Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng sử dụng dịch vụ xã hội của người cao tuổi Hà Nội Chương 4:Mong muốnsử dụng dịch vụ xã hội của người cao tuổi và vai trò của các chủ thể trong việc cung cấp các dịch vụ xã hội hiện nay. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Đã có nhiều nghiên cứu về dịch vụ xã hội, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội cho con người nói chung và người cao tuổi nói riêng. Việc xem xét những nghiên cứu đã thực hiện về chủ đề này giúp tác giả thấy được những kết quả đạt được cũng khoảng trống của các nghiên cứu trước đó, tạo cơ sở cho việc kế thừa những kết quả nghiên cứu đó vào luận án cũng như tạo tiền đề cho những phát hiện mới và những định hướng nghiên cứu trong tương lai. Trong chương này, tác giả sẽ phân tích tổng quan các công trình nghiên cứu theo ba hướng: Những nghiên cứu về dịch vụ trợ giúp đời sống vật chất cho người cao tuổi.
Những nghiên cứu về sức khỏe và chăm sóc sức khỏe thể chất cho người cao tuổi. Những nghiên cứu về dịch vụ trợ giúp đời sống tinh thần cho người cao tuổi. Nghiên cứu về dịch vụ trợ giúp đời sống vật chất cho ngƣời cao tuổi. Vấn đề người cao tuổi đã và đang là mối quan tâm của hầu hết các quốc gia.
Các nghiên cứu về người cao tuổi được tiến hành từ những năm 50 của thế kỷ 20 tại các quốc gia phát triển đang ở giai đoạn già hóa dân số.Ví dụ như một số nghiên cứu về người cao tuổi của các nhà xã hội học tại các nước phát triển như Mỹ, Thụy Điển. nơi có tuổi thọ trung bình tăng cao và bản thân người cao tuổi đã xuất hiện những vấn đề về chăm sóc đời sống vật chất đang được xã hội quan tâm [Nguyễn Quốc Anh, 2007]. Sau này những nghiên cứu về người cao tuổi cũng được thực hiện ở các quốc gia đang phát triển khi các quốc gia này bắt đầu chuyển sang giai đoạn già hóa dân số. Tại Việt Nam, những nghiên cứu từ góc độ xã hội học về NCT mới chỉ được bắt đầu vào những năm 1990 khi Việt Nam chuyển từ nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường và khi tỷ lệ NCT trong dân số có xu hướng tăng nhanh.
Các cuộc điều tra nghiên cứu tập trung chủ yếu vào những nội dung như: quy mô dân số NCT; cơ cấu dân số NCT; về tình trạng sức khoẻ, bệnh tật, việc làm, thu nhập, điều kiện sinh hoạt, mức sống của NCT; chăm sóc sức khoẻ NCT; 8 z phát huy vai trò của NCT. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã góp phần cung cấp những cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng chính sách xã hội đối với NCT. Trong phạm vi những nghiên cứu về dịch vụ xã hộichăm sóc đời sống vật chất cho NCT, tác giả tổng quan theo các khía cạnh về lao động việc làm của người cao tuổi, thu nhập và đời sống vật chất của người cao tuổi cũng như cấp thẻ bảo hiểm y tế trong quá trình khám chữa bệnh của người cao tuổi. Nghiên cứu trên khía cạnh lao động việc làmcủa ngƣời cao tuổi.
Forssmans (1962) nghiên cứu về việc lôi kéo người cao tuổi tham gia thị trường lao động có một số khó khăn như chủ lao động có thể trả lương thấp, khó cạnh tranh với lao động trẻ do lão hóa [Hoàng Mộc Lan, 2015, tr. Những nghiên cứu về người cao tuổi Việt Nam bắt đầu từ những năm 1970 do các nhà y học nghiên cứu. Năm 1983, trong khuôn khổ nghiên cứu quốc gia về nhà ở, các nhà xã hội học tiến hành khảo sát về đời sống người nghỉ hưu nội thành Hà Nội trên các khía cạnh: trách nhiệm gia đình, làm thêm, giúp đỡ gia đình, trách nhiệm xã hội. Năm 1989, những nghiên cứu dân số và lao động tuổi già được thực hiện theo đề xuất củaỦy ban Kinh tế Xã hội châu Á Thái Bình Dương Liên Hiệp Quốc(UNESCAP) được công bố ra thế giới.
Trong giai đoạn này, Bộ lao động thương binh và xã hội tiến hành các nghiên cứu làm cơ sở xây dựng các chính sách. Nhiềungườicaotuổivẫnlàmnhiềuloạicôngviệccóthunhậphoặclàmcác côngviệcnộitrợ[BùiThếCường, 1999], [Friedmanvàcộngsự, 2002].Bêncạnh đó,phụnữcàngcaotuổithìtỷlệlaođộngcàngthấp [Knodel, J vàTrươngSĩÁnh, 2000].Tươngtự,tỷlệlaođộngcủangườicaotuổisốngở thànhthịthấphơnngườicaotuổisốngởnôngthôn [MOLISA, 2015],[Knodel J và Trương Sĩ Ánh, 2000]. Nghiên cứu của tác giả Hoàng Mộc Lan về người nghỉ hưu Hà Nội cho thấy, trên 50% người nghỉ hưu vẫn muốn tiếp tục duy trì lao động nghề nghiệp do lương 9 z hưu thấp, thói quen nghề nghiệp và mong muốn được giao tiếp với những người trong cơ quan, cơ sở mà họ sống và gắn bó nhiều năm [Hoàng Mộc Lan, 2010]. Tác giả Giang Thanh Long và Bùi Thế Cường đã đề cập tới vấn đề lao động cao tuổi trong giai đoạn già hóa dân số.
Lực lượng lao động lớn hơn nhiều so với lực lượng phụ thuộc sẽ có tác động lớn đến sự bền vững về mặt tài chính của quỹ an sinh xã hội. Do tuổi thọ tăng lên cùng với sức khỏe tốt lên nên tỷ lệ NCT tham gia hoạt động kinh tế còn lớn. Vì thế sử dụng nhóm dân số này sẽ giảm bớt chi phí y tế và hưu trí so với việc họ không tham gia hoạt động kinh tế [Giang Thanh Long và Bùi Thế Cường, 2010]. Có thể nói, các nghiên cứu về dịch vụ lao động việc làm cho người cao tuổi thời gian qua dường như chỉ mô tả tình trạng tham gia lao động của người cao tuổi một cách tự phát mà chưa thấy hệ thống dịch vụ xã hội hỗ trợ tìm kiếm việc làm hay cung cấp việc làm phù hợp cho người cao tuổi.
Nghiên cứu về ổn định thu nhập và đời sống vật chất của ngƣời cao tuổi Đánh giá hiệu quả chương trình giảm nghèo ở Mỹ cho thấy chi tiêu bình quân đầu người trên các chương trình này về tổng thể đã phát triển theo thời gian. Các hệ thống phúc lợi tại Hoa Kỳ đã có một tác động lớn đến tỷ lệ nghèo, giảm tỷ lệ nghèo năm 2004 từ 29% xuống còn 13,5%. Hệ thống giúp giảm nghèo nhiều nhất cho những người khuyết tật và người cao tuổi và ít nhất đối với một vài nhóm không già và không khuyết tật. Theo thời gian, chi phí này thay đổi theo hướng tập trung vào những người khuyết tật và người cao tuổi, và bỏ qua những người có thu nhập thấp nhất và hướng tới những người có thu nhập cao hơn, với những hậu quả mà tỷ lệ những người chuyển sang rất nghèo đối với một số nhóm đã tăng lên [Yonatan Ben- Shalom và cộng sự , 2012].
Khi tìm hiểu chính sách trợ cấp tuổi già và lương hưu góa phụ nhằm giúp đỡ người nghèo ở Ấn Độ qua đánh giá tác động của Chương trình trợ giúp xã hội quốc gia và tìm hiểu kế hoạch cải cách chương trình, tác giả đánh giá trên hai nội dung chính của đề án NSAP, trợ cấp tuổi già và lương hưu góa phụ. Các trợ cấp trên có sự khác nhau trong hiệu quả của nó trên người nhận dựa vào ba yếu tố: thu nhập, vị 10 z trí không gian, và nhóm xã hội. Trợ cấp cho góa phụ đã giúp cho người nhận giảm nghèo bằng khoảng 2,7 điểm. Chính phủ cố gắng để hướng tới mục tiêu trợ cấp cho các hộ nghèo một cách có hiệu quả, và bước phát triển tiếp theo hướng phổ cập để nâng cao hiệu quả của trợ giúp xã hội trong thực tế [Christopher Garroway, 2013].
Tại Việt Nam, vào năm 1996, nghiên cứu của tác giả Bùi Thế Cường đã đề cập đến đời sống vật chất của người cao tuổi khu vực đồng bằng sông Hồng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, đời sống của người cao tuổi đã khá lên so với nửa đầu những năm 90. Có sự khác biệt lớn giữa người cao tuổi ở nông thôn và thành thị, lý do chủ yếu là ở nông thôn người dân chủ yếu sống bằng thu nhập từ kinh tế hộ gia đình, thành thị người cao tuổi chủ yếu là cán bộ công chức sống dựa vào nguồn tiền viện trợ cấp hưu trí. Một nửa số người cao tuổi không có nguồn thu nhập ổn định.
Phần lớn số NCT thuộc hộ nghèo và cận nghèo ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, dân tộc ít người. Tuy nhiên do mức lương hưu và trợ cấp thấp không đủ sống nên nhiều người nghỉ hưu phải đi làm thêm (55,7%) [Bùi Thế Cường, 2002, tr. Nghiên cứu của các tác giảBùi Thế Cường và John Knodel đã chỉ ra sự phụ thuộc khá lớn của những người phụ nữ cao tuổi không kết hôn đối với những khoản hỗ trợ không thường xuyên- cảnh báo mức độ dễ tổn thương của họ đối với những rủi ro kinh tế và xã hội. Nếu việc hỗ trợ từ gia đình ngày càng ít đi thì việc duy trì cuộc sốngcho những người cao tuổi đòi hỏi phải có sự quan tâm hơn nữa trong quá trình hoạch định chính sách xã hội [Bùi Thế Cường và cộng sự, 1999], [KnodelJvà Trương Sĩ Ánh, 2000].
Đa số NCT hiện nay được sinh ra trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Do điều kiện chiến đấu và lao động khó khăn nên có tới 70% NCT không có tích lũy vật chất tuổi già [Đàm Hữu Đắc, 2010]. Nguồn thu nhập chính của NCT từ 3 nguồn: lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội (BHXH), ưu đãi người có công,nhận trợ cấp xã hội[Đàm Hữu Đắc, 2010], [KnodelJ và Trương Sĩ Ánh, 2000],[MOLISA, 2015]. Tác giả Nguyễn Thế Huệ đề cập đến thực trạng đời sống người cao tuổi từ 80 trở lên như mức thu nhập, mức độ tham gia bảo hiểm, chế độ được hưởng, tiếp cận 11 z các dịch vụ xã hội, tài sản, hiểu biết về chính sách, chế độ của NCT, trợ giúp khi ốm đau… [Nguyễn Thế Huệ, 2010].
Vụ dân số- kế hoạch hóa gia đình khi khảo sát đánh giá nhu cầu và dịch vụ hỗ trợ NCT đã thấy đời sống vật chất của một bộ phận người cao tuổi sống ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc còn nhiều khó khăn, thiếu thốn. Vẫn còn 1/3 số người thuộc diện nghèo và và cận nghèo. Trong tổng số người cao tuổi được khảo sát chỉ có khoảng 16 -17% người cao tuổi hưởng chế độ lương hưu hoặc mất sức, hơn 10% các cụ hưởng trợ cấp xã hội dành cho những đối tượng có công với nước. Nguồn thu nhập chính của người cao tuổi tại địa bàn khảo sát chủ yếu dựa vào bảo hiểm xã hội (41,2%), trợ cấp của người thân (30,9%) và tự sản xuất kinh doanh dịch vụ để kiếm sống (28,8%) [Vụ dân số- KHHGĐ, 2012].