Tổng quan nghiên cứu

Dị tật bẩm sinh tim (DTBST) là một trong những dị tật phổ biến nhất ở trẻ sơ sinh, chiếm tỷ lệ khoảng 9 trên 1.000 trẻ sinh sống trên toàn cầu và dao động từ 1% đến 2% tại Việt Nam. Đây cũng là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở nhóm dị tật bẩm sinh ở trẻ em. Nghiên cứu của tác giả Trịnh Hữu Tùng thực hiện tại Bệnh viện Nhi đồng 2 Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2018 - 2022 nhằm phân tích toàn diện hai vấn đề cốt lõi: thực trạng nhu cầu khám, điều trị của bệnh nhi DTBST và khả năng đáp ứng về nguồn lực, tổ chức của bệnh viện chuyên khoa nhi tuyến cuối.

Bệnh viện Nhi đồng 2 là bệnh viện chuyên khoa Nhi hạng 1 với quy mô 1.400 giường bệnh theo chỉ tiêu (thực kê gần 2.000 giường), tiếp nhận trung bình hơn 1,18 triệu lượt khám bệnh mỗi năm. Trong giai đoạn 2018 - 2022, bệnh viện đã tiếp nhận và điều trị cho trung bình 7.516 lượt bệnh nhi mắc DTBST mỗi năm, chiếm tỷ lệ 0,52% tổng số lượt khám chữa bệnh toàn viện. Nghiên cứu xác định mục tiêu cụ thể gồm: mô tả đặc điểm dịch tễ, phân bố nhu cầu khám chữa bệnh theo hình thức điều trị nội trú - ngoại trú và đánh giá năng lực đáp ứng của hệ thống tổ chức, nhân lực y tế, trang thiết bị chuyên sâu tại bệnh viện năm 2022. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc tối ưu hóa quy trình điều trị, nâng cao hiệu suất sử dụng giường bệnh và cung cấp cơ sở khoa học để hoạch định chiến lược đầu tư y tế cho khu vực phía Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng khung lý thuyết cân bằng Cung - Cầu trong quản lý y tế kết hợp với mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ y tế của Donabedian gồm ba thành tố: Cấu trúc (Structure), Quy trình (Process) và Kết quả (Outcome). Nhu cầu y tế (Demand) được đo lường thông qua số lượng bệnh nhi đến khám, cơ cấu mô hình bệnh tật, phân loại lâm sàng, độ tuổi và mức độ nặng của bệnh. Khả năng đáp ứng (Supply/Capacity) được lượng hóa qua các yếu tố cấu trúc như cơ cấu tổ chức bộ máy, số lượng và trình độ chuyên môn của đội ngũ nhân viên y tế, hệ thống máy móc trang thiết bị chuyên khoa tim mạch, cùng quy trình quản lý tiếp nhận và điều trị.

Các khái niệm chuyên môn then chốt được chuẩn hóa bao gồm:

  • Dị tật bẩm sinh tim (Congenital Heart Disease - CHD): Khiếm khuyết cấu trúc buồng tim, van tim hoặc các mạch máu lớn xuất hiện trong giai đoạn phôi thai, được phân loại thành nhóm tim bẩm sinh có luồng thông trái - phải (không tím), nhóm có luồng thông phải - trái (tim bẩm sinh tím) và nhóm không có luồng thông.
  • Khả năng đáp ứng y tế: Tổng hợp các nguồn lực sẵn có về nhân lực, vật lực, công nghệ và cơ chế vận hành nhằm thỏa mãn nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người bệnh.
  • Quy trình quản lý điều trị: Chuỗi hoạt động liên hoàn từ tiếp đón, khám sàng lọc, chẩn đoán cận lâm sàng, hội chẩn liên chuyên khoa đến can thiệp tim mạch, phẫu thuật tim kín/tim hở và chăm sóc sau mổ.

Hệ thống căn cứ pháp lý của nghiên cứu dựa trên Luật Khám bệnh, chữa bệnh, Luật Bảo hiểm y tế, Quyết định số 1313/QĐ-BYT về quy trình khám bệnh tại khoa khám bệnh và Bộ 83 Tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện do Bộ Y tế ban hành.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp hồi cứu số liệu thứ cấp giai đoạn 5 năm (từ ngày 01/01/2018 đến ngày 31/12/2022).

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu:

  • Cỡ mẫu nhu cầu khám chữa bệnh: Thu thập toàn bộ 100% hồ sơ dữ liệu của 37.580 lượt bệnh nhi mắc DTBST đến khám, điều trị nội trú và ngoại trú tại Bệnh viện Nhi đồng 2 trong suốt giai đoạn 2018 - 2022 (trung bình 7.516 lượt/năm, trong đó tổng số lượt điều trị nội trú là 5.784 lượt).
  • Cỡ mẫu năng lực đáp ứng: Khảo sát toàn bộ 100% nhân lực y tế tại các khoa lâm sàng, cận lâm sàng, phòng chức năng liên quan và toàn bộ hệ thống trang thiết bị y tế chuyên dụng ghi nhận tại thời điểm 31/12/2022.
  • Lý do lựa chọn phương pháp chọn mẫu toàn bộ: Đảm bảo tính bao phủ tuyệt đối của dữ liệu thực tế tại cơ sở y tế tuyến cuối, hạn chế tối đa sai số chọn mẫu và phản ánh chính xác xu hướng biến động qua từng năm.

Nguồn dữ liệu được trích xuất từ hệ thống phần mềm quản trị bệnh viện (HIS), hồ sơ bệnh án điện tử, sổ thống kê báo cáo chuyên môn hàng năm. Số liệu được kiểm tra, làm sạch, mã hóa theo danh mục bệnh tật quốc tế ICD-10 và xử lý bằng các thuật toán thống kê y sinh học trên phần mềm chuyên dụng. Phân tích thống kê mô tả tính toán các tần số, tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình và độ lệch chuẩn để so sánh đối chiếu với các chỉ tiêu định biên ngành y tế.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về quy mô và phân bố hình thức điều trị, trong giai đoạn 2018 - 2022, trung bình mỗi năm Bệnh viện Nhi đồng 2 tiếp nhận 7.516 lượt bệnh nhi DTBST. Hình thức điều trị ngoại trú chiếm ưu thế tuyệt đối với 6.359 lượt/năm (chiếm 84,61%), trong khi điều trị nội trú là 1.157 lượt/năm (chiếm 15,39%). Phân bố theo địa dư cho thấy 84,18% bệnh nhi điều trị nội trú đến từ các huyện ngoại thành TP.HCM và các tỉnh lân cận, chỉ có 15,82% bệnh nhi cư trú tại các quận nội thành.

Thứ hai, về cơ cấu bệnh tật và độ tuổi chẩn đoán, trong tổng số 5.784 lượt điều trị nội trú qua 5 năm:

  • Bệnh DTBST không tím chiếm tỷ lệ lớn nhất với 45,75% (2.646 lượt).
  • Bệnh DTBST có tím chiếm 20,83% (1.205 lượt).
  • Bệnh DTBST không có luồng thông (shunt) chiếm 8,35% (483 lượt).
  • Các dạng dị tật bẩm sinh tim phối hợp khác chiếm 25,07% (1.450 lượt).

Về nhóm tuổi, bệnh nhi dưới 6 tháng tuổi chiếm tới 45,75% tổng số ca nội trú (trong đó dưới 1 tháng tuổi chiếm 19,87% và từ 1 đến dưới 6 tháng chiếm 25,88%). Nhóm từ 6 đến dưới 12 tháng tuổi chiếm 18,15%, nhóm 1 đến dưới 2 tuổi chiếm 13,28%, nhóm 2 đến 5 tuổi chiếm 12,74% và trên 5 tuổi chiếm 10,08%. Tuổi chẩn đoán trung bình của bệnh nhi nội trú dao động từ 1,54 ± 2,83 tuổi đến 1,99 ± 2,95 tuổi, thấp hơn đáng kể so với nhóm ngoại trú (từ 2,24 ± 2,76 tuổi đến 3,09 ± 3,36 tuổi).

Thứ ba, về mức độ nặng và thời gian nằm viện, tỷ lệ bệnh nhi nhập viện trong tình trạng cấp cứu chiếm trung bình 21,78% (riêng năm 2021 tăng vọt lên 30,13% do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19). Số ngày điều trị trung bình cho một đợt nội trú là 17,3 ngày (dao động từ 12,87 ± 15,80 ngày năm 2022 đến 28,46 ± 30,80 ngày năm 2021). Đáng chú ý, nhóm bệnh nhi có thời gian nằm viện kéo dài từ 20 ngày trở lên chiếm tỷ lệ rất cao với 26,56%, nhóm từ 5 đến 9 ngày chiếm 26,88% và dưới 5 ngày chiếm 22,49%.

Thứ tư, về năng lực chẩn đoán tuyến dưới và hiệu suất phẫu thuật, năm 2022 ghi nhận 512 ca chuyển tuyến từ các cơ sở y tế tuyến dưới, trong đó tỷ lệ chẩn đoán đúng chỉ đạt 63,87% (327 ca), đặc biệt các ca chuyển từ khối y tế tư nhân chỉ đạt độ chính xác 5,26%. Về khả năng giải quyết phẫu thuật, bệnh viện thực hiện phẫu thuật thành công cho hơn 250 ca DTBST mỗi năm với đội ngũ ekip phẫu thuật tim hở chuyên sâu.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện nghiên cứu phản ánh bức tranh đa chiều về áp lực cung ứng dịch vụ y tế chuyên sâu tại Bệnh viện Nhi đồng 2. Toàn bộ diễn biến số liệu khám chữa bệnh qua 5 năm có thể được mô hình hóa trực quan qua biểu đồ đường thể hiện xu hướng giảm sâu vào năm 2021 do giãn cách xã hội (tổng lượt khám toàn viện giảm còn 593.000 lượt so với mức đỉnh 1.232.000 lượt năm 2019) và sự phục hồi nhanh chóng trong năm 2022. Đồng thời, một biểu đồ cột chồng kết hợp bảng chéo đa biến sẽ làm nổi bật sự phân hóa rõ nét giữa cơ cấu bệnh lý tim bẩm sinh có tím (20,83%) và không tím (45,75%) theo từng nhóm tuổi.

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng 84,18% bệnh nhi đến từ các tỉnh thành khác là do năng lực phẫu thuật tim hở và thông tim can thiệp sơ sinh hiện chỉ tập trung tại 5 trung tâm lớn trên toàn quốc, trong đó khu vực phía Nam chủ yếu phụ thuộc vào Bệnh viện Nhi đồng 2, Bệnh viện Nhi đồng 1 và Viện Tim TP.HCM. Tỷ lệ chẩn đoán đúng tuyến dưới ở mức 63,87% cho thấy năng lực sàng lọc trước sinh và chẩn đoán ban đầu tại tuyến cơ sở còn nhiều khoảng trống. Điều này giải thích tại sao tỷ lệ nhập viện cấp cứu lên đến 21,78% và tỷ lệ nằm viện trên 20 ngày chiếm tới 26,56%, làm gia tăng gánh nặng tài chính và áp lực công suất giường bệnh nội trú.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng thực tiễn từ kết quả nghiên cứu, bốn nhóm giải pháp chiến lược được đề xuất nhằm nâng cao năng lực khám, điều trị bệnh nhi DTBST:

  1. Nâng cao năng lực sàng lọc và chỉ đạo tuyến cơ sở: Phòng Chỉ đạo tuyến phối hợp với Khoa Tim mạch tổ chức các chương trình đào tạo chuyển giao kỹ thuật siêu âm tim thai và chẩn đoán DTBST sơ sinh cho 15 tỉnh thành khu vực Đông Nam Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Mục tiêu giai đoạn 2024 - 2026 là nâng tỷ lệ chẩn đoán đúng của tuyến dưới từ 63,87% lên trên 85%, giúp phát hiện sớm và xử trí ban đầu kịp thời.
  2. Mở rộng quy mô hạ tầng và đầu tư trang thiết bị chuyên sâu: Ban Giám đốc và Phòng Vật tư - Trang thiết bị y tế lập đề án bổ sung 02 phòng mổ tim chuyên biệt đạt chuẩn vô khuẩn quốc tế, trang bị thêm hệ thống tuần hoàn ngoài cơ thể (CPB), máy hạ thân nhiệt chỉ huy và máy thở cao tần sơ sinh. Mục tiêu nâng công suất phẫu thuật tim từ 250 ca/năm lên 400 ca/năm trong giai đoạn 2024 - 2027, giảm tỷ lệ chờ mổ kéo dài.
  3. Chuẩn hóa quy trình hội chẩn và quản lý bệnh án điện tử: Phòng Kế hoạch tổng hợp cùng Khoa Tim mạch xây dựng phác đồ quản lý ngoại trú chuẩn hóa trên nền tảng hồ sơ bệnh án điện tử (EMR) cho hơn 6.300 bệnh nhi theo dõi ngoại trú hàng năm. Rút ngắn thời gian chờ đợi hội chẩn liên viện và chuẩn bị trước mổ, hướng tới giảm số ngày điều trị nội trú trung bình từ 17,3 ngày xuống dưới 12 ngày vào năm 2025.
  4. Phát triển nguồn nhân lực và mở rộng tài chính y tế: Phòng Tổ chức cán bộ cử các kíp bác sĩ phẫu thuật, gây mê hồi sức và điều dưỡng đi đào tạo chuyên sâu tại Pháp, Ireland và Viện Tim TP.HCM. Đồng thời, Phòng Công tác xã hội tăng cường kết nối các quỹ tài trợ nhân đạo để hỗ trợ 100% chi phí ngoài phạm vi BHYT chi trả cho bệnh nhi có hoàn cảnh khó khăn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Ban Giám đốc và cán bộ quản lý bệnh viện chuyên khoa Nhi, Tim mạch: Cung cấp khung phương pháp luận và dữ liệu thực chứng để xây dựng kế hoạch phân bổ nguồn lực, tính toán định biên nhân sự và tối ưu hóa quy trình luân chuyển giường bệnh nội trú.
  • Bác sĩ chuyên khoa Tim mạch Nhi, bác sĩ Hồi sức cấp cứu và Phẫu thuật viên lồng ngực: Nắm bắt chi tiết mô hình bệnh tật DTBST (tỷ lệ 45,75% thể không tím, 20,83% thể tím), đặc điểm lâm sàng theo từng nhóm tuổi sơ sinh để cải tiến phác đồ điều trị và chăm sóc sau mổ.
  • Lãnh đạo Sở Y tế và cán bộ làm công tác Chỉ đạo tuyến: Sử dụng số liệu thực trạng chuyển tuyến (84,18% bệnh nhân ngoại tỉnh, độ chính xác tuyến dưới 63,87%) làm căn cứ quy hoạch mạng lưới y tế cơ sở và đẩy mạnh chương trình đào tạo y tế từ xa (Telehealth).
  • Học viên sau đại học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý bệnh viện và Y tế công cộng: Tham khảo thiết kế nghiên cứu mô tả hồi cứu toàn bộ, cách xây dựng bảng biến số đánh giá cung - cầu y tế và kỹ thuật xử lý dữ liệu hồ sơ bệnh án lớn.

Câu hỏi thường gặp

Bệnh viện Nhi đồng 2 tiếp nhận bao nhiêu lượt khám chữa bệnh dị tật bẩm sinh tim mỗi năm? Trong giai đoạn 2018 - 2022, trung bình mỗi năm bệnh viện tiếp nhận 7.516 lượt bệnh nhi DTBST, chiếm tỷ lệ 0,52% tổng số lượt khám chữa bệnh toàn viện. Trong đó, điều trị ngoại trú chiếm 84,61% (6.359 lượt) và điều trị nội trú chiếm 15,39% (1.157 lượt).

Tại sao phần lớn bệnh nhi điều trị nội trú lại đến từ các tỉnh thành khác? Có tới 84,18% bệnh nhi điều trị nội trú đến từ các tỉnh thành ngoài TP.HCM do năng lực phẫu thuật tim hở và hồi sức sơ sinh phức tạp tại tuyến tỉnh còn hạn chế. Bệnh viện Nhi đồng 2 là trung tâm chuyên sâu phụ trách chỉ đạo tuyến toàn diện cho các tỉnh phía Nam.

Đặc điểm mô hình bệnh tật tim bẩm sinh nội trú tại bệnh viện như thế nào? Bệnh DTBST không tím chiếm tỷ lệ cao nhất với 45,75%, tiếp theo là nhóm DTBST có tím chiếm 20,83%, các dạng bệnh tim bẩm sinh phối hợp khác chiếm 25,07% và nhóm không có luồng thông chiếm 8,35% tổng số 5.784 lượt nội trú khảo sát.

Độ chính xác trong chẩn đoán ban đầu của tuyến dưới chuyển lên đạt mức nào? Năm 2022, trong số 512 bệnh nhi chuyển từ tuyến dưới lên, tỷ lệ chẩn đoán đúng của các bệnh viện tuyến trước đạt 63,87%. Đáng lưu ý, tỷ lệ chẩn đoán chính xác từ các cơ sở y tế tư nhân chỉ đạt mức 5,26%.

Thời gian nằm viện trung bình của một bệnh nhi dị tật bẩm sinh tim là bao lâu? Số ngày điều trị trung bình cho một đợt nội trú là 17,3 ngày, biến thiên từ 12,87 ngày (năm 2022) đến 28,46 ngày (năm 2021). Nhóm bệnh nhi nằm viện kéo dài từ 20 ngày trở lên chiếm tỷ lệ đáng kể với 26,56% do tính chất bệnh nặng và phức tạp.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện nhu cầu khám chữa bệnh DTBST tại Bệnh viện Nhi đồng 2 giai đoạn 2018 - 2022 với quy mô 7.516 lượt/năm, khẳng định vai trò bệnh viện hạt nhân tuyến cuối khi có tới 84,18% bệnh nhi nội trú đến từ các tỉnh lân cận.
  • Mô hình bệnh tật ghi nhận tỷ lệ DTBST thể không tím chiếm 45,75% và thể tím chiếm 20,83%, tập trung chủ yếu ở nhóm trẻ dưới 6 tháng tuổi (45,75%) và tỷ lệ nhập viện cấp cứu chiếm 21,78%.
  • Năng lực đáp ứng của bệnh viện đã triển khai tốt các kỹ thuật mổ tim hở và thông tim can thiệp phức tạp với hơn 250 ca phẫu thuật mỗi năm, tuy nhiên vẫn chịu áp lực lớn về số ngày nằm viện kéo dài (26,56% ca nằm trên 20 ngày) và hạn chế chẩn đoán từ tuyến cơ sở (độ chính xác 63,87%).
  • Công trình đóng góp hệ thống dữ liệu thực chứng chuẩn xác theo tiêu chuẩn quản trị bệnh viện hiện đại, đề xuất lộ trình 4 nhóm giải pháp khả thi về chỉ đạo tuyến, đầu tư trang thiết bị, cải tiến quy trình quản lý và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
  • Lộ trình tiếp theo cần tập trung số hóa toàn diện quy trình hội chẩn liên viện, mở rộng năng lực phẫu thuật lên 400 ca/năm và đẩy mạnh chuyển giao kỹ thuật cho tuyến tỉnh nhằm nâng cao chất lượng sống cho bệnh nhi mắc bệnh tim bẩm sinh.