CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm cơ bản 1. An toàn người bệnh - An toàn người bệnh: Theo WHO: “ATNB là sự phòng ngừa tối đa các vấn đề có thể gây nguy hại cho người bệnh liên quan đến SCYK trong quá trình điều trị và chăm sóc” (28). ATNB là áp dụng các cách thức, giải pháp an toàn nhằm xây dựng một hệ thống y tế đáng tin cậy (29).
Công tác chăm sóc sức khỏe trước tiên là không gây tổn hại cho người bệnh (30). Tuy vậy, bệnh viện lại là nơi tiềm ẩn nhiều nguy cơ và rủi ro tiềm tàng. Công tác chăm sóc sức khỏe là một hệ thống phức tạp đòi hỏi sự hợp tác của nhiều NVYT ngoài kỹ năng, kiến thức chuyên môn, hành vi, còn là sự liên lạc, hỗ trợ lẫn nhau của NVYT. Ngoài ra sự đa dạng trong thành phần NVYT, phân bổ nhiều khoa phòng, quy định/quy trình chồng chéo không thống nhất, các trang thiết bị-vật tư y tế hiện đại, kỹ thuật phức tạp tiềm ẩn nhiều nguy cơ ảnh hưởng ATNB.
Các thuật ngữ mô tả tác động lên người bệnh trong lĩnh vực ATNB, gồm có: - Sự cố y khoa: theo “Tài liệu đào tạo liên tục an toàn người bệnh”, sự cố y khoa là các tai biến/biến chứng xảy ra ngoài ý muốn, hậu quả làm cho việc điều trị kéo dài, tăng tỉ lệ mắc và tử vong của người bệnh (1). Sự cố y khoa được phân loại dựa trên mục đích phân loại. Dưới đây là một số cách phân loại: + Phân loại theo mức độ nguy hại của người bệnh gồm có: sự cố không nguy hại cho người bệnh và sự cố gây nguy hại cho người bệnh. + Phân loại theo theo tính chất nghiêm trọng của sự cố làm cơ sở để đo lường và đánh giá mức độ nguy hại cho người bệnh.
+ Phân loại dựa trên đặc điểm chuyên môn có 6 nhóm sự cố gồm: nhầm người bệnh; thiếu thông tin bàn giao; nhầm lẫn trong phẫu thuật; nhầm lẫn trong sử dụng thuốc; nhiễm trùng bệnh viện và té ngã (theo Hiệp hội ATNB Thế giới). 5 Nghiên cứu của Viện Y học Mỹ (Institute of Medicine) các nước phát triển như Úc, Anh, Canada. đã tiến hành nghiên cứu sự cố y khoa và đã công bố kết quả choáng ngợp về số ca tai biến điều trị, với tỉ lệ dao động trong khoảng 3,2-16,6% (3). Theo đó, SCYK ghi nhận tử vong trực tiếp liên quan tới phẫu thuật từ 0,4-0,8% và biến chứng do phẫu thuật từ 3-16%.
Theo Viện nghiên cứu Y học Mỹ và Úc gần 50% các sự cố y khoa không mong muốn liên quan đến người bệnh có phẫu thuật. Sự cố y khoa liên quan tới nhiễm khuẩn bệnh viện chiếm từ 5-15% người bệnh nội trú và tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện tại các khoa điều trị tích cực là 9-37%; Tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện chung tại Mỹ chiếm 4,5%. Năm 2002, theo ước tính của CDC tại Mỹ có 1,7 triệu người bệnh bị nhiễm khuẩn bệnh viện, trong đó 417946 người bệnh nhiễm khuẩn bệnh viện tại các khoa hồi sức tích cực (24,6%) (1). Sự cố y khoa ở các nước đang phát triển nói chung và tại Việt Nam nói riêng hiện chưa có số liệu công bố chính thức.
Tuy nhiên tỉ lệ tại các nước này chắc chắn sẽ cao hơn nhiều do những khó khăn về cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, cũng như nguồn nhân lực chưa đáp ứng được mong đợi do thiếu kỹ năng làm việc và tạo động lực thấp. Các yếu tố liên quan tới sự cố y khoa thường gặp gồm: yếu tố xuất phát do người hành nghề như thiếu tập trung khi thực hiện các công việc thường quy, kiến thức, kinh nghiệm nghề nghiệp hạn chế, mệt mỏi, tâm lý không ổn định hay sai sót chuyên môn do cắt xén hay làm tắt quy trình; yếu tố chuyên môn y tế bất định: bệnh tật của người bệnh diễn tiến, can thiệp nhiều thủ thuật, phẫu thuật trên người bệnh dẫn đến rủi ro và biến chứng bất khả kháng thay đổi, sử dụng thuốc, hóa chất đưa vào cơ thể dễ gây sốc phản vệ, phản ứng; yếu tố môi trường công việc có thể kể đến như tình trạng quá tải, thiếu nhân lực, thiếu phương tiện chăn sóc người bệnh…và yếu tố liên quan tới quản lý và điều hành cơ sở y tế như: quy trình khám chữa bệnh phức tạp, nhiều cá nhân tham gia hợp tác chưa tốt, đào tạo liên tục chưa tiến hành thường xuyên hay việc kiểm tra giám sát chưa đem lại hiệu quả (1). - Nguy cơ xảy ra sự cố: là sự cố có khả năng gây nguy hại cho người bệnh nhưng đã không xảy ra do may mắn có hành động sửa chữa hoặc can thiệp kịp thời (29). 6 - Sai sót: là thất bại trong việc thực hiện một hành động đã được lập kế hoạch dự kiến hoặc áp dụng kế hoạch sai hay có sự khác biệt giữa những gì làm được trong thực tế và những gì lẽ ra phải ra làm được.
Sai sót cũng được phân loại bao gồm sai sót chủ động là sai sót xảy ra trong quá trình trực tiếp chăm sóc người bệnh, sai sót tiềm ẩn liên quan đến các yếu tố của môi trường chăm sóc tạo điều kiện thuận lợi cho sai sót chủ động dễ xảy ra (1). - Sự cố không mong muốn: là sự cố liên quan đến y tế như chẩn đoán, điều trị, chăm sóc, sử dụng trang thiết bị y tế. Sự cố không mong muốn gây hậu quả cho người bệnh làm kéo dài ngày điều trị, để lại tổn thương vĩnh viễn, phải can thiệp cấp cứu và chết người (1). Văn hóa an toàn người bệnh Theo Hiệp hội ATNB quốc gia tại Mỹ (2001), VHATNB là văn hóa thể hiện năm thuộc tính ở mức cao mà NVYT nỗ lực đưa vào thao tác, thông qua việc triển khai thực hiện các hệ thống quản lý an toàn mạnh mẽ và được đánh giá qua 5 khía cạnh: quản lý, lãnh đạo; tăng cường trao đổi thông tin; sự tham gia của NVYT; học hỏi từ sai sót và văn hóa không buộc tội (31).
Xây dựng VHATNB trong đó tổ chức có cơ hội rút kinh nghiệm từ các báo cáo SCYK, mọi nhân viện được quyền nói và chỉ ra những nguy cơ, sai sót trong khoa mình, được tham gia sáng kiến cải tiến về ATNB, cách thức bệnh viện tổ chức học hỏi từ sai sót, và cải tiến từ sai sót nhằm đảm bảo công bằng, xem xét lỗi hệ thống trước khi kết luận lỗi cá nhân. Có thể nói BCSC là một phần không thể tách rời trong xây dựng VHATNB và ngược lại, một cơ sở xây dựng VHATNB tốt, sẽ thúc đẩy nhân viên BCSC, chủ động trong vai trò phòng ngừa sai sót. Hiện nay nhiều quốc gia đã đi tiên phong trong việc xây dựng VHATNB nhằm hỗ trợ người hành nghề, người quản lý các cơ sở y tế, người sử dụng dịch vụ y tế đưa ra các giải pháp hiệu quả nhằm hạn chế sự cố y khoa tới mức thấp nhất, trong đó việc thiết lập hệ thống báo cáo SCYK bắt buộc và tự nguyện đã trở thành một trong những giải pháp ưu tiên và cần tiếp cận trên quy mô toàn bộ hệ thống cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Ngoài ra, cần cải thiện môi trường làm việc của cán bộ y tế như tình trạng: (1) 7 người bệnh quá tải; (2) nhân lực thiếu dẫn đến thời gian khám và tiếp xúc với người bệnh ngắn; (3) thiếu phương tiện để chăm sóc đáp ứng nhu cầu người bệnh; (4) áp lực tâm lý do pháp lý bảo vệ người hành nghề còn bất cập.
Xây dựng VHATNB cần tập trung giải quyết lỗi hệ thống, Trong thực tế vấn đề SCYK hiện nay đã trở thành vấn đề y tế công cộng, không thể thành công nếu chỉ trông chờ vào sự khắc phục của các cá nhân người hành nghề mà toàn bộ hệ thống y tế, tất cả các nghề trong lĩnh vực y tế cần vào cuộc. Kinh nghiệm chỉ ra rằng, khi có một lỗi hoạt động xảy ra thường liên quan tới 3-4 lỗi hệ thống (1). Bộ công cụ khảo sát văn hóa an toàn người bệnh Để khảo sát VHATNB, trên Thế giới có nhiều Bộ công cụ được sử dụng có thể kể đến như: - Bộ công cụ SCORE (khảo sát an toàn, truyền thông, sự cam kết và đảm bảo hoạt động). - Bộ công cụ Patient Safety Culture in Healthcare Organisations (khảo sát VHATNB tại cơ sở y tế).
- Bộ công cụ Hospital Survey on Patient Safety Culture – HSOPSC (khảo sát VHATNB tại bệnh viện). - Khung đánh giá Manchester Patient Safety (đánh giá ATNB). - Bộ câu hỏi Safety Attitudes Questionare (đánh giá thái độ an toàn). - Khảo sát Victoria – VSCS (khảo sát môi trường an toàn).
- Khảo sát môi trường an toàn (SCSu). - Thang đo môi trường an toàn (SCSc). - Công cụ Stanford được sửa đổi (MSI). Trong đó bộ công cụ HSOPSC của AHRQ được nhiều quốc gia trên Thế giới sử dụng và chứng minh có phản ánh hiệu quả nhất về VHATNB (2).
Ở Việt Nam, bộ câu hỏi HSOPSC đã được Việt hóa và đánh giá tính tin cậy thông qua nghiên cứu của tác giả Tăng Chí Thượng và cộng sự năm 2016 (11). Bộ câu hỏi khảo sát VHATNB của AHRQ phiên bản tiếng Việt bao gồm 42 câu hỏi, đánh giá 12 lĩnh vực VHATNB: - Làm việc ekip trong khoa, 8 - Quan điểm và hành động của người quản lý về ATNB, - Cải tiến liên tục-học tập một cách hệ thống, - Hỗ trợ của LĐBV cho ATNB, - Quan điểm tổng quát về ATNB, - Trao đổi cởi mở, - Thông báo phản hồi sai sót, - Tần suất sự cố được ghi nhận, - Làm việc ekip giữa các khoa, - Nhân lực, - Bàn giao và chuyển người bệnh, - Không trừng phạt khi có SCYK, Và 2 tiểu mục đầu ra: - Số lượng BCSC: số BCSC trong vòng 12 tháng. - Mức độ ATNB: đánh giá mức độ ATNB của khoa phòng. Bộ công cụ HSOPSC và phương pháp nghiên cứu của AHRQ được hơn 60 quốc gia trên Thế giới sử dụng và trong nghiên cứu này chúng tôi cũng sử dụng bộ công cụ HSOPSC vì các lý do sau: - Được nhiều bệnh viện trong nước sử dụng tiến hành khảo sát.
- Được thiết kế sử dụng khảo sát cả khối Lâm sàng, CLS và khối hành chính, hỗ trợ. - Được nhiều quốc gia Thế giới tin dùng và chứng minh độ tin cậy. - Có sẵn phiên bản Tiếng Việt được Sở Y tế Thành Phố Hồ Chí Minh chuẩn hóa và cấp phép sử dụng bởi AHRQ. Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh trên Thế giới và Việt Nam 1.