CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Nhân lực y tế và một số chính sách liên quan 1. Khái niệm nhân lực y tế Nhân lực y tế (NLYT) là thành phần quan trọng nhất trong hệ thống y tế, cùng với các thành phần khác như cung ứng dịch vụ, thông tin y tế, các sản phẩm và công nghệ y tế, tài chính, và quản lý điều hành.
Củng cố nhân lực y tế vì vậy luôn là hoạt động ưu tiên trong các hoạt động củng cố hệ thống y tế. Năm 2006, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đưa ra định nghĩa về NLYT bao gồm tất cả những người tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm khỏe. Theo đó, nguồn nhân lực y tế bao gồm những người cung cấp dịch vụ y té, người làm công tác quản lý và cả nhân viên giúp việc mà không trực tiếp cung cấp các dịch vụ y tế. Nó bao gồm cán bộ y tế chính thức và cán bộ y tế không chính thức (như tình nguyện viên xã hội, những người chăm sóc sức khỏe gia đình, lang y .), kể cả những người làm việc trong ngành y tế và những ngành khác (như quân đội, trường học hay các doanh nghiệp) [21].
Theo định nghĩa nhân lực y tế của WHO, ở Việt Nam các nhóm đối tượng được coi là “nhân lực y tế" sẽ bao gồm các cán bộ, nhân viên y tế thuộc biên chế và hợp đồng đang làm việc trong hệ thống y tế công lập (bao gồm cả quân y), các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học y/dược và tất cả những người có tham gia vào các hoạt động quản lý và cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân (nhân lực y tế tư nhân, các cộng tác viên y tế, lang y và bà đỡ mụ vườn) [21]. Trong khuôn khổ nghiên cứu này, nhân lực chuyên môn y tế được hiểu là tắt cả các bác sĩ, điều dưỡng tham gia trực tiếp vào công tác khám, chẩn đoán, điều trị và chăm sóc người bệnh. Vì đối tượng tác động của nhân lực chuyên môn y tế là con người nên việc thường xuyên nâng cao năng lực chuyên môn là hết sức cần thiết, cùng với đó là chế độ và chính sách đãi ngộ cũng cần phải được quan tâm, tuy nhiên vì là bệnh viện công lập nên khi thực hiện phải dựa vào các văn bản pháp lý của Nhà nước và các cấp, ngành có liên quan. Một số chính sách liên quan Về nâng cao năng lực chuyên môn của CBYT, có các văn bản qui định các loại đào tạo khác nhau.
Đào tạo liên thông trình độ đại học, cao đẳng y, dược được hướng dẫn tại Thông tư 06/2008/TT-BYT, đào tạo liên tục cho đội ngũ CBYT đương chức được quy định tại Quyết định 4026/QĐ-BYT, Thông tư 07/2008/TT-BYT; Thông tư 02/2008/TTLT-BYT-BNV và Quy chế bệnh viện. Các loại hình đào tạo liên tục bao gồm đào tạo bồi dưỡng để cập nhật, bổ sung kiến thức, kỹ thuật thuộc lĩnh vực chuyên môn đang đảm nhận; đào tạo lại; đào tạo theo nhiệm vụ chỉ đạo tuyến; đào tạo chuyển giao kỹ thuật và những khoá đào tạo chuyên môn nghiệp vụ khác của ngành y tế mà không thuộc hệ thống bằng cấp quốc gia. Riêng đối với các điều dưỡng viên và hộ sinh viên tại BV, việc đào tạo cập nhật kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ liên tục được quy định tại Thông tư 07/2011/TT-BYT [22]. Kinh phí dành cho đào tạo liên tục thông qua các nguồn ngân sách nhà nước, kinh phí đóng góp của người tham gia khoá đào tạo, kinh phí từ các cơ sở có cán bộ đi đào tạo và từ các nguồn thu hợp pháp.
Về chế độ lương và phụ cấp, có các Nghị định 28/2010/NĐ-CP [23], Nghị định 64/2009/NĐ-CP [24], Quyết định 11/2007/QĐ-BLĐTBXH, Quyết định 276/2005/QĐ- TTg, Quyết định 46/2009/QĐ-TTg, Quyết định 75/2009/QĐ-TTg [25], Quyết định 402/2009/QĐ-TTg, Thông tur 03/2008/TTLT-BYT-BNV [26] và Công văn 6608/2009/BYT-TCCB qui định mức lương tối thiểu chung của cán bộ công nhân viên chức nói chung và CBYT nói riêng và phụ cấp theo đặc thù công việc. Bên cạnh đó, hiện nay còn có Dự thảo Quyết định và Dự thảo Quy hoạch phát triển nhân lực y tế giai đoạn 2011 - 2020 trong đó có quy định một số chế độ phụ cấp đặc thù đối với công chức, viên chức thuộc các cơ sở y tế công lập. Thư viện ĐH Thăng Long 5 1. Thực trạng nguồn nhân lực y tế trên thế giới và tại Việt Nam 1.
Thực trạng nguồn nhân lực y tế trên thế giới Nhân lực y tế đóng vai trò quan trọng trong hệ thống y tế để nâng cao chất lượng dịch vụ và hướng tới các Mục tiêu Thiên niên kỷ về sức khỏe. Tuy nhiên, NLYT trong hệ thống y tế trên thế giới hiện nay đang trải qua sự căng thẳng và bắp bệnh khi họ phải đối mặt với một loạt ảnh hưởng phức tạp bao gồm nhân khẩu, gánh nặng bệnh tật, các dịch bệnh, tài chính, khoa học công nghệ, sở thích của khách hàng, giáo dục, cải cách công cộng và toàn cầu hóa. Người lao động tìm kiếm các cơ hội và sự đảm bảo công việc trong thị trường lao động y tế năng động dẫn dén - thiếu hụt về nhân lực. Sự thiếu hụt nhân lực được nhận thấy từ việc số lượng cán bộ y tế không đủ, sự mất cân bằng trong đào tạo các ngành nghề, phân bố không phù hợp với nhu cầu của từng địa phương, và hao hụt nhân lực theo nhiều lý do khác nhau như chết, nghỉ hưu, thay đổi nghề nghiệp.
Các quốc gia phát triển đều có chung thách thức vừa khó thu hút nhân lực vào nghề điều dưỡng, vừa khó duy trì điều dưỡng làm việc lâu dài. Dự báo thiếu điều dưỡng còn diễn ra trong vài thập kỷ và khó có thể đáp ứng nếu chỉ dựa vào điều dưỡng trong nước. Do vậy, mở cửa tuyển điều dưỡng viên ngoại quốc là giải pháp lựa chọn của các quốc gia phát triển, tại Đức ước tính thiếu 500.000 điều dưỡng vào năm 2030. Tỷ lệ điều dưỡng/10000 dân ở các nước châu Âu và Mỹ như Thụy Sĩ, Đan Mạch, Đức là cao nhất, với 102 - 152/vạn dân.
Tại Anh, Pháp, Nga hoặc Nhật Bản, tỷ lệ này là 96 - 97/vạn dân. Trung Quốc, Ấn Độ hay Indonesia là 9 - 15/vạn dân. Việt Nam nằm trong số các quốc gia Đông Nam Á, tỉ lệ là 11,4/vạn dân [27]. Báo cáo của WHO về số liệu điều dưỡng/bác sĩ ở một số nước châu Á cho thấy Indonesia 5.1; Philipines 3,9; Malyasia 3,7; Singapore 2,8; Campuchia 2,3; Hàn Quốc 1,8; Myanmar 1,5; Việt nam 1,3; Nepal 1 và Trung Quốc 0,8.
Qua số liệu ghi nhận được ở một số nước trến thế giới trong đó Thái Lan và Indonesia, hai nước này có tỷ lệ bác sĩ/10.000 dân là 2,9 và 1,3 trong khi đó điều dưỡng/bác sĩ của 2 nước này lần lượt là 5,6 và 4,1. Xét trên góc độ đảm bảo tiếp cận với bác sĩ thì Thái Lan và Indonesia khó khăn rất nhiều. Thực trạng nguồn nhân lực y tế tại Việt Nam Nhìn chung, trong vài năm trở lại đây đã có một số nghiên cứu về hệ thống nhân lực y tế của cả nước. Hầu hết các nghiên cứu này đều áp dụng phương pháp hồi cứu, sử dụng số liệu có sẵn của ngành y tế, chủ yếu do Bộ Y tế công bố trong Niên giám thống kê y tế các năm, Báo cáo kiểm tra bệnh viện hàng năm.
Chiếu theo khung nhân lực của WHO năm 2006, các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào đánh giá nguồn NLYT đang hoạt động trong các dịch vụ y tế (nhân lực hoạt động); các nội dung liên quan tới nguồn cán bộ y tế bắt đầu bước vào thị trường lao động (chuẩn bị nhân lực) hay rời bỏ nghề nghiệp (hao hụt nhân lực) hầu như không được nghiên cứu. Lý do là nguồn số liệu hiện có không đáp ứng được đầy đủ, chẳng hạn như hiện còn rất thiếu các số liệu về sự dịch chuyển của CBYT giữa công/tư, giữa các vùng miền, giữa các ngành nghề,. cán bộ y tế nghỉ việc do đi học, sinh đẻ, về hưu, mất sức, đuổi việc, chết. Đây cũng chính là những điểm thiếu hụt trong các nghiên cứu về nguồn NLYT ở Việt Nam hiện nay.
Theo số liệu Niên giám thống kê y tế năm 2018, dân số Việt Nam là 94,66 triệu người, tổng số cán bộ y tế 472,558 người, trong đó bác sĩ 82,043 (8,7 BS/vạn dân), điều dưỡng 108,113 (11,4 DD/vạn dân), tỷ lệ điều dưỡng/bác sĩ = 1,3 (hiện nay khoảng 1,4) [29]. Việt Nam được xếp vào quốc gia có tỷ lệ điều dưỡng/vạn dân thấp nhất thế giới. Tỷ lệ điều dưỡng/bác sĩ của Việt Nam thuộc nhóm nước có tỷ lệ thấp dưới ngưỡng khuyến cáo của tổ chức OECD (các quốc gia thuộc tổ chức hợp tác phát triển kinh tế). Hiện nay đội ngũ nhân lực y tế đa chuyên ngành, có chuyên môn tốt có khả năng cung cấp các dịch vụ y tế chất lượng cao và lấy người dân làm trung tâm là vô cùng cần thiết để đáp ứng nhu cầu y tế đang thay đổi tại Việt Nam.
Và mục tiêu đến năm 2025 đưa được 450 bác sĩ trẻ về công tác tại miền núi, vùng. Theo Quyết định số 4359/QĐ - BYT ngày 20 tháng 10 năm 2020 [30] sửa đổi bổ sung Quyết định số 585/QĐ- BYT về Dự án “Thí điểm đưa bác sỹ trẻ tình nguyện về công tác tại miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn”. Nhờ triển khai Dự án này, hiện nay trên cả nước có hơn 700 trung tâm y tế huyện, quận, thị xã; hơn 11.100 trạm y tế xã, phường, thị trấn, trong đó có hơn 60% Thư viện ĐH Thăng Long 7 số trạm y tế đã đạt Tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn 2010 - 2020; 100% số xã có trạm y tế hoặc có phòng khám đa khoa khu vực liên xã; 93,8% số trạm y tế xã có bác sĩ làm việc (bao gồm cả bác sĩ làm việc lâu dài và bác sĩ tuyến trên luân phiên về làm việc 2, 3 ngày trong tuần); 96% số trạm y tế xã có nữ hộ sinh/y sĩ sản nhi và hơn 95% số thôn bản có nhân viên y tế thôn, bản hoặc cô đỡ thôn, bản. Do yêu cầu hội nhập khu vực và quốc tế đồng thời từng bước nâng cao chất lượng đào tại và tránh lãng phí nguồn lực xã hội.
BYT và BNV đã ban hành TTLT số 26/2015/TTLT-BYT-BNV [31] quy định mã số, tiêu chuẩn, chức danh nghề nghiệp điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật y trong đó quy định đến năm 2021 sẽ không tuyển dụng vào hệ thông y tế điều dưỡng có trình độ trung cấp. Thực tế, tại nhiều bệnh viện hạng đặc biệt thường xảy ra tình trạng quá tải.