Tổng quan nghiên cứu

Công tác điều dưỡng giữ vai trò huyết mạch trong hệ thống y tế khi đảm nhận tới 80% khối lượng công việc phục vụ và chăm sóc người bệnh nội trú tại các cơ sở khám chữa bệnh. Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương là cơ sở chuyên khoa đầu ngành của cả nước với quy mô 470 giường bệnh được giao, bao gồm 320 giường nội trú và 150 giường điều trị ban ngày. Báo cáo tổng kết năm 2010 của bệnh viện ghi nhận hơn 81.000 lượt khám ngoại trú, trên 6.500 lượt bệnh nhân điều trị nội trú cùng 1.200 ca phẫu thuật. Với đặc thù điều trị các bệnh lý mãn tính đòi hỏi thời gian nằm viện kéo dài, nhu cầu chăm sóc toàn diện về cả thể chất lẫn tinh thần theo tinh thần Thông tư 07/2011/TT-BYT của Bộ Y tế trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

Tuy nhiên, nguồn nhân lực điều dưỡng tại bệnh viện còn nhiều bất cập về số lượng và cơ cấu trình độ. Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý bệnh viện đã tiến hành nghiên cứu với hai mục tiêu trọng tâm: Đánh giá thực trạng công tác chăm sóc người bệnh của điều dưỡng qua nhận xét của người bệnh điều trị nội trú tại Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương vào tháng 6 năm 2011; đồng thời xác định các yếu tố nhân khẩu học, lâm sàng và quản lý tác động đến chất lượng dịch vụ chăm sóc. Nghiên cứu được triển khai trên 266 người bệnh nội trú tại 8 khoa lâm sàng trong giai đoạn từ tháng 3 đến tháng 9 năm 2011. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp bằng chứng khoa học giúp tối ưu hóa định mức nhân lực từ tỷ lệ bác sĩ/điều dưỡng thực tế là 1/1,52 tiệm cận chuẩn quy định 1/3,0 đến 1/3,5 theo Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BYT-BNV, qua đó nâng cao chất lượng điều trị và uy tín thương hiệu của bệnh viện.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên các học thuyết kinh điển của ngành điều dưỡng thế giới. Nền tảng đầu tiên là mô hình môi trường và chăm sóc cơ bản của Florence Nightingale (1860), khẳng định vai trò tối thượng của điều dưỡng trong việc đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu và tạo lập môi trường hồi phục thuận lợi. Tiếp đó, nghiên cứu vận dụng học thuyết 14 nhu cầu cơ bản của con người do Virginia Henderson khởi xướng, bao gồm hỗ trợ hô hấp, dinh dưỡng, bài tiết, vận động, vệ sinh thân thể, giao tiếp và giải tỏa tâm lý. Ngoài ra, học thuyết hệ thống hành vi của Dorothy E. Johnson (1980) và lý thuyết tương tác cá nhân của Hildegard Peplau được tích hợp nhằm phân tích các tác động giảm căng thẳng tâm lý trong quá trình nằm viện.

Khung lý thuyết của đề tài tập trung vào 4 khái niệm cốt lõi: Chăm sóc điều dưỡng toàn diện (Nursing care), vai trò chức năng đa nhiệm của người điều dưỡng (gồm 5 vai trò: người chăm sóc, người truyền đạt thông tin, người giáo viên, người tư vấn và người biện hộ cho bệnh nhân), đạo đức nghề nghiệp y đức, và các chuẩn mực chuyên môn quy định trong Thông tư 07/2011/TT-BYT. Hệ thống khái niệm này làm tiền đề thiết lập 6 nhóm chỉ báo đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của điều dưỡng viên lâm sàng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang có phân tích, tích hợp phương pháp định lượng và định tính nhằm đảm bảo tính khách quan và chiều sâu thông tin:

  • Dữ liệu định lượng: Thu thập qua bộ câu hỏi cấu trúc phát vấn trực tiếp cho cỡ mẫu gồm 266 người bệnh nội trú đang điều trị từ 3 ngày trở lên tại 8 khoa lâm sàng (Điều trị tăng cường, Nội, Ngoại, Lão, Dưỡng sinh châm cứu, Nội Nhi, Phụ, Da liễu) vào tuần cuối tháng 6 năm 2011. Phương pháp chọn mẫu thuận tiện toàn bộ được áp dụng cho các bệnh nhân đủ tiêu chuẩn, loại trừ người bệnh dưới 18 tuổi, người bệnh hôn mê, không biết chữ hoặc là thân nhân nhân viên y tế.
  • Dữ liệu định tính: Chọn mẫu có chủ đích kết hợp bốc thăm ngẫu nhiên 3 khoa lâm sàng đại diện để thực hiện 9 cuộc phỏng vấn sâu với 3 lãnh đạo khoa, 3 điều dưỡng trưởng và 3 điều dưỡng viên trực tiếp chăm sóc.
  • Phương pháp phân tích: Số liệu được làm sạch, nhập liệu 2 lần độc lập trên phần mềm EpiData 3.1 nhằm loại bỏ sai số. Dữ liệu được xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS 16.0. Các thuật toán kiểm định Chi-square (χ²), xác định tỷ suất chênh (Odds Ratio - OR) với khoảng tin cậy 95% (95% CI) và mức ý nghĩa thống kê p < 0,05 được sử dụng để lượng hóa mối quan hệ giữa đặc điểm người bệnh và mức độ hài lòng đối với dịch vụ chăm sóc điều dưỡng trong mốc thời gian nghiên cứu từ tháng 3/2011 đến tháng 9/2011.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát trên 266 người bệnh (độ tuổi trung bình 54 tuổi; nữ giới chiếm 60,9%, nam giới chiếm 39,1%; 42,1% từ 60 tuổi trở lên; 50% đến từ các tỉnh ngoài Hà Nội) ghi nhận bức tranh toàn diện về công tác chăm sóc điều dưỡng:

  • Khâu hỗ trợ điều trị và phối hợp y lệnh đạt tỷ lệ đánh giá cao nhất với 84,2% người bệnh xếp loại đạt. Trong đó, công tác phát thuốc đúng giờ và hướng dẫn sử dụng thuốc đạt tỷ lệ xuất sắc 93,2%; hướng dẫn chuẩn bị trước phẫu thuật đạt 85,8%; công khai tên thuốc và liều lượng đạt 76,7%. Tuy nhiên, tỷ lệ bệnh nhân được uống thuốc trực tiếp dưới sự giám sát của điều dưỡng chỉ đạt 58,3%.
  • Công tác theo dõi, đánh giá người bệnh và tiếp đón ban đầu đạt kết quả tích cực. Hoạt động theo dõi diễn biến đạt 80,5% (trong đó đo mạch, nhiệt độ, huyết áp hàng ngày đạt 82,0%; xử trí kịp thời các tình huống bất thường đạt 81,2%). Công tác tiếp đón người bệnh đạt 78,9%, với 89,1% người bệnh ghi nhận thái độ đón tiếp chu đáo khi nhập viện.
  • Chăm sóc hỗ trợ sinh hoạt và can thiệp tâm lý còn nhiều khoảng trống. Hỗ trợ tâm lý, tinh thần chỉ đạt mức 66,2%. Chăm sóc dinh dưỡng chỉ đạt 55,6%, trong đó chỉ 55,3% người bệnh được hướng dẫn chế độ ăn theo bệnh lý hàng ngày. Đối với người bệnh nặng phải ăn qua ống sonde, người nhà bệnh nhân phải tự thực hiện chiếm tới 55,6%, trong khi điều dưỡng trực tiếp cho ăn chỉ chiếm 25,4%. Công tác hỗ trợ vệ sinh cá nhân cho bệnh nhân nặng cấp I do người nhà gánh vác lên tới 86,3%, hộ lý hỗ trợ 7,8% và điều dưỡng trực tiếp chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ.
  • Tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe (GDSK) là mắt xích yếu nhất khi chỉ đạt 49,6% (tỷ lệ chưa đạt chiếm 50,4%). Tỷ lệ hướng dẫn chế độ ăn uống khi xuất viện chỉ đạt 45,5%; hướng dẫn phương pháp tập luyện phục hồi chức năng tại nhà đạt 45,9%; và hướng dẫn tự phòng bệnh tái phát chỉ đạt 49,6%.

Thảo luận kết quả

Sự phân hóa rõ rệt giữa các mảng chuyên môn kỹ thuật (đạt trên 80%) và kỹ năng tư vấn, chăm sóc cơ bản (chỉ đạt 49,6% đến 66,2%) phản ánh thực trạng quá tải và cơ cấu nhân lực bất cập. Tỷ lệ bác sĩ/điều dưỡng tại các khoa lâm sàng chỉ đạt 1/1,52 (toàn viện có 70 điều dưỡng phục vụ 46 bác sĩ trên 335 giường bệnh thực kê), tạo ra áp lực chăm sóc trung bình 5,3 người bệnh/điều dưỡng. Con số này thấp hơn đáng kể so với định mức 1/3,0 đến 1/3,5 theo Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BYT-BNV. Đội ngũ 116 điều dưỡng toàn viện chỉ có 12 cử nhân trình độ cao đẳng và đại học (chiếm khoảng 10,3%), dẫn đến tính chủ động trong lập kế hoạch chăm sóc độc lập còn hạn chế, phụ thuộc nặng nề vào y lệnh điều trị.

Phân tích hồi quy đơn biến và đa biến chỉ ra các yếu tố nguy cơ có ý nghĩa thống kê: Bệnh nhân nam có mức độ đánh giá chưa đạt về khâu tiếp đón cao gấp 1,93 lần so với nữ giới (OR=1,93; p=0,029; 95% CI: 1,06-3,5). Bệnh nhân đến từ tỉnh ngoài đánh giá hỗ trợ tâm lý chưa đạt cao gấp 1,98 lần bệnh nhân nội thành (p=0,03). Đặc biệt, bệnh nhân điều trị nội khoa đánh giá khâu hỗ trợ tâm lý chưa đạt cao gấp 7,45 lần so với bệnh nhân ngoại khoa (OR=7,45; p<0,001; 95% CI: 2,23-24,95) do tính chất bệnh mãn tính kéo dài. Người bệnh nằm viện lần đầu có nguy cơ đánh giá công tác giáo dục sức khỏe chưa đạt cao gấp 5,23 lần nhóm nằm viện từ 3 lần trở lên (OR=5,23; p=0,005; 95% CI: 1,46-18,74).

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Điều (2007) tại Viện Chấn thương - Chỉnh hình Quân đội 108 khi kỹ thuật theo dõi đạt trên 95% nhưng hướng dẫn tự chăm sóc chỉ đạt 77,5%, hay nghiên cứu của Nguyễn Bích Lưu (2001) tại Thái Lan với 59,4% bệnh nhân hài lòng cao. Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan thông qua bảng đối chiếu ma trận tương quan chỉ số Odds Ratio và biểu đồ cột phân tầng thể hiện mức độ đáp ứng 6 nhóm nhiệm vụ chăm sóc theo chuẩn Thông tư 07/2011/TT-BYT.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các phát hiện thực chứng, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp chiến lược mang tính hành động cao:

  • Tối ưu hóa cơ cấu và bổ sung định mức biên chế điều dưỡng: Ban Giám đốc cùng Phòng Tổ chức cán bộ cần xây dựng đề án tuyển dụng bổ sung nhân sự, từng bước nâng tỷ lệ bác sĩ/điều dưỡng từ mức 1/1,52 lên tối thiểu 1/2,5 trong giai đoạn 2012-2013 và đạt mức chuẩn 1/3,0 vào năm 2015 theo Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BYT-BNV. Mục tiêu hạ tỷ lệ phục vụ xuống dưới 3,5 bệnh nhân/điều dưỡng trong mỗi ca trực lâm sàng.
  • Đổi mới chương trình đào tạo liên tục và chuẩn hóa kỹ năng mềm: Hội đồng Điều dưỡng chủ trì thiết kế các khóa tập huấn bắt buộc về kỹ năng giao tiếp, tâm lý tiếp xúc, tư vấn giáo dục sức khỏe và kỹ thuật cho ăn qua ống thông cho 100% điều dưỡng viên lâm sàng. Đặt mục tiêu nâng tỷ lệ người bệnh đánh giá đạt công tác tư vấn giáo dục sức khỏe từ 49,6% lên trên 75% và chăm sóc dinh dưỡng lên trên 80% sau 12 tháng triển khai.
  • Cải tiến quy trình hành chính và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin: Phòng Điều dưỡng phối hợp với bộ phận Công nghệ thông tin hoàn thiện phần mềm quản lý hồ sơ bệnh án điện tử, bãi bỏ quy trình ghi chép sổ sách thủ công trùng lặp. Giải pháp này giúp cắt giảm ít nhất 30% thời gian làm thủ tục hành chính, cho phép điều dưỡng viên dành 70% thời lượng làm việc để chăm sóc trực tiếp tại giường bệnh.
  • Tăng cường kiểm tra, giám sát chuyên môn và xây dựng chế tài thi đua: Thiết lập cơ chế kiểm tra định kỳ hàng tuần và kiểm tra đột xuất tại các buồng bệnh, đặc biệt tập trung vào quy trình giám sát uống thuốc tận tay và kỹ thuật vệ sinh người bệnh nặng cấp I. Phòng Điều dưỡng đưa kết quả đánh giá sự hài lòng của người bệnh vào tiêu chí xếp loại thi đua hàng tháng, áp dụng cơ chế thưởng phạt minh bạch nhằm thúc đẩy tinh thần tự giác nghề nghiệp.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho nhiều nhóm độc giả trong hệ thống y tế:

  • Lãnh đạo bệnh viện và Trưởng phòng Điều dưỡng: Cung cấp khung phương pháp luận và các chỉ số đo lường thực tế để rà soát, tái cấu trúc quy trình chăm sóc người bệnh toàn diện theo đúng tiêu chí Thông tư 07/2011/TT-BYT.
  • Điều dưỡng trưởng khoa và Điều dưỡng viên trực tiếp chăm sóc: Nắm bắt các điểm nghẽn trong giao tiếp, tư vấn giáo dục sức khỏe và hỗ trợ dinh dưỡng qua góc nhìn của 266 người bệnh, từ đó chủ động cải thiện kỹ năng thực hành hàng ngày.
  • Giảng viên, Học viên cao học chuyên ngành Quản lý bệnh viện và Y tế công cộng: Sử dụng làm tài liệu tham khảo chuẩn mực về mô hình nghiên cứu kết hợp định lượng và định tính, quy trình xử lý dữ liệu dịch tễ học lâm sàng bằng phần mềm EpiData 3.1 và SPSS 16.0.
  • Các nhà hoạch định chính sách y tế và Chuyên gia quản lý chất lượng: Khai thác bức tranh thực tế về tỷ lệ nhân lực 1/1,52 để hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về định mức lao động và tiêu chuẩn kiểm định chất lượng bệnh viện tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

  • Tỷ lệ nhân lực điều dưỡng tại Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương năm 2011 đạt mức bao nhiêu? Theo số liệu nghiên cứu, tỷ lệ bác sĩ/điều dưỡng tại các khoa lâm sàng chỉ đạt 1/1,52, tương ứng 70 điều dưỡng phục vụ 46 bác sĩ trên 335 giường bệnh thực kê (trung bình 5,3 bệnh nhân/điều dưỡng). Tỷ lệ này chưa đạt yêu cầu từ 1/3,0 đến 1/3,5 theo Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BYT-BNV.

  • Nội dung chăm sóc nào được người bệnh đánh giá cao nhất và thấp nhất trong nghiên cứu? Nội dung đạt điểm đánh giá cao nhất là hỗ trợ điều trị và phối hợp thực hiện y lệnh của bác sĩ với 84,2% người bệnh xếp loại đạt. Ngược lại, nội dung đạt tỷ lệ thấp nhất là tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe cho người bệnh với chỉ 49,6% đánh giá đạt.

  • Yếu tố nào làm tăng nguy cơ bệnh nhân đánh giá chưa đạt về khâu chăm sóc tâm lý tinh thần? Phân tích thống kê cho thấy người bệnh điều trị nội khoa có mức độ đánh giá chăm sóc tâm lý chưa đạt cao gấp 7,45 lần so với bệnh nhân ngoại khoa (OR=7,45; p<0,001; 95% CI: 2,23-24,95). Đồng thời, người bệnh đến từ tỉnh ngoài có nguy cơ đánh giá chưa đạt cao gấp 1,98 lần nhóm bệnh nhân nội thành.

  • Thực trạng điều dưỡng hỗ trợ dinh dưỡng và cho bệnh nhân nặng ăn qua ống thông diễn ra như thế nào? Công tác chăm sóc dinh dưỡng chỉ đạt 55,6%. Đáng chú ý, đối với các bệnh nhân nặng có chỉ định ăn qua ống sonde, người trực tiếp cho ăn chủ yếu là người nhà bệnh nhân (chiếm 55,6%), trong khi điều dưỡng viên trực tiếp thực hiện chỉ chiếm 25,4%.

  • Phương pháp chọn mẫu và công cụ thống kê nào được sử dụng trong luận văn? Luận văn tiến hành khảo sát định lượng trên 266 bệnh nhân nội trú từ 3 ngày trở lên bằng phiếu phát vấn cấu trúc, kết hợp phỏng vấn sâu 9 cán bộ y tế tại 3 khoa lâm sàng. Dữ liệu được nhập kép qua EpiData 3.1 và xử lý trên phần mềm SPSS 16.0 với các kiểm định Chi-square, xác định tỷ suất chênh OR ở độ tin cậy 95%.

Kết luận

  • Luận văn cung cấp bằng chứng thực nghiệm toàn diện trên 266 bệnh nhân nội trú, chỉ ra điểm sáng trong công tác hỗ trợ điều trị (84,2%) và theo dõi người bệnh (80,5%).
  • Xác định rõ khoảng trống chuyên môn trong tư vấn giáo dục sức khỏe (chỉ đạt 49,6%) và chăm sóc dinh dưỡng (chỉ đạt 55,6%), cho thấy thói quen phó thác việc chăm sóc cơ bản cho người nhà người bệnh.
  • Khẳng định nguyên nhân cốt lõi bắt nguồn từ sự thiếu hụt nhân lực với tỷ lệ bác sĩ/điều dưỡng 1/1,52 và tỷ lệ cử nhân cao đẳng, đại học chỉ chiếm khoảng 10,3% tổng số 116 điều dưỡng.
  • Mô hình phân tích thống kê đã chứng minh mối liên hệ chặt chẽ giữa các biến số giới tính, nơi cư trú, hình thức điều trị nội khoa và số lần nằm viện đối với mức độ hài lòng của người bệnh.
  • Lộ trình cải tiến chất lượng chăm sóc cần được thực hiện ngay trong giai đoạn 2012-2015 thông qua việc tuyển dụng đạt chuẩn 1/3,0, đào tạo lại 100% nhân sự và số hóa quy trình hành chính.

Quý bạn đọc, nhà quản lý y tế và các nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác toàn văn công trình nghiên cứu để áp dụng các mô hình cải tiến chất lượng dịch vụ điều dưỡng tại cơ sở y tế của mình.