Tổng quan nghiên cứu

Trầm cảm, lo âu và stress là những vấn đề sức khỏe tâm thần phổ biến, ảnh hưởng đến khoảng 25% dân số thế giới tại một thời điểm nhất định trong đời. Từ năm 1990 đến 2013, số người mắc các rối loạn này đã tăng gần 50%, từ 416 triệu lên 615 triệu người, và dự báo đến năm 2030, trầm cảm sẽ trở thành nguyên nhân hàng đầu gây gánh nặng bệnh tật toàn cầu. Đặc biệt, sinh viên đại học là nhóm đối tượng dễ bị ảnh hưởng bởi các vấn đề sức khỏe tâm thần do áp lực học tập, tài chính và các yếu tố xã hội. Tại Việt Nam, tỷ lệ sinh viên có biểu hiện trầm cảm, lo âu và stress cũng đang gia tăng, gây ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả học tập và chất lượng cuộc sống.

Nghiên cứu này nhằm đánh giá mức độ trầm cảm, lo âu và stress của sinh viên Trường Cao đẳng Công Thương Việt Nam năm 2023, đồng thời xác định các yếu tố liên quan đến các vấn đề này. Nghiên cứu được thực hiện trên 420 sinh viên thuộc 5 khoa đào tạo của trường, sử dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang với phương pháp chọn mẫu phân tầng. Thời gian nghiên cứu kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9 năm 2023 tại cơ sở Nghĩa Đô, Hà Nội.

Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp dữ liệu thực trạng sức khỏe tâm thần của sinh viên, từ đó đề xuất các giải pháp can thiệp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng học tập và đời sống tinh thần của sinh viên, góp phần cải thiện môi trường giáo dục và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu dựa trên mô hình giao dịch - ứng phó căng thẳng của Lazarus & Folkman (1984), trong đó mức độ trầm cảm, lo âu và stress được xem là kết quả chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố cá nhân, học tập, gia đình, bạn bè và sự hỗ trợ xã hội. Các khái niệm chính bao gồm:

  • Sức khỏe tâm thần: Trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội, khả năng đương đầu với căng thẳng, học tập và làm việc hiệu quả.
  • Trầm cảm: Rối loạn khí sắc với các triệu chứng như khí sắc trầm, mất hứng thú, giảm năng lượng kéo dài ít nhất 2 tuần.
  • Lo âu: Cảm giác sợ hãi, căng thẳng không rõ nguyên nhân hoặc không tương xứng với mối đe dọa thực tế.
  • Stress: Phản ứng sinh học và tâm lý không đặc hiệu của cơ thể trước các tình huống căng thẳng, có thể trở thành bệnh lý nếu không được thích nghi.
  • Hỗ trợ xã hội: Nguồn lực từ người thân, bạn bè và người đặc biệt giúp cá nhân ứng phó với căng thẳng.

Phương pháp nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Cắt ngang.
  • Đối tượng nghiên cứu: 420 sinh viên hệ chính quy của Trường Cao đẳng Công Thương Việt Nam, được chọn mẫu phân tầng theo tỷ lệ sinh viên của 5 khoa: Y - Dược, Công nghệ thông tin, Du lịch, Kinh tế, Kỹ thuật ô tô.
  • Thời gian và địa điểm: Từ tháng 5 đến tháng 9 năm 2023 tại cơ sở Nghĩa Đô, Hà Nội.
  • Cỡ mẫu: Tính toán dựa trên tỷ lệ trầm cảm, lo âu, stress từ các nghiên cứu trước, chọn cỡ mẫu lớn nhất là 420 sinh viên để đảm bảo độ tin cậy 95% với sai số 5%.
  • Công cụ thu thập dữ liệu:
    • Bộ câu hỏi đặc điểm chung.
    • Thang đo DASS-21 để đánh giá mức độ trầm cảm, lo âu, stress.
    • Thang MSPSS để đánh giá mức độ hỗ trợ xã hội.
  • Phương pháp thu thập: Phỏng vấn trực tiếp, sinh viên tự điền bộ câu hỏi dưới sự hướng dẫn của điều tra viên.
  • Phân tích số liệu: Sử dụng phần mềm SPSS 22, mô tả bằng tần số, tỷ lệ, trung bình, độ lệch chuẩn; phân tích mối liên quan bằng tỷ số chênh (OR), hồi quy đa biến và hệ số tương quan Pearson.
  • Đạo đức nghiên cứu: Được Hội đồng đạo đức Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định phê duyệt; đối tượng tham gia tự nguyện, bảo mật thông tin.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

  1. Tỷ lệ trầm cảm, lo âu và stress: Trong 420 sinh viên, tỷ lệ có biểu hiện trầm cảm là 40%, lo âu 56,4%, stress 37,1%. Trong đó, mức độ nặng và rất nặng chiếm 11% (trầm cảm), 23,3% (lo âu) và 9,7% (stress).

  2. Đặc điểm chung và thói quen: Sinh viên nam chiếm 69,8%, nữ 30,2%; tuổi trung bình 19,64 ± 1,52. Tỷ lệ sinh viên có chất lượng giấc ngủ tốt là 59,3%, không tốt 40,7%. Tỷ lệ sinh viên không hút thuốc lá là 82,6%, không tập thể dục 29,3%, thỉnh thoảng tập 52,6%, thường xuyên 18,1%.

  3. Yếu tố liên quan đến trầm cảm: Có liên quan đến chất lượng giấc ngủ (OR = 2,44), thói quen tập thể dục (OR = 0,87), sự hài lòng với ngành học (OR = 1,68), tình hình tài chính gia đình (OR = 0,54), mối quan hệ bạn bè (OR = 2,7) và mức độ hỗ trợ xã hội (OR = 1,72).

  4. Yếu tố liên quan đến lo âu: Liên quan đến chất lượng giấc ngủ (OR = 1,95), tập thể dục (OR = 0,68), hài lòng với ngành học (OR = 1,7) và hỗ trợ xã hội (OR = 0,82).

  5. Yếu tố liên quan đến stress: Bao gồm giới tính (nữ có nguy cơ cao hơn, OR = 1,3), chất lượng giấc ngủ (OR = 2,89), tập thể dục (OR = 0,85), hài lòng với ngành học (OR = 1,36), quan hệ bạn bè (OR = 1,69) và hỗ trợ xã hội (OR = 0,68).

Thảo luận kết quả

Kết quả cho thấy tỷ lệ sinh viên có biểu hiện lo âu cao nhất, tiếp theo là trầm cảm và stress, phù hợp với xu hướng các nghiên cứu trong và ngoài nước. Chất lượng giấc ngủ không tốt là yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến cả ba vấn đề sức khỏe tâm thần, điều này đồng nhất với các nghiên cứu tại Hồng Kông và Việt Nam. Thói quen tập thể dục có tác dụng bảo vệ, giảm nguy cơ trầm cảm, lo âu và stress, nhấn mạnh vai trò của hoạt động thể chất trong duy trì sức khỏe tâm thần.

Sự hài lòng với ngành học cũng là yếu tố quan trọng, sinh viên không hài lòng có nguy cơ cao hơn, phản ánh áp lực tâm lý do không phù hợp hoặc thiếu đam mê với ngành học. Mối quan hệ bạn bè và mức độ hỗ trợ xã hội đóng vai trò bảo vệ, giúp giảm các triệu chứng tâm lý tiêu cực, phù hợp với mô hình giao dịch - ứng phó căng thẳng.

Giới tính ảnh hưởng đến stress, với nữ sinh có nguy cơ cao hơn, tương tự các nghiên cứu tại Ai Cập và Việt Nam. Các dữ liệu có thể được trình bày qua biểu đồ phân bố tỷ lệ trầm cảm, lo âu, stress theo giới tính, chất lượng giấc ngủ và mức độ tập thể dục để minh họa rõ nét hơn.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Tăng cường chương trình giáo dục về sức khỏe tâm thần: Nhà trường cần tổ chức các buổi tập huấn, hội thảo nâng cao nhận thức về trầm cảm, lo âu, stress cho sinh viên, đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của giấc ngủ và tập thể dục. Thời gian thực hiện: trong năm học 2024-2025.

  2. Phát triển hệ thống hỗ trợ xã hội trong trường: Xây dựng mạng lưới tư vấn tâm lý, nhóm hỗ trợ bạn bè và thầy cô để sinh viên dễ dàng tiếp cận khi gặp khó khăn. Chủ thể thực hiện: Ban Giám hiệu, Khoa Điều dưỡng, Phòng Công tác sinh viên.

  3. Khuyến khích sinh viên tham gia hoạt động thể chất và ngoại khóa: Tổ chức các câu lạc bộ thể thao, hoạt động giải trí nhằm nâng cao sức khỏe thể chất và tinh thần, giảm stress. Mục tiêu tăng tỷ lệ sinh viên tập thể dục thường xuyên lên trên 50% trong 1 năm.

  4. Hỗ trợ sinh viên trong việc lựa chọn ngành học phù hợp: Tư vấn nghề nghiệp, định hướng học tập để tăng sự hài lòng với ngành học, giảm áp lực tâm lý. Thời gian triển khai: ngay từ đầu khóa học.

  5. Hỗ trợ tài chính và tạo điều kiện học tập thuận lợi: Nhà trường phối hợp với các tổ chức để hỗ trợ sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, giảm bớt áp lực tài chính, góp phần cải thiện sức khỏe tâm thần.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Nhà quản lý giáo dục và cán bộ phụ trách sinh viên: Để hiểu rõ thực trạng sức khỏe tâm thần sinh viên, từ đó xây dựng chính sách hỗ trợ phù hợp, nâng cao chất lượng đào tạo.

  2. Giảng viên và nhân viên tư vấn tâm lý: Áp dụng các kết quả nghiên cứu để phát hiện sớm và can thiệp kịp thời các vấn đề trầm cảm, lo âu, stress ở sinh viên.

  3. Sinh viên và gia đình: Nâng cao nhận thức về các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần, biết cách tự chăm sóc và tìm kiếm sự hỗ trợ khi cần thiết.

  4. Các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần và giáo dục: Là tài liệu tham khảo để phát triển các nghiên cứu tiếp theo về sức khỏe tâm thần trong môi trường giáo dục nghề nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao sinh viên lại dễ bị trầm cảm, lo âu và stress?
    Sinh viên thường chịu áp lực học tập, tài chính, mối quan hệ xã hội và sự thay đổi môi trường sống, dẫn đến căng thẳng tâm lý. Ví dụ, sinh viên không hài lòng với ngành học có nguy cơ trầm cảm cao hơn 1,68 lần.

  2. Chất lượng giấc ngủ ảnh hưởng thế nào đến sức khỏe tâm thần?
    Giấc ngủ không đủ hoặc không sâu làm tăng nguy cơ trầm cảm, lo âu và stress. Nghiên cứu cho thấy sinh viên có giấc ngủ không tốt có nguy cơ stress cao gấp 3,36 lần so với sinh viên có giấc ngủ tốt.

  3. Tập thể dục có giúp giảm stress không?
    Có. Sinh viên thường xuyên tập thể dục có nguy cơ stress thấp hơn 1,75 lần so với sinh viên không tập, do hoạt động thể chất giúp giải phóng endorphin, cải thiện tâm trạng.

  4. Hỗ trợ xã hội đóng vai trò gì trong việc giảm các triệu chứng tâm lý?
    Hỗ trợ xã hội từ gia đình, bạn bè và thầy cô giúp sinh viên cảm thấy được quan tâm, giảm cảm giác cô đơn và áp lực, từ đó giảm mức độ trầm cảm, lo âu và stress.

  5. Làm thế nào để nhà trường có thể hỗ trợ sinh viên tốt hơn?
    Nhà trường nên tổ chức các chương trình tư vấn tâm lý, tăng cường hoạt động thể chất, hỗ trợ tài chính và tạo môi trường học tập thân thiện để giảm áp lực cho sinh viên.

Kết luận

  • Tỷ lệ sinh viên Trường Cao đẳng Công Thương Việt Nam có biểu hiện trầm cảm, lo âu và stress lần lượt là 40%, 56,4% và 37,1%, trong đó mức độ nặng chiếm tỷ lệ đáng kể.
  • Các yếu tố cá nhân như chất lượng giấc ngủ, thói quen tập thể dục, giới tính; yếu tố học tập như sự hài lòng với ngành học; yếu tố xã hội như mối quan hệ bạn bè và hỗ trợ xã hội có ảnh hưởng rõ rệt đến sức khỏe tâm thần của sinh viên.
  • Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để nhà trường và các bên liên quan xây dựng các chương trình hỗ trợ, can thiệp nhằm cải thiện sức khỏe tâm thần sinh viên.
  • Các bước tiếp theo bao gồm triển khai các giải pháp can thiệp, theo dõi và đánh giá hiệu quả trong vòng 1-2 năm tới.
  • Kêu gọi các nhà quản lý giáo dục, giảng viên, sinh viên và gia đình cùng phối hợp để tạo môi trường học tập lành mạnh, nâng cao chất lượng cuộc sống tinh thần cho sinh viên.