ĐẶT VẤN ĐỀ Viêm loét dạ dày- tá tràng là bệnh thường gặp ở nước ta và trên thế giới. Theo Hội khoa học Tiêu hóa, tại Việt Nam, có tới (26%) dân số mắc bệnh viêm loét dạ dày tá tràng, (70%) dân số nước ta có nguy cơ mắc bệnh dạ dày, nguy cơ mắc viêm loét dạ dày ở nam giới gấp 4 lần so với nữ. Loét dạ dày tá tràng có xuất huyết gặp ở lứa tuổi (50 ± 18,11) tuổi, tỉ lệ này xuất hiện tăng dần theo tuổi [11]. Con số người bị bệnh viêm loét dạ dày tá tràng ngày càng tăng lên cùng với sự đô thị hóa và sự thay đổi lối sống, cũng như những yếu tố về xã hội khác.
Viêm loét dạ dày tá tràng kéo dài hoặc tái phát nhiều lần sẽ ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của người bệnh, thậm chí dẫn tới các biến chứng nguy hiểm như xuất huyết tiết hóa, hẹp môn vị hay ung thư dạ dày. Trong đó biến chứng xuất huyết tiêu hóa là hay gặp nhất [19]. Để làm giảm sự gia tăng về bệnh viêm loét dạ dày tá tràng thì việc dự phòng bằng giáo dục sức khỏe có vai trò quan trọng hơn cả. Hoạt động cung cấp cho người dân kiến thức, kỹ năng để phòng ngừa bệnh tật, bảo vệ sức khỏe cho chính họ và cộng đồng xung quanh chính là hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe (GDSK).
Trong mười nội dung về chăm sóc sức khỏe ban đầu tại Việt Nam thì nội dung GDSK được xếp hàng đầu, điều này cho chúng ta thấy vai trò của GDSK rất quan trọng. Một trong các khuyến nghị JCI (Joint Commission International for the hospital quality certification) - ( Tổ chức giám định chất lượng bệnh viện của Mỹ) công nhận cho các bệnh viện năm 2014 là bệnh viện phải hướng dẫn, GDSK, hỗ trợ người bệnh và gia đình họ tham gia vào các quyết định chăm sóc [2]. Như vậy GDSK có vai trò lớn trong việc nhìn nhận, xem xét về chất lượng của bệnh viện. Mặc dù GDSK là một trong những nhiệm vụ quan trọng của người Điều dưỡng nhưng hoạt động này chưa tiến hành một cách thường xuyên và bài bản ở Việt nam nói chung và ở Thành phố Cần Thơ nói riêng.
Trong khi đội ngũ những người điều dưỡng được công nhận là một trong các trụ cột của hệ thống y tế, là người có thời gian gần gũi, chăm sóc, tiếp xúc nhiều nhất và rất hiểu về người bệnh. Tăng cường công tác GDSK của điều dưỡng là một yêu cầu quan trọng trong chăm sóc toàn diện và nâng cao chất lượng chăm sóc y tế. Lối sống và những thói quen không lành mạnh, thất bại trong đối phó với các căng thẳng tinh thần đã được chứng minh làm tăng nguy cơ xuất hiện loét và gây tái Thư viện ĐH Thăng Long 2 phát loét[8],[11]. Việc thay đổi lối sống và những thói qen hướng tới có lợi cho sức khỏe giúp phòng tái phát bệnh là một quá trình lâu dài.
Để người bệnh thay đổi được lối sống hướng tới những hành vi có lợi cho xức khỏe và phòng tái phát loét, trước hết cần làm cho người bệnh tiếp thu được những kiến thức đúng và đầy đủ liên quan đến bệnh viêm loét dạ day tá tràng và phòng loét tái phát. Để có căn cứ khách quan và khoa học về thực trạng kiến thức của người bệnh cũng như gián tiếp phản ánh công tác tư vấn, giáo dục sức khỏe của người điều dưỡng, từ đó đề xuất giải pháp nhằm tăng cường chất lượng và hiệu quả việc GDSK cho người bệnh, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Thay đổi kiến thức về bệnh viêm loét dạ dày tá tràng của người bệnh sau giáo dục và tư vấn sức khỏe tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ năm 2023”. Đề tài được thực hiện với hai mục tiêu sau: 1. Mô tả kiến thức về bệnh viêm loét dạ dày tá tràng của người bệnh tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ năm 2023.
Đánh giá sự thay đổi kiến thức của người bệnh sau can thiệp giáo dục và tư vấn sức khỏe. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Bệnh viêm loét dạ dày tá tràng 1. Định nghĩa - Loét dạ dày - tá tràng là tình trạng có sự hiện diện của tổn thương loét trên niêm mạc dạ dày hoặc tá tràng.
Bệnh được chia làm 2 loại: tiên phát và thứ phát [14], [15], [37], trong đó, hay gặp nhất là loét dạ dày thứ phát, do các tác nhân gây ảnh hưởng cấp tính đến niêm mạc dạ dày [24]. - Loét dạ dày, tá tràng là thuật ngữ để chỉ chung tình trạng bệnh lý có ổ loét ở dạ dày hoặc ở tá tràng hoặc cả hai. Trên lâm sàng biểu hiện bằng những cơn đau vùng thượng vị, xuất hiện từ 2-3 giờ hoặc 4-5 giờ sau khi ăn và kéo dài trong 2-3 giờ liền. Cơn đau có từng đợt 15-20 ngày hoặc dài hơn, sau đó dịu dần và biến mất trong thời gian khá dài (có thể 2-3 tháng hoặc 6 tháng) và sau đó lại tái diễn với mức độ nặng hơn [1], [15], [25], [43].
Hình ảnh viêm loét dạ dày tá tràng Thư viện ĐH Thăng Long 4 1. Nguyên nhân Hình 1. Nguyên nhân gây đau dạ dày Vi khuẩn Helicobacter pylori và do tình trạng tăng tiết a-xít: - Vi khuẩn HP (Helicobacter Pylori) là một loại vi khuẩn sinh sống và phát triển trong dạ dày người. Ở môi trường acid như dạ dày, vi khuẩn HP tồn tại bằng cách tiết ra enzyme Urease giúp nó trung hòa acid trong dạ dày [15], [17].
Lây nhiễm trực khuẩn môn vị là một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra viêm loét đường ruột. Đây là loại xoắn khuẩn, sống trên lớp nhầy niêm mạc dạ dày và gây ra bệnh này. Trong số những người bị viêm loét dạ dày thì tỉ lệ do vi khuẩn này gây ra tới 70-90% [16], [19]. Cơ chế: - Tác động của nhiễm H.
pylori rất khác nhau và phụ thuộc vị trí nhiễm trong dạ dày. - Nhiễm HP chủ yếu ở vùng hang vị dẫn đến tăng sản sinh gastrin, có thể là do giảm giải phóng somatostatin cục bộ. Hậu quả của tăng tiết axit dẫn đến loét tiền môn vị và loét tá tràng [24], [25]. - Nhiễm trùng chiếm ưu thế ở phần thân dạ dày dẫn đến teo niêm mạc dạ dày và giảm quá trình sản sinh axit, có thể là thông qua tăng sản sinh IL-1β cục bộ.
Bệnh nhân bị nhiễm chủ yếu ở thân vị có khuynh hướng bị loét dạ dày và ung thư biểu mô tuyến dạ dày [26], [27]. - Một số bệnh nhân có nhiễm trùng cả vùng hang và thân vị với bệnh cảnh lâm sàng khác nhau. Nhiều bệnh nhân nhiễm H. pylori không thấy có triệu chứng lâm sàng.
pylori sản sinh ra cho phép vi khuẩn tồn tại trong môi trường axit ở dạ dày và có thể ăn mòn hàng rào chất nhầy. Cytotoxin và enzyme ly giải chất nhầy (ví dụ: protease của vi khuẩn, lipase) do H. pylori sản sinh ra có thể đóng vai trò gây ra tổn thương niêm mạc và hình thành loét sau đó [25]. - Những người bị nhiễm có khả năng bị ung thư dạ dày gấp 3 đến 6 lần.
pylori có liên quan đến ung thư biểu mô tuyến dạ dày thể ruột ở phần thân vị và hang vị nhưng không liên quan đến ung thư tâm vị. Các loại ung thư khác có liên quan bao gồm u lympho ở dạ dày và u lympho mô bạch huyết liên quan đến niêm mạc (MALT), một loại u tế bào B giới hạn đơn dòng [26], [27]. Triệu chứng: - Hầu hết những người bị nhiễm H. pylori không có bất kỳ triệu chứng nào.
Tuy nhiên, khi nhiễm trùng dẫn đến loét dạ dày hoặc tá tràng, một số triệu chứng sau có thể xuất hiện: Đau hoặc khó chịu (thường ở bụng trên), phình hoặc trướng bụng, cảm thấy no sau khi ăn một lượng nhỏ thức ăn, chán ăn, buồn nôn hoặc nôn, phân sẫm màu hoặc màu hắc ín, vết loét chảy máu có thể gây thiếu máu và mệt mỏi [33], [35], [40]. - Ít phổ biến hơn, viêm dạ dày mãn tính gây ra những thay đổi bất thường ở niêm mạc dạ dày, có thể dẫn đến một số dạng ung thư. Mặc dù tỷ lệ phát triển ung thư do nhiễm H.pylori không cao, nhưng do nhiễm H.pylori là tình trạng phổ biến nên nó vẫn được xem là yếu tố nguy cơ quan trọng gây ra ung thư dạ dày. - Những người sống ở các quốc gia nhiễm H.
pylori khi còn nhỏ có nguy cơ mắc ung thư dạ dày cao nhất [42], [48], [49], [53]. Thói quen sinh hoạt: - Thức khuya [1], [7], [25], [39]. Thức khuya dễ gây cảm giác mệt mỏi, ăn đêm là sự tiếp sức H.pylori phát triển, nhưng sau khi ăn đêm, sẽ gây nguy cơ cho dạ dày. Sức sống của những tế bào trên niêm mạc dạ dày không dài, bình quân khoảng 2-3 ngày lại đổi mới một lần.
Trong quá trình này, thường là diễn ra vào ban đêm khi đường tiêu hóa được nghỉ ngơi. Nếu như thường xuyên ăn vào ban đêm, khiến cho đường tiêu hóa không được nghỉ ngơi, nên việc tái sinh tế bào niêm mạc dạ dày không thể diễn ra một cách thuận lợi, mà Thư viện ĐH Thăng Long 6 trong khi ngủ, những thức ăn ứ lại ở dạ dày trong thời gian dài, khiến cho dung dịch dạ dày tiết ra nhiều, sẽ kích thích niêm mạc, lâu ngày, dễ dẫn đến viêm loét dạ dày. - Ăn uống thất thường, không đúng giờ [1], [20], [36], [47]. + Ăn nhiều lipit, ăn uống thiếu dinh dưỡng trong một thời gian dài.
+ Thói quen ăn uống quá nhanh, không nhai kỹ, vừa ăn xong đã làm việc nặng hoặc chơi thể thao ngay. + Giờ giấc ăn ngủ thất thường: ăn trái bữa thường xuyên, thói quen ăn khuya, mức độ ăn uống không cân bằng, lúc thì ăn quá no, lúc lại nhịn đói. + Ăn đồ ăn quá cay, quá nóng, quá chua hay thức ăn cứng cũng ảnh hưởng rất không tốt đến hoạt động của dạ dày. Thường xuyên ăn các đồ ăn chua cay vào buổi tối hoặc ăn liên tục trong một thời gian có thể bị viêm dạ dày, trong một thời gian không xa còn có thể bị loét dạ dày.
+ No đói không đều: Khi đói, axit hydrochloric và các chất xúc tác trong dạ dày ở nồng độ khá cao dẫn tới tình trạng tự tiêu hóa niêm mạc. Khi ăn quá no lại dễ làm tổn thương cơ chế tự bảo vệ của dạ dày vì vỏ dạ dày nở to, thời gian thức ăn lưu lại trong dạ dày lâu. Khi ăn uống thất thường, không đúng bữa, không được nghỉ ngơi, bệnh sẽ dễ phát và tái phát.