Theo tổn thương đến sức khỏe, diễn tính mạng Hình thức STT Mô tả sự cố y khoa biến người bệnh báo cáo (Cấp độ tình nguy cơ- huống NC) Tình huống có nguy cơ gây ra Chưa xảy 1 A sự cố (near miss) ra (NC0) Sự cố đã xảy ra, chưa tác 2 B động trực tiếp đến người bệnh Sự cố đã xảy ra tác động trực 3 tiếp đến người bệnh, chưa gây C Báo Tổn nguy hại. cáo tự thương Sự cố đã xảy ra tác động trực nguyện nhẹ (NC1) tiếp đến người bệnh, cần phải 4 theo dõi hoặc đã can thiệp D điều trị kịp thời nên không gây nguy hại 5 Sự cố đã xảy ra gây nguy hại E Tổn thương 6 tạm thời và cần phải can thiệp trung bình[2] điều trị (NC2) Sự cố đã xảy ra, gây nguy hại tạm thời, cần phải can thiệp 6 F điều trị và kéo dài thời gian nằm viện Sự cố đã xảy ra gây nguy hại 7 G kéo dài, để lại di chứng Tổn thương nặng (NC3) Sự cố đã xảy ra gây nguy hại Báo 8 H (kèm theo cần phải hồi sức tích cực bảng sự cố y cáo bắt khoa nghiêm buộc Sự cố đã xảy ra có ảnh hưởng trọng) 9 I hoặc trực tiếp gây tử vong 1. Một số công cụ đo lường văn hóa an toàn người bệnh Có 4 bộ câu hỏi đo lường văn hóa ATNB được đa số các bệnh viện của nhiều quốc gia sử dụng(12).
Đó là những bộ câu hỏi được liệt kê dưới đây: (1) Bộ câu hỏi HSOPSC (Hospital Survey of Patient Safety Culture) của Cơ quan nghiên cứu y tế và chất lượng Hoa Kỳ (AHRQ) xây dựng và phát triển(13). Bộ câu hỏi này có giá trị nội dung <0,7. Phân tích nhân tố khẳng định cho thấy mô hình 6 khía cạnh, độ phù hợp chỉ ở mức chấp nhận được (RMSEA = 0,1; CFI = 0,9. Phiên bản tiếng Đức cho thấy các chỉ số độ tin cậy nhất quán nội bộ từ trung bình đến mạnh (Cronbach alpha = 0,7 – 0,8).
(3) Bộ câu hỏi PSCHO (Patient Safety Culture in Healthcare Organizations Survey) của Singer S, Meterko M, Baker năm 2007. PSCHO với 45 câu hỏi được chia vào 4 khía cạnh: sự đóng góp của bệnh viện cho môi trường an toàn, đóng góp của khoa, phòng cho môi trường làm việc an toàn, đóng góp giữa các nhân viên y tế đối với môi trường an toàn và các khía cạnh khác của môi trường an toàn người bệnh (15). 7 (4) Bộ câu hỏi Modified Stanford Patient Safety Culture Survey Instrument (MSI) của Ginsburg L, Gilin D, Tregunno D năm 2009. Bộ câu hỏi MSI với 6 khía cạnh, bao gồm Hỗ trợ lãnh đạo cấp cao về an toàn, Phản ứng Sợ bị kỷ luật, mất việc hoặc mất chức, văn hóa học hỏi liên tục, Tác động của lỗi đối với danh tiếng của một người, Lãnh đạo giám sát vì sự an toàn, Quản lý theo dõi và phản hồi về các sự cố.
Khi đánh giá mô hình phân tích nhân tố khẳng định của bộ câu hỏi cho thấy độ phù hợp của mô hình khá tốt e (χ2 = 906,1, df = 137, p <0,01, CFI = 0,9, RMSEA = 0,3, relative χ2 = 6,6)(16). Trong tất cả các thang đo trên, chúng tôi thấy bộ câu hỏi HSOPSC của AHRQ là phù hợp nhất để sử dụng trong nghiên cứu này. Vì đây là bộ câu hỏi đã được Việt hóa.