Khóa luận tốt nghiệp thực trạng rối loạn trầm cảm ở sinh viên chuyên ngành y đa khoa năm thứ 5 và 6 tại trường đại học y dược năm học 2020 2021

Luận văn tốt nghiệp y tế nghiên cứu tốt nghiệp thực trạng rối loạn trầm cảm ở sinh viên chuyên ngành y đa khoa năm thứ 5 và 6 tại, điều tra thực trạng, phân tích số liệu, đề xuất

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Y đa khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2020-2021

62
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Giới thiệu về trầmcảm

1.1.1. Khái niệm trầmcảm

1.1.2. Nguyên nhân gây ra trầmcảm

1.2. Tính chất lâm sàng trầm cảm

1.3. Tiêu chuẩn chẩn đoán trầm cảm

1.4. Giới thiệu về các thang đo lường trầm cảm và đánh giá các yếu tố liên quan

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Địa điểm, thời gian nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Thiết kế nghiên cứu

2.3.2. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu

2.3.3. Các biến số nghiên cứu

2.3.4. Phương pháp và công cụ thu thập thông tin

2.3.5. Công cụ thu thập số liệu

2.3.6. Quy trình thu thập số liệu

2.3.7. Quản lý, xử lý và phân tích số liệu

2.3.8. Các khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu

2.3.9. Hạn chế của nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Mô tả tỷ lệ có nguy cơ trầm cảm ở sinh viên Y đa khoa trường Đại học Y Dược, ĐHQGHN năm học 2020-2021

3.2. Đặc điểm thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu

3.3. Tỷ lệ trầm cảm của đối tượng nghiên cứu

3.4. Mô tả một số yếu tố liên quan đến nguy cơ trầm cảm ở sinh viên Y đa khoa trường Đại học Y Dược, ĐHQGHN năm học 2020-2021

3.4.1. Yếu tố đặc điểm nhân khẩu học

3.4.2. Yếu tố liên quan đến gia đình

3.4.3. Yếu tố liên quan đến kết quả học tập

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

4.2. Thực trạng rối loạn trầm cảm ở sinh viên chuyên ngành y đa khoa năm thứ 5 và 6 tại trường Đại học Y Dược năm học 2020-2021 và các yếu tố liên quan

4.3. Tỷ lệ có nguy cơ trầm cảm ở sinh viên Y đa khoa năm thứ 5 và 6 trường Đại học Y Dược năm học 2020-2021

4.4. Một số yếu tố liên quan đến nguy cơ trầm cảm ở sinh viên Y đa khoa năm thứ 5 và 6 trường Đại học Y Dược năm học 2020-2021

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN

5.1. Tỷ lệ có nguy cơ trầm cảm ở sinh viên Y đa khoa năm thứ 5 và 6 trường Đại học Y Dược năm học 2020-2021

5.2. Một số yếu tố liên quan đến nguy cơ trầm cảm ở sinh viên Y đa khoa

6. CHƯƠNG 6: KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về rối loạn trầm cảm ở sinh viên y đa khoa 2020 2021

Rối loạn trầm cảm là một vấn đề sức khỏe tâm thần nghiêm trọng, đặc biệt trong cộng đồng sinh viên y đa khoa. Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sinh viên mắc rối loạn trầm cảm ngày càng gia tăng, ảnh hưởng đến sức khỏe tâm lý và kết quả học tập. Theo WHO, khoảng 3-5% dân số toàn cầu gặp phải các triệu chứng trầm cảm trong suốt cuộc đời. Đặc biệt, sinh viên y đa khoa thường phải đối mặt với áp lực học tập và thực hành cao, dẫn đến tình trạng căng thẳng và trầm cảm. Nghiên cứu này nhằm xác định tỷ lệ và các yếu tố liên quan đến rối loạn trầm cảm ở sinh viên y đa khoa trong năm học 2020-2021.

1.1. Khái niệm và triệu chứng của rối loạn trầm cảm

Rối loạn trầm cảm được định nghĩa là trạng thái tâm lý với các triệu chứng như buồn bã, mất hứng thú, và cảm giác tội lỗi. Các triệu chứng này có thể ảnh hưởng đến khả năng học tập và sinh hoạt hàng ngày của sinh viên. Theo DSM-IV, trầm cảm có thể biểu hiện qua cảm xúc, tư duy và hành vi, gây ra những tác động tiêu cực đến sức khỏe tâm thần.

1.2. Nguyên nhân gây ra rối loạn trầm cảm ở sinh viên

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến rối loạn trầm cảm ở sinh viên y đa khoa, bao gồm áp lực học tập, môi trường sống, và các yếu tố cá nhân như di truyền và tình trạng sức khỏe. Nghiên cứu cho thấy sinh viên nữ có nguy cơ cao hơn so với nam giới, và những sinh viên gặp khó khăn trong việc tìm kiếm bạn bè cũng có nguy cơ cao hơn.

II. Thực trạng rối loạn trầm cảm ở sinh viên y đa khoa 2020 2021

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ sinh viên y đa khoa mắc rối loạn trầm cảm trong năm học 2020-2021 là rất cao. Cụ thể, tỷ lệ sinh viên có nguy cơ trầm cảm đạt 68,4%, trong đó tỷ lệ trầm cảm tối thiểu là 42,2%. Những con số này cho thấy sự cần thiết phải có các biện pháp can thiệp kịp thời để hỗ trợ sinh viên.

2.1. Tỷ lệ trầm cảm theo giới tính và năm học

Tỷ lệ trầm cảm ở sinh viên nữ là 70,2%, trong khi tỷ lệ này ở sinh viên nam là 65,8%. Sinh viên năm thứ 5 có nguy cơ trầm cảm cao hơn so với sinh viên năm thứ 6, cho thấy áp lực học tập có thể gia tăng theo thời gian.

2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng trầm cảm

Các yếu tố như tình trạng hôn nhân, kinh tế gia đình và sức khỏe thể chất đều có tác động đến nguy cơ trầm cảm. Sinh viên có bệnh mãn tính có nguy cơ trầm cảm cao hơn, cho thấy mối liên hệ giữa sức khỏe thể chất và tâm lý.

III. Phương pháp điều trị và hỗ trợ sinh viên mắc rối loạn trầm cảm

Để điều trị rối loạn trầm cảm, cần áp dụng các phương pháp điều trị tâm lý và thuốc. Hỗ trợ từ gia đình và bạn bè cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình hồi phục. Các chương trình tư vấn tâm lý tại trường học có thể giúp sinh viên nhận diện và xử lý các vấn đề tâm lý.

3.1. Các phương pháp điều trị hiệu quả

Phương pháp điều trị rối loạn trầm cảm bao gồm liệu pháp tâm lý, thuốc chống trầm cảm và các hoạt động thể chất. Liệu pháp tâm lý giúp sinh viên hiểu rõ hơn về cảm xúc của mình và tìm ra cách giải quyết hiệu quả.

3.2. Vai trò của hỗ trợ xã hội trong điều trị

Hỗ trợ từ gia đình và bạn bè có thể tạo ra một môi trường tích cực cho sinh viên. Các chương trình hỗ trợ tại trường học cũng giúp sinh viên cảm thấy được quan tâm và giảm bớt áp lực học tập.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ rối loạn trầm cảm ở sinh viên y đa khoa là rất cao, điều này cần được chú ý và có các biện pháp can thiệp kịp thời. Các trường đại học cần xây dựng các chương trình hỗ trợ tâm lý cho sinh viên để giảm thiểu tác động của rối loạn trầm cảm.

4.1. Tác động của rối loạn trầm cảm đến học tập

Rối loạn trầm cảm có thể dẫn đến giảm hiệu suất học tập, ảnh hưởng đến khả năng tập trung và ghi nhớ. Sinh viên mắc trầm cảm thường gặp khó khăn trong việc hoàn thành bài tập và tham gia vào các hoạt động học tập.

4.2. Các biện pháp can thiệp cần thiết

Cần có các biện pháp can thiệp như tổ chức các buổi hội thảo về sức khỏe tâm thần, cung cấp dịch vụ tư vấn tâm lý và tạo ra môi trường học tập thân thiện để hỗ trợ sinh viên.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho nghiên cứu

Rối loạn trầm cảm ở sinh viên y đa khoa là một vấn đề nghiêm trọng cần được quan tâm. Nghiên cứu này đã chỉ ra tỷ lệ cao và các yếu tố liên quan đến rối loạn trầm cảm, từ đó đề xuất các biện pháp can thiệp cần thiết. Hướng đi tương lai cần tập trung vào việc nâng cao nhận thức về sức khỏe tâm thần trong cộng đồng sinh viên.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng quy mô và phạm vi để có cái nhìn tổng quát hơn về tình trạng rối loạn trầm cảm trong cộng đồng sinh viên. Việc thu thập dữ liệu từ nhiều trường đại học khác nhau sẽ giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần.

5.2. Khuyến nghị cho các trường đại học

Các trường đại học nên xây dựng các chương trình hỗ trợ tâm lý và tạo ra môi trường học tập tích cực để giúp sinh viên vượt qua áp lực học tập và giảm thiểu nguy cơ mắc rối loạn trầm cảm.

16/08/2025
Khóa luận tốt nghiệp thực trạng rối loạn trầm cảm ở sinh viên chuyên ngành y đa khoa năm thứ 5 và 6 tại trường đại học y dược năm học 2020 2021

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Trầm cảm là một rối loạn tâm thần gặp ở mọi lứa tuổi, từ thiếu niên tới người già và đang ngày càng gia tăng.Theo WHO và nhiều tác giả có từ 3% - 5% dân số trên thế giới (khoảng 100 triệu người) có các triệu chứng trầm cảm ở một giai đoạn nào đó trong cuộc đời[2]. Bệnh cảnh lâm sàng của trầm cảm rất đa dạng. Rối loạn trầm cảm làm cho người bệnh bị gián đoạn học tập và lao động, tách rời xã hội, nếu không được điều trị kịp thời và đúng phương pháp sẽ trở thành gánh nặng cho bản thân, gia đình và xã hội. Rối loạn trầm cảm biểu hiện là những thay đổi về cảm xúc như cảm thấy buồn, khóc, vô vọng, không quan tâm đến những hoạt động vui chơi, giải trí hay suy giảm các hoạt động học tập tại trường, có thể biểu hiện ăn không ngon miệng hay thay đổi giấc ngủ hay có những khó chịu trong cơ thể một cách mơ hồ, ngoài ra còn nghĩ rằng không thể làm được việc gì đúng hoặc cảm thấy cuộc sống không có ý nghĩa hoặc vô vọng [3].

Ngoài ra trầm cảm còn là nguyên nhân hàng đầu gây ra tự sát. Khoảng 45-70% những người tự sát mắc trầm cảm và 15% bệnh nhân trầm cảm chết do tự sát [4][5] Trầm cảm đã trở thành một vấn đề lớn đối với sức khỏe của cộng đồng. Trong một nghiên cứu tổng hợp từ 43 quốc gianăm 2016 tỷ lệ trầm cảm ở sinh viên y khoa là 27,2%, và tỷ lệ có ý định tự tử là 11,1%. Trong số các sinh viên y khoa có kết quả điều tra bị trầm cảm có tới 15,7% sinh viên cần điều trị tâm thần[6].

Nghiên cứu này chỉ ra sự cần thiết trong phòng ngừa, sàng lọc sớmtrầm cảm và tăng khả năng tiếp cận điều trị tâm thần cho sinh viên y khoa. Tại Việt Nam có nghiên cứu về trầm cảm ở SV y Hà Nội năm 2012 xác định Tỷ lệ sinh viên có nguy cơ trầm cảm là 47,6% Tỷ lệ sinh viên Y2 có nguy cơ trầm cảm là 51,3%; sinh viên Y4 là 50% và Y6 là 40%[7]. Nghiên cứu cho thấy một số yếu tố liên quan trầm cảm ở sinh viên y như sau: sinh 1 viên nữ có nguy cơ trầm cảm cao gấp 0,51 lần sinh viên nam. Khi gặp khó khăn trong việc tìm bạn mới sinh viên có nguy cơ trầm cảm cao gấp 1,7 lần sinh viên không gặp khó khăn trong việc tìm bạn mới.Sinh viên giảm sút sức khỏe có nguy cơ trầm cảm cao gấp 1,62 lần sinh viên khỏe mạnh.Khi tăng áp lực học hành sinh viên có nguy cơ trầm cảm cao gấp 2,2 lần những sinh viên khác.Khi môi trường sống lộn xộn, bừa bãi thì tỷ lệ sinh viên có nguy cơ trầm cảm cao gấp 1,91 lần những sinh viên khác.

Cho đến nay thì có rất ít nghiên cứu về trầm cảm ở sinh viên Việt Nam, đặc biệt là sinh viên ngành Y. Đây là một ngành đào tạo mang tính đặc thù và yêu cầu cao sinh viên vừa phải trang bị một lượng kiến thức lớn, rèn luyện kĩ năng nghề nghiệp, lại phải tu dưỡng đạo đức để có thể trở thành một bác sĩ tốt. Những yếu tố đó vô hình chung đã tạo nên một áp lực không nhỏ tác động đến sức khỏe tinh thần và tâm sinh lý của sinh viên. Vì vậyem đã thực hiện nghiên cứu: “Thực trạng rối loạn trầm cảm ở sinh viên chuyên ngành y đa khoa năm thứ 5 và 6 tại trƣờng Đại học Y Dƣợc năm học 2020-2021” Mục tiêu nghiên cứu: 1.

Xác định tỷ lệ có nguy cơ trầm cảm ở sinh viên Y đa khoa năm thứ 5 và 6 trƣờng Đại học Y Dƣợc năm học 2020-2021. Mô tả một số yếu tố liên quan đến nguy cơ trầm cảm ở sinh viên Y đa khoa năm thứ 5 và 6trƣờng Đại học Y Dƣợc năm học 2020-2021. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1.1 Giới thiệu về trầmcảm 1. Khái niệm trầmcảm Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO): ―Trầm cảm là một rối loạn tâm thần phổ biến, đặc trưng bởi sự buồn rầu, mất sự thích thú hoặc khoái cảm, cảm giác tội lỗi hoặc giá trị bản thân thấp, rối loạn giấc ngủ, ăn uống và kém tập trung‖ [8].

Theo bảng phân loại tâm thần lần thứ 4 của hiệp hội tâm thần học Mỹ(DSM– IV, 1984): ―Trầm cảm là trạng thái rối loạn cảm xúc, biểu hiện bằng giảm khí sắc, mất mọi quan tâm thích thú, giảm năng lượng dẫn đến tăng sự mệt mỏi và giảmhoạt động, phổ biến là tăng sự mệt mỏi sau một số cố gắng nhỏ, tồn tại trong một khoảng thời gian kéo dài, ít nhất là hai tuần‖. Trầm cảm là một rối loạn khí sắc thường gặp trong các rối loạn tâm thần. Nó làmộttìnhtrạngbuồnchán,giảmhứngthúquámứcvàkéodài,từđóảnhhưởngđế n các hoạt động trong cuộc sống như công việc/học tập, gia đình và xã hội. Là rốiloạn tâm thần có thể điều trị được.

Hội chứng trầm cảm là một hội chứng cấp cứu trong tâm thần học. Đứng trước một hội chứng trầm cảm cần phải đánh giá được mức độ trầm trọng, nguy cơ tự sát cũng như tính đa dạng về mặt lâm sàng[9]. Tính đa dạng này được biểu hiện trên các mặt: cảm xúc, nhận thức, cơ thể, hành vi. Nguyên nhân gây ra trầmcảm Giống như các rối loạn tâm thần khác, mặc dù nhiều nghiên cứu đã 4 cung cấp mộtsốdữliệunhưngchođếnnaykhoahọcvẫnchưatìmrađượcnguyênnhânchín h xácgâyratrầmcảm.Tuynhiêncó thể phân chia ra 3 loại như sau: - Trầm cảm nội sinh: chưa phát hiện được tổn thương đặc biệt về mặt hình thái của hệ thần kinh.

Và phần lớn bệnh nhân có thể ăn khoẻ, chơi khoẻ, đi đứng bình thường nhưng có ý nghĩa, cảm xúc, hành vi không phù hợp, kỳ dị khó hiểu. - Trầm cảm tâm sinh: gặp sau các sang chấn tâm lý - Trầm cảm thực tổn: do các bệnh thực tổn ở não Hiện nay, có nhiềunghiêncứuđãchỉrađượccácyếu tố liên quan đến các rối loạn trầm cảm. Bao gồm các yếu tố sau [10,11,12]: - Các đặc điểm cá nhân: tuổi, giới tính, cân nặng, tình trạng bệnh tật, tính cách, suy nghĩ, trình độ học vấn, lốisống… - Gia đình: di truyền, số người trong gia đình, mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, tình trạng về kinh tế, vậtchất… - Môi trường xã hội: an ninh trật tự, tình hình chính trị, văn hoá, kinhtế… - Nơi làm việc: các mối quan hệ trong công việc, văn hoá tổ chức, môi trường làm việc, cơ sở vật chất, trang thiết bị, khối lượng công việc, các nguy cơ gặp phải trong công việc, vị trí, chứcdanh… - Môi trường tự nhiên: thiên tai, thời tiết, tiếng ồn, nhiệt độ, giao thông, bụi, sự ônhiễm… 1. Dịch tễ Trầm cảm là một bệnh lý khá phổ biến.

Các nghiên cứu về rối loạn trầm cảm cho thấy nguy cơ bị bệnh trong toàn bộ cuộc đời là khoảng 10%. 5 - Tỉ lệ trầm cảm ở nữ/nam là 2/1. Trong toàn bộ cuộc đời nguy cơ rối loạn trầm cảm ở nữ giới là 10-25% và ở nam giới là 5-12%[14]. Ở hầu hết các quốc gia, không phân biệt về văn hóa đều thấy tỉ lệ trầm cảm ở nữ giới cao hơn nam giới từ 1,5- 3 lần.

Nguyên nhân của sự khác biệt này có thể do sự khác nhau về hormon và do phụ nữ sinh con. Ở tuổi thiếu niên, nam giới và nữ giới có tỉ lệ trầm cảm như nhau. - Rối loạn trầm cảm gặp nhiều ở lứa tuổi 25-44. - Những người li di, hoặc li thân có nguy cơ trầm cảm cao hơn những người có giađình ở cùng một lứa tuổi.

- Tái diễn là khuynh hướng thường gặp ở trầm cảm. - Theo Viện Sức khỏe tâm thần quốc gia Việt Nam (2019) tỉ lệ trầm cảm chung ở Việt Nam khoảng 25% dân số. Bệnh trầm cảm đang tăng lên trong những năm gần đây do tuổi thọ của người tăng lên, người dân cũng quan tâm nhiều hơn về vấn đề trầm cảm và do các bác sĩ áp dụng những tiêu chuẩn chẩn đoán trầm cảm chính xác hơn[15].2 Tính chất lâm sàng trầm cảm Giai đoạn trầm cảm điển hình (Major depressive period): Giai đoạn trầm cảm thường hìnhthành từ từ trong nhiều tuần với biểu hiện của hội chứng suy nhược và khí sắc ngày càng suygiảm sau đó xuất hiện đủ bộ 3 triệu chứng trầm cảm: - Cảm xúc bị ức chế (Depressed affect): Là triệu chứng chủ yếu nhất biểu hiện bằng cảm xúcbuồn rầu biểu hiện ở các mức độ khác nhau: chán nản, thất vọng, có trạng thái buồn chán nặngnề, sâu sắc, buồn không lối thoát dễ dẫn đến tự sát. - Tư duy bị ức chế (Depressed thinking): Quá trình liên tưởng chậm chạp, hồi ức khó khăn, tưduy bị chìm đắm trong những chủ đề trầm cảm, bi quan, xấu hổ, tủi nhục, bất hạnh, nhiềutrường hợp kết tinh thành hoang tưởng bị buộc tội 6 hoặc tự buộc tội dễ dẫn đến tự sát.

- Bệnh nhân thường nói chậm chạp, trả lời câu hỏi khó khăn, nói nhỏ, thì thào từng tiếng một,đôi khi không nói hoàn toàn có khi rên rỉ, khóc lóc. - Bệnh nhân rất dễ tự sát, ý tưởng tự sát dai dẳng và hành vi tự sát có thể xảy ra bất cứ lúc nào, nhiều khi bệnh nhân giả vờ khỏi bệnh để về nhà tự sát, lừa thầy thuốc và người thân đểthực hiện hành vi tự sát, cho nên phải theo dõi bệnh nhân thật sát sao để ngăn chặn hành vi tựsát. - Hoạt động bị ức chế (Depressed activity): Bệnh nhân ngồi im hoặc nằm im lìm hàng giờ, khom lưng, cúi đầu, nằm ép ở giường hàngngày, hàng tháng, hoạt động bị ức chế hoặc những hành vi đơn điệu, đi lờ đờ, quanh quẩntrong phòng. - Rối loạn tâm thần khác (Other mental disorders): - Hoang tưởng, ảo giác xuất hiện nhiều hơn trong hưng cảm.

Nội dung thường là bị tội, tựbuộc tội, nghi bệnh. - Ảo thanh nghe tiếng nói tố cáo tội lỗi của mình hay báo trước hình phạt, tiếng khóc tiếngthan của đám ma. - Khả năng chú ý giảm sút do bị ức chế. - Những rối loạn khác (Other disorders): + Nhiều rối loạn thần kinh thực vật, tim mạch như: trương lực mạch giảm, mạch chậm, giảmtrương lực cơ, hồi hộp đánh trống ngực, cảm giác nghẹn thở, đổ mồ hôi trộm.

nên dễ bị chẩnđoán nhầm sang các bệnh tim mạch, hô hấp. + Rối loạn tiêu hoá thường xuyên, chán ăn buồn nôn, lưỡi trắng, táo bón, tiêu chảy, viêm loétdạ dày tá tràng. nên dễ nhầm với các bệnh tiêu hoá. + Rối loạn tiết niệu như rối loạn tiểu tiện, khó đái, đái rắt.

dễ nhầm với các bệnh đường tiếtniệu. 7 chị em nữa chiếm 35,8%, nhiều hơn 2 anh chị em chiếm 22% và chỉ có 3,2% là con một.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ