Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm dùng trong nghiên cứu 1. Khái niệm sức khỏe tâm thần Theo WHO, sức khỏe là trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tâm thần và xã hội chứ không chỉ là tình trạng không bệnh tật hay đau yếu[12]. Định nghĩa này thể hiện rất rõ ràng rằng: Sức khỏe tâm thần là một phần không thể tách rời của sức khỏe nói chung; Sức khỏe tâm thần là một khái niệm rộng chứ không phải chỉ là không có bệnh tâm thần và sức khỏe tâm thần có mối liên quan mật thiết với sức khỏe thể chất và hành vi.
Năm 2003 Tổ chức y tế Thế giới đã đưa ra khái niệm sức khỏe tâm thần là: “Trạng thái khỏe mạnh của mỗi cá nhân để họ nhận biết được các khả năng của bản thân, có thể đương đầu với những căng thẳng thông thường trong cuộc sống, có thể học tập và làm việc một cách hiệu quả và có thể tham gia, góp phần vào các hoạt động của cộng đồng”[12]. Theo khái niệm trên có thể hiểu rằng: Sức khoẻ tâm thần là trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tâm thần và xã hội, là trạng thái tâm lý vui vẻ và ổn định của con người mà cá nhân đó nhận thức được khả năng của mình có thể ứng phó với những căng thẳng ình thường trong cuộc sống, có thể làm việc hiệu quả, tham gia và góp phần vào các hoạt động của cộng đồng. Điều này được biểu hiện thông qua cá nhân đó cảm thấy hài lòng, thỏa mãn, vui tươi, yêu đời, tự tin từ đó kiểm soát được hành vi của mình, cư x đúng mực và tôn trọng mọi người xung quanh trên cơ sở ý thức đầy đủ về giá trị bản thân. Khái niệm về sự lo âu Trải nghiệm lo âu là hiện tượng tâm lý mà hầu hết con người từng trải qua trong cuộc sống của mình, là phản ứng ình thường của con người khi họ gặp phải các tình huống gây căng thẳng.
Theo Fotimnash và Worret năm 2008 cho rằng lo âu là một trạng thái của sự sợ hãi, căng thẳng về những điều sắp xảy ra, nó đến từ những ảnh hưởng của môi trường bên ngoài và có nguy cơ áp đảo cá nhân[36]. 4 Lo âu c n được định nghĩa là một cảm giác sợ hãi, khó chịu, sự không chắc chắn hoặc căng thẳng do một mối đe dọa thực sự hoặc nhận thức được mối đe dọa mà nguồn gốc thực sự của nó là không rõ ràng[58]. Theo tác giả Võ Văn Bản năm 2002 lo âu được miêu tả như một cảm giác khó chịu của nỗi sợ hãi mơ hồ, hay còn là lo sợ đi kèm với những tình trạng vật lý đặc trưng. Đây là một phản ứng ình thường đối với những mối de dọa nhận thức được của một người với tâm sinh lý ình thường.
Trạng thái lo âu là sự cảnh báo để bản thân có những giải pháp thích hợp đối phó với những tình huống căng thẳng[23]. Theo Nguyễn Viết Thiêm năm 2002, lo âu sẽ trở thành vấn đề sức khỏe tâm thần (tình trạng rối loạn lo âu) khi nó xảy ra mơ hồ, vô lý và không liên quan đến bất kỳ mối đe dọa nào hoặc là mức độ lo âu không tương xứng với các mối đe dọa và diễn ra trong một thời gian dài. Khi đó, lo âu gây trở ngại cho công việc, học tập, sinh hoạt và các mối quan hệ xã hội ình thường của cá nhân và được gọi là rối loạn lo âu[16]. Trầm cảm Trầm cảm là một trạng thái bệnh lý của cảm xúc, biểu hiện bằng quá trình ức chế toàn bộ hoạt động tâm thần.
Chủ yếu là ức chế cảm xúc, ức chế tư duy và ức chế vận động. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD 10), trầm cảm đặc trưng ởi khí sắc trầm, mất quan tâm hay thích thú, giảm năng lượng dẫn đến tăng mệt mỏi và giảm hoạt động, tồn tại trong khoảng thời gian cần thiết ít nhất là 2 tuần. Những triệu chứng khác như giảm sự tập trung, giảm tính tự trọng và lòng tự tin, ý tưởng bị tội và không xứng đáng, nhìn và tương lai ảm đạm i quan, ý tưởng và hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát cũng là các triệu chứng phổ biến. Ngoài ra còn các triệu chứng cơ thể khác như: thức giấc sớm hơn ít nhất 2 giờ, trầm cảm nặng lên vào buổi sáng, sút cân (≥ 5% trọng lượng cơ thể so với tháng trước…)[60].
Theo tác giả Trương Tuấn Anh, trầm cảm (depression) là một rối loạn khí sắc thường gặp trong các rối loạn tâm thần. Trầm cảm dùng để mô tả một hội chứng bệnh tâm lý được đặc trưng ởi khí sắc trầm hay còn gọi là cảm xúc buồn bã cùng với một số triệu chứng khác duy trì trong một khoảng thời gian kéo dài trên 2 tuần, 5 từ đó ảnh hưởng đến các hoat động trong cuộc sống như công việc, học tập, gia đình và xã hội[22]. Stress Stress là một thuật ngữ tiếng Anh xuất hiện từ thế kỉ XV, nó được dùng để mô tả sức nén mà vật liệu phải chịu trong vật lý. Đến thế kỉ thứ XVII, thuật ngữ này để chỉ sức ép trên tâm lý con người khi trải qua th thách cam go, nỗi đau uồn hay tai họa.
Thuật ngữ stress được s dụng lần đầu trong sinh lý học vào năm 1914 ởi Walter Cannon, ông gọi stress là phản ứng sinh lý tấn công hay bỏ chạy trước các hoàn cảnh khẩn cấp. Sau đó Hans Selye đã đưa ra định nghĩa về stress một cách đầy đủ hơn. Theo Hans Selye, stress là phản ứng sinh học không đặc hiệu của cơ thể với những tình huống căng thẳng nhằm khôi phục lại trạng thái cân bằng nội môi, khắc phục các tình huống để đảm bảo sự duy trì và thích nghi của cơ thể trước các điều kiện sống luôn biến đổi. Đây là phản ứng thích nghi, nếu cá nhân không thích nghi được thì stress trở thành bệnh lý[1, 15, 52].
Sau định nghĩa về stress của Hans Selye cũng đã có nhiều nghiên cứu về stress được thực hiện, trong đó định nghĩa được chấp nhận nhiều nhất là của nhà tâm lý học Richard S. Lazarus cho rằng: Stress là trạng thái hay cảm xúc mà chủ thể trải nghiệm khi họ nhận ra các yêu cầu, đ i hỏi từ bên ngoài và bên trong có tính chất đe dọa, có hại, vượt qua nguồn lực cá nhân và xã hội mà họ có thể huy động được[40]. Như vậy theo các định nghĩa trên, stress bao gồm hai khía cạnh: + Tình huống stress chỉ tác nhân gây stress (Stressor): là một sự kiện kích thích từ bên trong hoặc bên ngoài khiến cơ thể phải có một đáp ứng thích nghi. + Đáp ứng stress là sự phản ứng của cơ thể với các tác nhân có tính chất đe dọa, có hại (Strain): phản ứng sinh lý và phản ứng tâm lý[3, 15].
Một số nghiên cứu về trầm cảm, lo âu, stress ở sinh viên 1. Trên Thế giới Trong những năm gần đây, tỷ lệ sinh viên đại học gặp phải các vấn đề sức khỏe tâm thần đang tăng lên ở nhiều nước trên Thế giới, trong đó chủ yếu là chứng 6 trầm cảm và rối loạn lo âu[55]. Theo một nghiên cứu tổng quan hệ thống trên 195 nghiên cứu ở 47 quốc gia đã chỉ ra tỷ lệ sinh viên y khoa bị trầm cảm hoặc có dấu hiệu trầm cảm là 27,2% và tỷ lệ có ý tưởng tự sát là 11,1%[50]. Theo nghiên cứu của Moutinho ILD tại Brasil năm 2016 cho thấy có 34,6% sinh viên có dấu hiệu trầm cảm; 37,2% sinh có triệu chứng lo âu và 47,1% sinh viên có stress đã chỉ ra rằng có sự khác biết đáng kể giữa các học kỳ của khóa học[45].
Theo kết quả nghiên cứu của Wahed WAY tại Ai Cập năm 2016 trên 442 sinh viên Y khoa cho thấy độ tuổi trung bình là 20,15 ± 1,9 tuổi. Tỷ lệ stress, lo âu và trầm cảm với các mức độ khác nhau lần lượt là 62,4%; 64,3% và 60,8%. Điểm stress và điểm lo âu có mối liên quan đáng kể đến tuổi, giới tính và tình trạng béo phì. Điểm số trầm cảm tương quan thuận với tuổi và tương quan nghịch với điều kiện kinh tế của sinh viên, sinh viên ở nơi khác đến có điểm số trầm cảm cao hơn[59].
Một nghiên cứu ở Ấn Độ năm 2014 trên sinh viên thuộc 5 trường Đại học tại thành phố Shilong liên quan đến các lĩnh vực: Hội họa, Thương Mại, Khoa Học, kết quả chỉ ra có 38,9% sinh viên bị stress ở mức nhẹ; 18,8 % sinh viên bị stress nặng[48]. Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Teris Cheung trên sinh viên Điều dưỡng ở Hồng Kông năm 2016, tỷ lệ sinh viên có trầm cảm, lo âu và stress lần lượt là 35,8%; 37,3% và 41,1%. Việc gặp khó khăn về tài chính và có vấn đề về giấc ngủ có mối tương quan đáng kể đến trầm cảm, lo âu và stress[34]. Theo kết quả nghiên cứu của Khadijah Shamsuddin và cộng sự năm 2013 trên 506 sinh viên thuộc 4 trường đại học công lập tại Klang Valley (Malaysia), kết quả cho thấy có 18,6% sinh viên bị stress ở mức vừa; 5,1% ở mức nặng và rất nặng[53].
Theo tác giả Basudan S, tỷ lệ trầm cảm, lo âu và stress của sinh viên Nha khoa tại Ả Rập Xê Út lần lượt là 55,9%; 66,8% và 54,7%. Các yếu tố dự đoán cho tình trạng lo âu và tress của sinh viên là giới tính, sự hài lòng về mối quan hệ với bạn bè và giảng viên[30]. Tại Việt Nam Theo nghiên cứu của Trần Kim Trang(2012) tại Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, kết quả cho thấy có 28,8% sinh viên bị trầm cảm; 22,4% có biểu hiện 7 lo âu và stress là 71,4%, đa số ở mức độ nhẹ và vừa. Cũng theo nghiên cứu này, có 52,8% sinh viên có cả 3 dạng rối loạn trên[21].
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Ngọc tại Trường Đại học Y Dược Hải ph ng năm 2016 cho thấy: Tỷ lệ trầm cảm chung là 46%, đối với chuyên ngành Y học dự ph ng là 41,7% và đối với chuyên ngành Răng Hàm Mặt là 51,3%. Tỷ lệ dấu hiệu trầm cảm ở sinh viên năm nhất và năm thứ 4 cao nhất 52%; có mối liên quan giữa nguy cơ trầm cảm với các yếu tố cá nhân, yếu tố học tập, yếu tố bạn bè gia đình và xã hội[14].