Thực trạng ứng dụng CNTT trong quản lý tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương (2017)

Nghiên cứu đánh giá thực trạng ứng dụng CNTT trong quản lý khám bệnh tại Bệnh viện Lão khoa TƯ: hạ tầng, phần mềm, thuận lợi và khó khăn.

Trường đại học

Đại học Y tế Công cộng

Chuyên ngành

Quản lý Bệnh viện

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sỹ

2017

134
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Bệnh viện Lão khoa Trung ương

Bệnh viện Lão khoa Trung ương là một cơ sở y tế hàng đầu tại Việt Nam, chuyên cung cấp dịch vụ y tế cho người cao tuổi. Trong bối cảnh phát triển công nghệ thông tin toàn cầu, bệnh viện đã bắt đầu ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý y tế. Việc nghiên cứu thực trạng CNTT tại bệnh viện năm 2017 giúp đánh giá hiện trạng hạ tầng công nghệ, từ đó xác định những ưu điểm và hạn chế trong ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác khám, chữa bệnh. Nhóm tác giả Nguyễn Đức Luyện đã thực hiện nghiên cứu chi tiết về quản lý công nghệ thông tin tại bệnh viện lão khoa.

1.1. Vai trò của công nghệ thông tin trong y tế

Công nghệ thông tin đóng vai trò quan trọng trong hiện đại hóa hệ thống y tế. Tại bệnh viện lão khoa trung ương, CNTT giúp cải thiện chất lượng dịch vụ, tối ưu hóa quy trình quản lý bệnh nhân. Ứng dụng công nghệ thông tin cho phép lưu trữ dữ liệu an toàn, cấp phát tài nguyên hiệu quả, và nâng cao hiệu suất làm việc của nhân viên y tế.

1.2. Bối cảnh phát triển CNTT tại Việt Nam

Tại Việt Nam, ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ sở y tế vẫn còn ở giai đoạn phát triển. Thực trạng công nghệ thông tin tại các bệnh viện cho thấy sự đầu tư không đều đặn, thiếu chiến lược dài hạn. Bệnh viện lão khoa trung ương là một trong những cơ sở tiên phong trong ứng dụng CNTT cho quản lý khám, chữa bệnh tại Việt Nam.

II. Thực trạng hạ tầng công nghệ thông tin

Hạ tầng công nghệ thông tin tại bệnh viện lão khoa trung ương bao gồm hệ thống máy tính, máy in, mạng LAN, và kết nối internet. Theo kết quả nghiên cứu năm 2017, hạ tầng CNTT tại bệnh viện còn gặp nhiều hạn chế như mạng kết nối không ổn định, thiếu máy tính tại một số phòng khám. Việc đầu tư về hạ tầng công nghệ thông tin vẫn chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của các khoa phòng. Số lượng thiết bị CNTT không cân đối giữa các khoa lâm sàng và khoa hành chính. Thực trạng hạ tầng công nghệ cho thấy sự thiếu hụt về mặt trang thiết bị và độ tin cậy của hệ thống.

2.1. Tình hình kết nối mạng và thiết bị

Hạ tầng mạng LAN tại bệnh viện lão khoa hiện chưa đạt tiêu chuẩn tối ưu. Kết nối internet bệnh viện gặp sự cố thường xuyên, ảnh hưởng đến ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý. Số lượng máy tính, máy in tại các khoa phòng chưa đáp ứng nhu cầu thực tế. Thực trạng CNTT cho thấy việc nâng cấp hạ tầng cơ sở vật chất là ưu tiên hàng đầu.

2.2. Đầu tư tài chính cho CNTT

Mức chi tài chính cho lĩnh vực công nghệ thông tin năm 2015-2016 tại bệnh viện lão khoa trung ương còn hạn chế. Thực trạng ngân sách CNTT cho thấy sự phân bổ không đều giữa các khoản đầu tư, bảo trì hệ thống và mua sắm thiết bị mới. Việc tăng cường đầu tư công nghệ thông tin là điều cần thiết để nâng cao ứng dụng CNTT trong công tác quản lý y tế.

III. Thực trạng ứng dụng phần mềm quản lý

Phần mềm quản lý tại bệnh viện lão khoa trung ương bao gồm các phân hệ khám bệnh, tiếp nhận, quản lý lâm sàng, quản lý dược, quản lý viện phí BHYT, và quản lý cận lâm sàng. Tuy nhiên, thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin cho thấy các phần mềm này chưa được tích hợp hoàn toàn. Tình trạng phần mềm gặp khó khăn về độ tương thích, thiếu tính năng cần thiết, và chưa được đa số nhân viên y tế sử dụng hiệu quả. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý còn bị hạn chế do thiếu đào tạo cho người dùng. Các phân hệ phần mềm chưa được tối ưu hóa công nghệ thông tin theo tiêu chuẩn quốc tế.

3.1. Các phân hệ phần mềm hiện có

Bệnh viện lão khoa trung ương sử dụng nhiều phần mềm quản lý như hệ thống khám bệnh, tiếp nhận bệnh nhân, quản lý hồ sơ bệnh án. Phần mềm CNTT cho quản lý dược giúp theo dõi kho dược phẩm, cấp phát thuốc. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý viện phí và BHYT hỗ trợ tính toán chi phí khám chữa bệnh. Tuy nhiên, thực trạng phần mềm cho thấy các hệ thống này vẫn hoạt động độc lập, chưa tích hợp hoàn toàn.

3.2. Hiệu quả và hạn chế của phần mềm

Phần mềm quản lý hiện có mang lại một số lợi ích như cải thiện tốc độ xử lý dữ liệu, giảm sai sót nhân công. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý bệnh án giúp lưu trữ thông tin bệnh nhân an toàn. Tuy nhiên, thực trạng CNTT cho thấy các phần mềm còn thiếu tính năng nâng cao, không hỗ trợ đầy đủ các quy trình phức tạp trong quản lý khám chữa bệnh.

IV. Thuận lợi và khó khăn trong ứng dụng CNTT

Ứng dụng công nghệ thông tin tại bệnh viện lão khoa trung ương gặp phải cả những yếu tố thuận lợi và khó khăn. Thuận lợi bao gồm sự cam kết của lãnh đạo bệnh viện, sự hỗ trợ của bộ Y tế, nhu cầu cấp thiết của nhân viên y tế. Khó khăn chính là thiếu nguồn lực tài chính, hạn chế về kiến thức công nghệ của đội ngũ, sự chống đối của một số nhân viên. Thực trạng CNTT cho thấy sự không đồng nhất giữa các khoa phòng trong ứng dụng công nghệ thông tin. Cần có kế hoạch toàn diện để nâng cao ứng dụng CNTT và vượt qua các rào cản.

4.1. Các yếu tố thuận lợi

Thuận lợi trong ứng dụng CNTT bao gồm sự ủng hộ từ Ban Giám đốc bệnh viện lão khoa trung ương, nhân viên phòng Công nghệ thông tin có kiến thức chuyên môn. Ứng dụng công nghệ thông tin được hỗ trợ bởi các chính sách của Bộ Y tế. Thực trạng CNTT cho thấy bệnh viện có cơ sở vật chất ban đầu để phát triển thêm. Nhân viên y tế có nhu cầu học hỏi và sử dụng công nghệ thông tin để cải thiện công việc.

4.2. Những thách thức cần giải quyết

Khó khăn trong ứng dụng CNTT chính là chi phí đầu tư lớn, thiếu kế hoạch dài hạn, hiểu biết về công nghệ thông tin của nhân viên còn hạn chế. Thực trạng CNTT tại bệnh viện lão khoa cho thấy sự thiếu hụt nhân lực CNTT chuyên môn. Ứng dụng công nghệ thông tin gặp khó khăn do cơ sở dữ liệu chưa chuẩn hóa, thiếu quy định rõ ràng. Cần đào tạo liên tục, xây dựng chiến lược CNTT bền vững để vượt qua những thách thức này.

20/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Trải qua 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội [46]. Đời sống nhân dân được cải thiện nên nhu cầu về chăm sóc sức khỏe cũng ngày càng cao. Với mục tiêu làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân thì ngành Y tế cũng đề ra nhiều chiến lược, giải pháp để đáp ứng nhu cầu đó. Một trong những giải pháp quan trọng là đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong y tế nhằm nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh và sự hài lòng của người bệnh.

Công nghệ thông tin là công cụ quan trọng phục vụ công tác thu thập, xử lý, tổng hợp, phân tích, công bố thông tin, xây dựng ngân hàng dữ liệu thống kê y tế. Việc ứng dụng CNTT trong y tế không chỉ nâng cao chất lượng số liệu mà còn tăng cường quản lý, điều hành của các cơ sở y tế, góp phần nâng cao hiệu quả công tác và chất lượng dịch vụ y tế [9] [18]. Theo thống kê của Cục Công nghệ thông tin, Bộ Y tế thì đến tháng 11 năm 2015 có 100% bệnh viện tuyến Trung ương, 68% bệnh viện tuyến tỉnh và 61% bệnh viện tuyến huyện đã triển khai phần mềm quản lý khám chữa bệnh. 95% các bệnh viện hạng đặc biệt, bệnh viện hạng I thành lập phòng CNTT và có cán bộ chuyên trách [21] [25].

Có nhiều chương trình phần mềm được xây dựng và ứng dụng vào mục đích quản lý tại các bệnh viện. Tuy nhiên các ứng dụng này không thống nhất dẫn đến khó khăn trong việc kết nối và đồng bộ hóa trong phạm vi bệnh viện và giữa các bệnh viện với nhau. Việc ứng dụng CNTT còn gặp nhiều vướng mắc. Nhiều cơ sở khám chữa bệnh trên toàn quốc chưa sử dụng các công cụ CNTT hoặc sử dụng nhiều hệ thống do các đối tác khác nhau cung cấp trên các nền tảng khác nhau, ứng dụng CNTT nhiều nơi vẫn tự phát, manh mún, chưa có tính hệ thống, thiếu chú trọng đến các tiêu chuẩn nên chưa thể kết nối, chia sẻ dữ liệu, trao đổi thông tin được với nhau [25].

Bệnh viện Lão khoa Trung ương là bệnh viện đầu nghành về bảo vệ và chăm sóc sức khỏe người cao tuổi. Tiền thân của Bệnh viện là Viện sức khỏe người có tuổi được thành lập ngày 15 tháng 11 năm 1983 trực thuộc Bệnh viện Bạch Mai, đến 2 năm 2006 Viện Lão khoa quốc gia trực thuộc Bộ Y tế được thành lập (năm 2010 đổi tên thành Bệnh viện Lão khoa Trung ương) [1]. Sau 10 năm tách khỏi bệnh viện Bạch Mai, lượng bệnh nhân khám và điều trị nội trú tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương tăng gấp hơn 10 lần, vì vậy đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong quản lý khám, chữa bệnh là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của bệnh viện nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm thời gian khám và tăng sự hài lòng của người bệnh, đặc biệt đối với người cao tuổi [1] [2] [29]. CNTT được triển khai tại bệnh viện từ năm 2006 với một máy chủ và khoảng 50 máy tính.

Đến nay bệnh viện đã có hai máy chủ và trên 100 máy tính đảm bảo về cơ bản hoạt động phục vụ người bệnh tại các khoa, phòng. Từ khi hoạt động chưa có nghiên cứu nào về lĩnh vực CNTT tại bệnh viện. Để tìm hiểu rõ hơn các vấn đề liên quan đến lĩnh vực CNTT: Hạ tầng, lợi ích mà việc ứng dụng CNTT mang lại, có những thuận lợi và khó khăn gì gặp phải trong quá trình ứng dụng CNTT trên cơ sở đó sẽ khuyến nghị các giải pháp để hoạt động CNTT phục vụ người bệnh ngày một tốt hơn, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu: “Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý khám, chữa bệnh tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương, năm 2017”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.

Mô tả thực trạng hạ tầng và ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý khám, chữa bệnh tại bệnh viện Lão khoa Trung ương, năm 2017; 2. Tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn trong quá trình ứng dụng công nghệ thông tin tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Công nghệ thông tin (CNTT) Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số hóa [40].

Ứng dụng CNTT là việc sử dụng CNTT vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế, xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng hiệu quả của các hoạt động này [40]. Ứng dụng CNTT trong quản lý bệnh viện là việc ứng dụng CNTT vào quản lý các hoạt động khám, chữa bệnh trong bệnh viện, quản lý và điều hành các hoạt động khác của bệnh viện nhằm nâng cao hiệu quả công tác chẩn đoán, điều trị, chăm sóc sức khỏe người bệnh [7]. Cơ sở hạ tầng thông tin bệnh viện là hệ thống trang thiết bị trong bệnh viện phục vụ sản xuất, dẫn truyền, thu thập, lưu trữ và trao đổi thông tin số hóa; bao gồm mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính nội bộ và cơ sở dữ liệu bệnh viện [7]. Phần cứng là sản phẩm thiết bị số hoàn chỉnh, bộ phận của thiết bị số, cụm linh kiện, linh kiện [7].

Phần mềm là chương trình máy tính được mô tả bằng hệ thống ký hiệu, mã hoặc ngôn ngữ để điều khiển thiết bị số thực hiện chức năng nhất định [7]. Phần mềm quản lý bệnh viện là phần mềm đáp ứng được công tác quản lý xuyên suốt và đồng bộ quá trình khám chữa bệnh của người bệnh từ khi đăng ký khám bệnh, điều trị cho đến khi xuất viện. Phần mềm này bao gồm ít nhất các mô-dun quản lý sau: Quản lý khoa Khám bệnh và bệnh nhân ngoại trú, quản lý người bệnh nội trú, quản lý cận lâm sàng, xét nghiệm và kết quả cận lâm sàng, quản lý khoa Dược và công tác dược bệnh viện [6] [24]. Trang thông tin điện tử (Website) là trang thông tin hoặc một tập hợp trang thông tin trên môi trường mạng, phục vụ cho việc cung cấp, trao đổi thông tin [7].

Bệnh viện và quản lý bệnh viện Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO): “Bệnh viện là một phần không thể thiếu của một tổ chức y tế xã hội, có chức năng cung cấp cho dân cư các dịch vụ chữa trị và phòng bệnh toàn diện, cũng như các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại gia đình; bệnh viện là trung tâm đào tạo các nhân viên y tế và nghiên cứu khoa học” [36] [44]. Bệnh viện là một hệ thống lớn bao gồm Ban Giám đốc, các phòng nghiệp vụ, các khoa lâm sàng, cận lâm sàng. Bệnh viện là một phức hợp bao gồm rất nhiều yếu tố có liên quan mật thiết từ khám bệnh, người bệnh vào viện, chẩn đoán, điều trị, chăm sóc. Bệnh viện là một tổ chức hoạt động bao gồm đầu vào là người bệnh, cán bộ y tế, trang thiết bị, thuốc cần có để chẩn đoán và điều trị.

Đầu ra là người bệnh khỏi bệnh ra viện, phục hồi sức khỏe hoặc tử vong [36] [44].  Chức năng, nhiệm vụ của bệnh viện [4]. - Cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh; - Phòng bệnh; - Đào tạo cán bộ y tế; - Chỉ đạo tuyến; - Nghiên cứu khoa học; - Hợp tác quốc tế; - Quản lý kinh tế y tế.  Nội dung về quản lý bệnh viện - Quản lý người bệnh khám, điều trị ngoại trú; - Quản lý lâm sàng, người bệnh nội trú; - Quản lý cận lâm sàng: Xét nghiệm, CĐHA, TDCN; - Quản lý dược, vật tư tiêu hao; - Quản lý thu, chi tài chính, viện phí và BHYT; - Quản lý nhân sự, tiền lương; - Quản lý chỉ đạo tuyến và nghiên cứu khoa học; - Quản lý cơ sở hạ tầng, trang thiết bị y tế.

Công nghệ thông tin trong y tế 1. Các khái niệm về công nghệ thông tin trong y tế Công nghệ thông tin trong y tế là sự kết hợp của khoa học thông tin, khoa học máy tính và khoa học chăm sóc sức khỏe. Nó giải quyết các vấn đề về nguồn lực, thiết bị và các biện pháp được yêu cầu để tối ưu hóa thu nhập, lưu trữ, khôi phục và sử dụng các thông tin về sức khỏe và y sinh học. Việc ứng dụng CNTT trong y tế không chỉ đơn thuần là làm việc với máy tính mà còn là các chỉ dẫn lâm sàng, các thông tin về y tế và hệ thống trao đổi, tương tác thông tin.

Công nghệ thông tin y tế áp dụng vào tất cả các lĩnh vực bao gồm chăm sóc lâm sàng, điều dưỡng, dược, sức khỏe cộng đồng và các nghiên cứu về y tế [39]. Công nghệ thông tin y tế là việc áp dụng quá trình xử lý thông tin liên quan tới phần mềm máy tính và các phần mềm để giải quyết việc lưu trữ, khôi phục, chia sẻ và sử dụng các thông tin y tế, các dữ liệu và kiến thức cho việc giao tiếp và quyết định lựa chọn [39]. Công nghệ thông tin y tế bao gồm tập hợp các công nghệ về trao đổi và quản lý các thông tin y tế được sử dụng bởi các khách hàng, nhà cung cấp, người trả chi phí, bảo hiểm y tế và tất cả những đối tượng quan tâm tới sức khỏe và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe mà cụ thể là lưu trữ và xử lý số liệu của bệnh nhân. Công nghệ này bao gồm sự sắp xếp có thứ tự khác nhau một cách có hệ thống, được liên kết với nhau làm cho các Bác sỹ liên hệ với nhau dễ dàng ví dụ như lưu trữ số liệu bằng máy vi tính, thông báo kết quả ở các labo, cho phép các nhà lâm sàng chia sẻ các thông tin về bệnh nhân không giới hạn về biên giới địa lý (thường được gọi là kết nối và các hệ thống có thể trao đổi với nhau) [45] [47].

Một số mô hình công nghệ thông tin y tế HIS (Hospital Information System): Hệ thống thông tin bệnh viện, phục vụ công tác quản lý, điều hành tại các bệnh viện với các chức năng chính: Quản lý thông tin người bệnh và bệnh sử, quản lý người bệnh đến khám và điều trị nội và ngoại trú, quản lý bệnh án, dược, tài chính, viện phí, BHYT, trang thiết bị vật tư y tế, nhân sự… Ngày nay hệ thống thông tin bệnh viện là công cụ tối ưu hóa trong quản lý điều hành tại các bệnh viện [28].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ