ĐẶT VẤN ĐỀ Trải qua 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội [46]. Đời sống nhân dân được cải thiện nên nhu cầu về chăm sóc sức khỏe cũng ngày càng cao. Với mục tiêu làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân thì ngành Y tế cũng đề ra nhiều chiến lược, giải pháp để đáp ứng nhu cầu đó. Một trong những giải pháp quan trọng là đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong y tế nhằm nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh và sự hài lòng của người bệnh.
Công nghệ thông tin là công cụ quan trọng phục vụ công tác thu thập, xử lý, tổng hợp, phân tích, công bố thông tin, xây dựng ngân hàng dữ liệu thống kê y tế. Việc ứng dụng CNTT trong y tế không chỉ nâng cao chất lượng số liệu mà còn tăng cường quản lý, điều hành của các cơ sở y tế, góp phần nâng cao hiệu quả công tác và chất lượng dịch vụ y tế [9] [18]. Theo thống kê của Cục Công nghệ thông tin, Bộ Y tế thì đến tháng 11 năm 2015 có 100% bệnh viện tuyến Trung ương, 68% bệnh viện tuyến tỉnh và 61% bệnh viện tuyến huyện đã triển khai phần mềm quản lý khám chữa bệnh. 95% các bệnh viện hạng đặc biệt, bệnh viện hạng I thành lập phòng CNTT và có cán bộ chuyên trách [21] [25].
Có nhiều chương trình phần mềm được xây dựng và ứng dụng vào mục đích quản lý tại các bệnh viện. Tuy nhiên các ứng dụng này không thống nhất dẫn đến khó khăn trong việc kết nối và đồng bộ hóa trong phạm vi bệnh viện và giữa các bệnh viện với nhau. Việc ứng dụng CNTT còn gặp nhiều vướng mắc. Nhiều cơ sở khám chữa bệnh trên toàn quốc chưa sử dụng các công cụ CNTT hoặc sử dụng nhiều hệ thống do các đối tác khác nhau cung cấp trên các nền tảng khác nhau, ứng dụng CNTT nhiều nơi vẫn tự phát, manh mún, chưa có tính hệ thống, thiếu chú trọng đến các tiêu chuẩn nên chưa thể kết nối, chia sẻ dữ liệu, trao đổi thông tin được với nhau [25].
Bệnh viện Lão khoa Trung ương là bệnh viện đầu nghành về bảo vệ và chăm sóc sức khỏe người cao tuổi. Tiền thân của Bệnh viện là Viện sức khỏe người có tuổi được thành lập ngày 15 tháng 11 năm 1983 trực thuộc Bệnh viện Bạch Mai, đến 2 năm 2006 Viện Lão khoa quốc gia trực thuộc Bộ Y tế được thành lập (năm 2010 đổi tên thành Bệnh viện Lão khoa Trung ương) [1]. Sau 10 năm tách khỏi bệnh viện Bạch Mai, lượng bệnh nhân khám và điều trị nội trú tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương tăng gấp hơn 10 lần, vì vậy đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong quản lý khám, chữa bệnh là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của bệnh viện nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm thời gian khám và tăng sự hài lòng của người bệnh, đặc biệt đối với người cao tuổi [1] [2] [29]. CNTT được triển khai tại bệnh viện từ năm 2006 với một máy chủ và khoảng 50 máy tính.
Đến nay bệnh viện đã có hai máy chủ và trên 100 máy tính đảm bảo về cơ bản hoạt động phục vụ người bệnh tại các khoa, phòng. Từ khi hoạt động chưa có nghiên cứu nào về lĩnh vực CNTT tại bệnh viện. Để tìm hiểu rõ hơn các vấn đề liên quan đến lĩnh vực CNTT: Hạ tầng, lợi ích mà việc ứng dụng CNTT mang lại, có những thuận lợi và khó khăn gì gặp phải trong quá trình ứng dụng CNTT trên cơ sở đó sẽ khuyến nghị các giải pháp để hoạt động CNTT phục vụ người bệnh ngày một tốt hơn, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu: “Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý khám, chữa bệnh tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương, năm 2017”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mô tả thực trạng hạ tầng và ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý khám, chữa bệnh tại bệnh viện Lão khoa Trung ương, năm 2017; 2. Tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn trong quá trình ứng dụng công nghệ thông tin tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Công nghệ thông tin (CNTT) Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số hóa [40].
Ứng dụng CNTT là việc sử dụng CNTT vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế, xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng hiệu quả của các hoạt động này [40]. Ứng dụng CNTT trong quản lý bệnh viện là việc ứng dụng CNTT vào quản lý các hoạt động khám, chữa bệnh trong bệnh viện, quản lý và điều hành các hoạt động khác của bệnh viện nhằm nâng cao hiệu quả công tác chẩn đoán, điều trị, chăm sóc sức khỏe người bệnh [7]. Cơ sở hạ tầng thông tin bệnh viện là hệ thống trang thiết bị trong bệnh viện phục vụ sản xuất, dẫn truyền, thu thập, lưu trữ và trao đổi thông tin số hóa; bao gồm mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính nội bộ và cơ sở dữ liệu bệnh viện [7]. Phần cứng là sản phẩm thiết bị số hoàn chỉnh, bộ phận của thiết bị số, cụm linh kiện, linh kiện [7].
Phần mềm là chương trình máy tính được mô tả bằng hệ thống ký hiệu, mã hoặc ngôn ngữ để điều khiển thiết bị số thực hiện chức năng nhất định [7]. Phần mềm quản lý bệnh viện là phần mềm đáp ứng được công tác quản lý xuyên suốt và đồng bộ quá trình khám chữa bệnh của người bệnh từ khi đăng ký khám bệnh, điều trị cho đến khi xuất viện. Phần mềm này bao gồm ít nhất các mô-dun quản lý sau: Quản lý khoa Khám bệnh và bệnh nhân ngoại trú, quản lý người bệnh nội trú, quản lý cận lâm sàng, xét nghiệm và kết quả cận lâm sàng, quản lý khoa Dược và công tác dược bệnh viện [6] [24]. Trang thông tin điện tử (Website) là trang thông tin hoặc một tập hợp trang thông tin trên môi trường mạng, phục vụ cho việc cung cấp, trao đổi thông tin [7].
Bệnh viện và quản lý bệnh viện Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO): “Bệnh viện là một phần không thể thiếu của một tổ chức y tế xã hội, có chức năng cung cấp cho dân cư các dịch vụ chữa trị và phòng bệnh toàn diện, cũng như các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại gia đình; bệnh viện là trung tâm đào tạo các nhân viên y tế và nghiên cứu khoa học” [36] [44]. Bệnh viện là một hệ thống lớn bao gồm Ban Giám đốc, các phòng nghiệp vụ, các khoa lâm sàng, cận lâm sàng. Bệnh viện là một phức hợp bao gồm rất nhiều yếu tố có liên quan mật thiết từ khám bệnh, người bệnh vào viện, chẩn đoán, điều trị, chăm sóc. Bệnh viện là một tổ chức hoạt động bao gồm đầu vào là người bệnh, cán bộ y tế, trang thiết bị, thuốc cần có để chẩn đoán và điều trị.
Đầu ra là người bệnh khỏi bệnh ra viện, phục hồi sức khỏe hoặc tử vong [36] [44]. Chức năng, nhiệm vụ của bệnh viện [4]. - Cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh; - Phòng bệnh; - Đào tạo cán bộ y tế; - Chỉ đạo tuyến; - Nghiên cứu khoa học; - Hợp tác quốc tế; - Quản lý kinh tế y tế. Nội dung về quản lý bệnh viện - Quản lý người bệnh khám, điều trị ngoại trú; - Quản lý lâm sàng, người bệnh nội trú; - Quản lý cận lâm sàng: Xét nghiệm, CĐHA, TDCN; - Quản lý dược, vật tư tiêu hao; - Quản lý thu, chi tài chính, viện phí và BHYT; - Quản lý nhân sự, tiền lương; - Quản lý chỉ đạo tuyến và nghiên cứu khoa học; - Quản lý cơ sở hạ tầng, trang thiết bị y tế.
Công nghệ thông tin trong y tế 1. Các khái niệm về công nghệ thông tin trong y tế Công nghệ thông tin trong y tế là sự kết hợp của khoa học thông tin, khoa học máy tính và khoa học chăm sóc sức khỏe. Nó giải quyết các vấn đề về nguồn lực, thiết bị và các biện pháp được yêu cầu để tối ưu hóa thu nhập, lưu trữ, khôi phục và sử dụng các thông tin về sức khỏe và y sinh học. Việc ứng dụng CNTT trong y tế không chỉ đơn thuần là làm việc với máy tính mà còn là các chỉ dẫn lâm sàng, các thông tin về y tế và hệ thống trao đổi, tương tác thông tin.
Công nghệ thông tin y tế áp dụng vào tất cả các lĩnh vực bao gồm chăm sóc lâm sàng, điều dưỡng, dược, sức khỏe cộng đồng và các nghiên cứu về y tế [39]. Công nghệ thông tin y tế là việc áp dụng quá trình xử lý thông tin liên quan tới phần mềm máy tính và các phần mềm để giải quyết việc lưu trữ, khôi phục, chia sẻ và sử dụng các thông tin y tế, các dữ liệu và kiến thức cho việc giao tiếp và quyết định lựa chọn [39]. Công nghệ thông tin y tế bao gồm tập hợp các công nghệ về trao đổi và quản lý các thông tin y tế được sử dụng bởi các khách hàng, nhà cung cấp, người trả chi phí, bảo hiểm y tế và tất cả những đối tượng quan tâm tới sức khỏe và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe mà cụ thể là lưu trữ và xử lý số liệu của bệnh nhân. Công nghệ này bao gồm sự sắp xếp có thứ tự khác nhau một cách có hệ thống, được liên kết với nhau làm cho các Bác sỹ liên hệ với nhau dễ dàng ví dụ như lưu trữ số liệu bằng máy vi tính, thông báo kết quả ở các labo, cho phép các nhà lâm sàng chia sẻ các thông tin về bệnh nhân không giới hạn về biên giới địa lý (thường được gọi là kết nối và các hệ thống có thể trao đổi với nhau) [45] [47].
Một số mô hình công nghệ thông tin y tế HIS (Hospital Information System): Hệ thống thông tin bệnh viện, phục vụ công tác quản lý, điều hành tại các bệnh viện với các chức năng chính: Quản lý thông tin người bệnh và bệnh sử, quản lý người bệnh đến khám và điều trị nội và ngoại trú, quản lý bệnh án, dược, tài chính, viện phí, BHYT, trang thiết bị vật tư y tế, nhân sự… Ngày nay hệ thống thông tin bệnh viện là công cụ tối ưu hóa trong quản lý điều hành tại các bệnh viện [28].