Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về HIV/AIDS 1. Khái niệm HIV/AIDS HIV: Là một loại vi-rút gây suy giảm miễn dịch mắc phải ở người, có tên gọi tắt là HIV (Human Immunedefiency Virus), HIV thuộc nhóm vi-rút có tên Retroviridae. Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS): AIDS là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh "Acquired Immune Deficiency Syndrome" là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải do HIV gây ra, thường được biểu hiện thông qua các nhiễm trùng cơ hội, các ung thư và có thể dẫn đến tử vong [4],[5].
Các phương thức lây truyền Lây truyền theo tình dục: Đây là phương thức lây truyền HIV quan trọng và phổ biến trên thế giới. Lây truyền theo đường máu: Nguy cơ lây truyền HIV qua đường máu có tỷ lệ cao trên 90 %. HIV cũng có thể truyền qua khi sử dụng chung bơm kim tiêm bị nhiễm HIV mà không tiệt trùng cẩn thận, đặc biệt ở những người nghiện chích ma túy theo đường tĩnh mạch. Việc sử dụng các dụng cụ tiêm chích, chữa răng, phẫu thuật…trong các dịch vụ y tế mà không được tiệt trùng cẩn thận cũng có khả năng làm lây truyền HIV.
Lây truyền từ mẹ sang con: Thời kỳ chu sinh: Các nghiên cứu cho thấy rằng HIV được phân lập từ trong tế bào của bánh rau và máu của bào thai lúc 8 tuần tuổi, và HIV có thể phân lập được sau nhiều tuần sau đó. Sự lây truyền HIV có thể xảy ra trong lúc mang thai, trước trong một thời gian ngắn sau đẻ. Giai đoạn bú sữa mẹ: Có bằng chứng cho thấy rằng cho bú sữa mẹ có thể lây truyền HIV. Các nhà khoa học đã phân lập được HIV từ sữa của người mẹ nhiễm HIV.
Tuy nhiên việc nghiên cứu nguy cơ lây truyền qua sữa mẹ gặp nhiều khó 4 khăn. Bởi vì chúng ta không thể chẩn đoán trẻ nhiễm HIV lúc đẻ và khó có thể kết luận được đứa trẻ đó có nhiễm HIV khi còn trong bào thai, hay lúc sinh đẻ , hay qua bú sữa mẹ …[4]. Tình hình nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam Trường hợp nhiễm HIV đầu tiên phát hiện ở Việt Nam vào cuối tháng 12/1990 tại Thành phố Hồ Chí Minh, bùng phát năm 1993 tại ổ dịch tiêm chích ma túy của Thành phố sau đó lan sang các tỉnh trên toàn quốc. Trong năm 2015 cả nước xét nghiệm phát hiện mới 10.195 trường hợp nhiễm HIV, số bệnh nhân chuyển sang giai đoạn AIDS 6.130, số bệnh nhân tử vong 2.130 trường hợp.
Các tỉnh triển khai rà soát lại người nhiễm HIV, có thêm 5524 trường hợp HIV, 10.144 bệnh nhân AIDS và 13.254 người tử vong trong nhiều năm trước nay được báo cáo bổ sung. Tính đến cuối năm 2015, toàn quốc có 227.154 người nhiễm HIV đang còn sống với HIV được báo cáo, 85.194 người nhiễm HIV đang giai đoạn AIDS và đã có trên 86.716 người nhiễm HIV đã tử vong.154 người được báo hiện nay đang còn sống, nhưng có 24.717 người nhiễm HIV không xác định được trên thực tế, những người này có thể trùng với những người quản lý được nhưng thông tin cá nhân không chính xác nên không loại trừ được, hoặc sợ kỳ thị họ cung cấp thông tin không đúng cho nhân viên y tế, do đó số quản lý được theo dõi được ở các tỉnh chỉ có 202. Theo ước tính, cả nước hiện có khoảng 254.000 người nhiễm HIV trong cộng đồng, mỗi năm có khoảng 12.000 trường hợp mới nhiễm HIV, khoảng 80% người nhiễm HIV biết được tình trạng HIV của họ[13]. Tính đến hết tháng 9/2018, số người nhiễm HIV hiện được báo cáo đang còn sống là 208.750 trường hợp, lũy tích người nhiễm HIV tử vong được báo cáo là 98.519 trường hợp.
Ước tính số người nhiễm mới HIV trong năm 2018, có khoảng 5.500 người từ 15 tuổi nhiễm HIV và trẻ em nhiễm mới là 268 trẻ. Số người nhiễm mới là người lớn giảm 64% so với năm 2010 [13]. Số lượng người nhiễm HIV còn sống đang tập trung nhiều tại 10 tỉnh, thành 5 phố trên cả nước được sắp xếp theo thứ tự như sau: Thành phố Hồ Chí Minh là 54.705 người, Thủ đô Hà Nội là 21.316 người, tỉnh Thái Nguyên là 7.502 người, tỉnh Sơn La là 7.326 người, thành phố Hải Phòng là 7.282 người, tỉnh Nghệ An là 6.521 người, tỉnh Đồng Nai là 6.156 người, tỉnh Thanh Hóa là 5.493 người, tỉnh An Giang là 5.240 người và tỉnh Quảng Ninh là 5. Tỷ lệ người nhiễm HIV trên toàn quốc theo số báo cáo là 253 người trên 100.000 dân, tỉnh Điện Biên vẫn là địa phương có tỷ lệ nhiễm HIV trên 100.000 dân cao nhất cả nước (883 người), tiếp đến là thành phố Hồ Chí Minh (712 người), thứ 3 là tỉnh Thái Nguyên (652 người), tiếp đến là tỉnh Sơn La (646 người), tỉnh Lai Châu (535 người), tỉnh Yên Bái (470 người), tỉnh Bắc Kạn 641 (người), tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (459 người), tỉnh Quảng Ninh (444 người), thành phố Cần Thơ (419 người), [18]… Như vậy, có thể thấy HIV/AIDS xuất hiện hầu hết các tỉnh thành của nước ta với mật độ cao ở các thành phố lớn và thấp ở các tỉnh thành khác.
Tỷ lệ người nhiễm HIV/AIDS ở các tỉnh khác nhau có sự chệnh lệch lớn ở các thành phố lớn. Số lượng người nhiễm HIV có xu hướng giảm nhưng diễn biến dịch HIV/AIDS vẫn còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ lây nhiễm HIV cao trong cộng đồng. Chăm sóc, quản lý người bệnh nhiễm HIV/AIDS tại cộng đồng Chăm sóc và điều trị người nhiễm HIV/AIDS chính là thực hiện chiến lược làm giảm tác hại của đại dịch đối với từng cá nhân, gia đình và cộng đồng. Trong hơn thập kỷ qua, thế giới đã có nhiều tiến bộ trong lĩnh vực điều trị nhằm kéo dài cuộc sống người nhiễm HIV/AIDS.
Ở Việt Nam, người nhiễm HIV và bệnh nhân AIDS có xu hướng giảm, chưa đảm bảo tính bền vững vẫn tiềm ẩn nguy cơ bùng phát dịch. Do vậy, nhu cầu điều trị, chăm sóc và tư vấn cho người bị nhiễm HIV/AIDS rất quan trọng, tuy nhiên vấn đề này chưa được cung cấp kiến thức và kỹ năng chăm sóc HIV/AIDS một cách đầy đủ và đúng mức. Việc chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS tại cộng đồng rất quan trọng, giúp người bệnh nâng cao chất lượng cuộc sống, sống hòa nhập cộng đồng, phòng ngừa lây nhiễm HIV cho người 6 khác [12], [26]. Tổng quan kỳ thị, phân biệt đối xử liên quan HIV 1.
Định nghĩa, khái niệm kỳ thị, phân biệt đối xử Xuất phát điểm cho định nghĩa khái niệm kỳ thị và phân biệt đối xử là nghiên cứu của Erving Goffman (1963) về sự kỳ thị liên quan đến bệnh tâm thần, sự dị dạng của cơ thể và những gì được xem là các hình vi lệch chuẩn. Goffman mô tả kỳ thị như là “một thuộc tính hết sức cá nhân” và dẫn tới việc loại bỏ một người hoặc một nhóm người ra khỏi cộng đồng và những người bình thường, coi họ là một người hoặc một nhóm người vô dụng và “phế phẩm”. Tiếp tục mở rộng các kết quả nghiên cứu của Goffman, Link và Phelan (2001) mô tả kỳ thị như là một quá trình gồm có 3 bước riêng biệt: (i) Phân loại những người “phế phẩm” ra khỏi những người “bình thường” bằng cách phân biệt và dán nhãn; (ii) Liên hệ những sự khác biệt đó với những thuộc tính xấu; (iii) Tách “chúng ta” ra khỏi “chúng nó”. Parker và Aggleton (2003) cho rằng những người bị kỳ thị thường chấp nhận các chuẩn mực và giá trị mà gán cho họ những sự khác biệt xấu.
Kết quả là các cá nhân hoặc các nhóm bị kỳ thị có thể thừa nhận rằng họ “xứng đáng” bị đối xử một cách tồi tệ và bất công, khiến cho việc chống lại sự kỳ thị và phân biệt đối xử thậm chí còn khó hơn nữa. Tự kỳ thị được biểu hiện theo nhiều cách, bao gồm cả tự thù ghét bản thân, tự cô lập và sự xấu hổ [20]. Kỳ thị và các vấn đề y tế Bên cạnh việc thể hiện quyền lực, kỳ thị có thể là một phản ứng lại nỗi sợ hãi, rủi ro và những mối đe doạ của căn bệnh nan y tất yếu dẫn đến tử vong. Nếu dịch bệnh càng lan truyền nhanh chóng và càng không chắc chắn về phương thức mà dịch bệnh lây truyền thì sự kỳ thị càng nghiêm trọng hơn.
Những căn bệnh đe dọa các giá trị của cộng đồng chính là những căn bệnh gây ra sự kỳ thị. Sự kỳ thị liên quan đến các vấn đề y tế thường là trầm trọng nhất khi các vấn đề đó bị liên hệ với các hành vi lệch chuẩn hoặc khi nguyên nhân của các vấn đề đó được quy cho trách 7 nhiệm của cá nhân bị bệnh. Sự kỳ thị cũng càng được thể hiện rõ hơn khi tình trạng bệnh tật không thể được cải thiện, vô phương cứu chữa, bệnh trầm trọng, suy sụp dần dần và dẫn tới sự biến dạng về cơ thể hoặc một cái chết bất đắc kỳ tử [20]. Sự kỳ thị, phân biệt đối xử liên quan HIV/AIDS 1.
Định nghĩa sự kỳ thị, phân biệt đối xử liên quan HIV/AIDS HIV/AIDS có tất cả các đặc điểm của những căn bệnh dễ bị kỳ thị nhất. Căn bệnh này thường bị liên hệ với quan hệ tình dục sai trái và tiêm chích ma túy là những hành vi bị xã hội lên án và được coi là lỗi của cá nhân bị bệnh. AIDS là bệnh chuyển tiếp sau khi nhiễm HIV căn bệnh nan y, suy sụp, thường dẫn đến biến dạng và gắn liền với “một cái chết không mong muốn” do những bệnh khách gây nên. Mọi người thường có suy nghĩ sai lầm rằng bệnh này dễ lây lan qua tiếp xúc và là mối đe dọa cho cộng đồng.
Người dân nói chung và nhiều khi cả các nhân viên y tế, không được thông báo một cách đầy đủ và thiếu sự hiểu biết sâu về HIV và AIDS. Sự kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS được củng cố bởi nhiều yếu tố, chẳng hạn như thiếu hiểu biết về căn bệnh này (bao gồm quan niệm sai về phương thức lây truyền), thiếu tiếp cận điều trị, báo cáo phương tiện vô trách nhiệm, sự bất ổn của AIDS, định kiến và nỗi sợ hãi liên quan đến số vấn đề nhạy cảm xã hội (bao gồm cả tình dục, bệnh tật và tử vong, và sử dụng ma túy) [30]. Phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS không chỉ là vi phạm nhân quyền mà còn cần phải giải quyết sự phân biệt đối xử và kỳ thị đó để đạt được các mục tiêu y tế công cộng liên quan đến phòng chống HIV/AIDS [27].