phần mở đầu, kết luận - khuyến nghị và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng : Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về dịch vụ Công tác xã hội tại trung tâm Bảo trợ xã hội và Công tác xã hội Chƣơng 2: Thực trạng dịch vụ công tác xã hội với ngƣời cao tuổi tại trung tâm Bảo trợ và Công tác xã hội tỉnh Ninh Bình Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả dịch vụ công tác xã hội với ngƣời cao tuổi tại trung tâm Bảo trợ và Công tác xã hội tỉnh Ninh Bình 14 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI TẠI TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI VÀ CÔNG TÁC XÃ HỘI 1. Một số khái niệm công cụ 1. Khái niệm người cao tuổi Có rất nhiều khái niệm khác nhau về ngƣời cao tuổi. Trƣớc đây, ngƣời ta thƣờng dùng thuật ngữ ngƣời già để chỉ những ngƣời có tuổi, hiện nay “ngƣời cao tuổi‟‟ ngày càng đƣợc sử dụng nhiều hơn.
Hai thuật ngữ này tuy không khác nhau về mặt khoa học song về tâm lý, “ngƣời cao tuổi‟‟ là thuật ngữ mang tính tích cực và thể hiện thái độ tôn trọng. Theo quan điểm y học: “Người cao tuổi là người ở giai đoạn già hóa gắn liền với việc suy giảm các chức năng của cơ thể ”[1] Theo quan điểm của Công tác xã hội: “Với đặc thù là một nghề nghiệp trợ giúp xã hội, công tác xã hội nhìn nhận về người cao tuổi như sau: Người cao tuổi với những thay đổi về lao động - thu nhập, tâm sinh lý, quan hệ xã hội sẽ gặp nhiều khó khăn, vấn đề trong cuộc sống.Vì thế, NCT là một đối tượng yếu thế, đối tượng cần sự trợ giúp của CTXH ”[1] Theo WHO: Ngƣời cao tuổi phải từ 70 tuổi trở lên.[1] Về mặt pháp luật, ở mỗi quốc gia, trong từng thời kỳ khác nhau tùy theo các điều kiện kinh tế xã hội cụ thể mà có sự xác định khái niệm khác nhau về NCT. Ở một số nƣớc phát triển nhƣ Đức, Hoa Kỳ. lại quy định ngƣời cao tuổi là những ngƣời từ 65 tuổi trở lên.
Quy định ở mỗi nƣớc có sự khác biệt là do sự khác nhau về lứa tuổi có các biểu hiện về già của ngƣời dân ở các nƣớc đó khác nhau. Những nƣớc có hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe tốt thì tuổi thọ và sức khỏe của ngƣời dân cũng đƣợc nâng cao. Do đó, các biểu hiện của tuổi già thƣờng đến muộn hơn. Vì vậy, quy định về tuổi của các nƣớc đó cũng khác nhau.[1] 15 Ở Việt Nam hiện nay, theo quy định trong Luật NCT ngày 23/11/2009 thì "NCT là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên"[21] Đề tài sử dụng khái niệm NCT trong Luật NCT làm khái niệm công cụ nghiên cứu.
Khái niệm dịch vụ Theo Từ điển Tiếng Việt: “Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công”[42] Philip Kotler định nghĩa dịch vụ: “Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu. Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền với sản phẩm vật chất”[1] Nhƣ vậy, có thể hiểu dịch vụ là khái niệm để chỉ các hoạt động hoặc tổ hợp/chuỗi các hoạt động nhằm phục vụ cho những nhu cầu nhất định, cụ thể của các cá nhân, nhóm trong xã hội, với cách thức tổ chức đa dạng, có quy chuẩn và đƣợc trả công. Khái niệm công tác xã hội Hiệp hội CTXH quốc tế và các trƣờng đào tạo CTXH quốc tế (2011) thống nhất một định nghĩa về CTXH nhƣ sau: “Công tác xã hội là nghề nghiệp tham gia vào giải quyết vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tăng cường sự trao quyền và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất lượng sống của con người. CTXH sử dụng các học thuyết về hành vi con người và lý luận về hệ thống xã hội vào can thiệp sự tương tác của con người với môi trường sống”[40] Một khái niệm khác về công tác xã hội gắn với thực tế ở Việt Nam: “Công tác xã hội cũng có thể hiểu là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực, đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi 16 trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội.
Khái niệm dịch vụ công tác xã hội Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), dịch vụ xã là các hoạt động cung cấp dịch vụ, đáp ứng nhu cầu cho các cá nhân, nhóm ngƣời nhất định nhằm bảo đảm các giá trị và chuẩn mực xã hội. [40] Có thể hiểu rằng DVCTXH cũng là dịch vụ xã hội, tuy nhiên nó hƣớng tới các hoạt động hay dịch vụ trợ giúp xã hội cho những ngƣời có vấn đề xã hội, đặc biệt nhóm đối tƣợng có hoàn cảnh khó khăn. Đỗ Thị Ngọc Phƣơng (2012) tại “Kỷ yếu hội thảo Quốc tế: Chia sẻ kinh nghiệm quốc tế về CTXH và an sinh xã hội‟‟ DVCTXH là hoạt động chuyên nghiệp CTXH cung cấp các hoạt động hỗ trợ về tinh thần hay vật chất cho những người gặp hoàn cảnh khó khăn như người nghèo, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người già, người là nạn nhân…, hoặc những người có nhu cầu hỗ trợ về mặt tâm lí xã hội, trợ giúp pháp lí nhằm giảm thiểu những rào cản, những bất công và bất bình đẳng trong xã hội.[20] Bùi Thị Xuân Mai ( 2014) trong “ Phát triển mạng lƣới cung cấp dịch vụ CTXH và NVCTXH” đã đƣa ra nhận định: Dịch vụ công tác xã hội có thể coi là một loại hình dịch vụ xã hội được cung cấp, điều phối bởi các nhân viên công tác xã hội. Việc cung cấp các dịch vụ công tác xã hội không thể tách rời với các dịch vụ y tế, dịch vụ giáo dục, dịch vụ truyền thông và các dịch vụ khác.
Chính vì vậy, nhân viên công tác xã hội phải có sự kết nối chặt chẽ với các dịch vụ xã hội khác trong quá trình thực hiện dịch vụ công tác xã hội.[17] Nguyễn Thị Thái Lan ( 2016) trong bài báo hội thảo quốc tế “Chuyên nghiệp hóa các dịch vụ công tác xã hội tại Việt Nam” cho rằng: Dịch vụ công 17 tác xã hội là những dịch vụ hỗ trợ, can thiệp với các cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng nhằm giúp thân chủ giải quyết vấn đề của mình đảm bảo cuộc sống và môi trường phù hợp, đáp ứng lợi ích tốt nhất của thân chủ.[14] Trong đề tài này, khái niệm dịch vụ công tác xã hội đƣợc sử dụng theo khái niệm nghiên cứu của Nguyễn Thị Thái Lan. Nhƣ vậy, dịch vụ công tác xã hội có những đặc điểm nhƣ sau: - Dịch vụ công tác xã hội là dịch vụ hỗ trợ các đối tƣợng. - Thân chủ đƣợc hỗ trợ là cá nhân, nhóm, gia đình, cộng đồng. - Giúp thân chủ giải quyết đƣợc vấn đề.
- Trợ giúp thân chủ và tạo môi trƣờng hỗ trợ thân chủ nhằm đáp ứng lợi ích tốt nhất của thân chủ.5 Khái niệm dịch vụ công tác xã hội với người cao tuổi Từ sự phân tích trên, dịch vụ công tác xã hội với ngƣời cao tuổi đƣợc hiểu là: Dịch vụ công tác xã hội với người cao tuổi là dịch vụ can thiệp hỗ trợ người cao tuổi nâng cao năng lực, đáp ứng nhu cầu và tăng cường các chức năng xã hội để khắc phục các khó khăn nảy sinh do quá trình thay đổi về tâm sinh lý, lao động, thu nhập và quan hệ xã hội, hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng sống của người cao tuổi. Đối tƣợng trợ giúp là NCT có hoàn cảnh khó khăn, NCT gặp phải các vấn đề trong cuộc sống (vấn đề về sức khỏe; vấn đề về cảm xúc cô đơn, chán nản, bị bạo lực gia đình,.), NCT có nhu cầu sử dụng các dịch vụ công tác xã hội. Dịch vụ công tác xã hội bao gồm các dịch vụ nhƣ: Tham vấn, tƣ vấn; Truyền thông; Quản lý trƣờng hợp; Trị liệu; Trợ giúp khẩn cấp;.Đây là loại hình dịch vụ can thiệp hỗ trợ đƣợc thực hiện bởi NVCTXH, vì vậy quá trình hỗ trợ phải chuyên nghiệp, khoa học một cách bài bản. NVCTXH phải biết vận dụng nền tảng kiến thức khoa học, tâm lý học, xã hội học, các khoa học xã hội liên quan khác đồng thời sử dụng phối hợp linh hoạt các kỹ năng, kĩ 18 thuật CTXH trong trợ giúp NCT từ đó giúp đảm bảo đƣợc tính liên tục, toàn diện hiệu quả khi cung cấp các dịch vụ công tác xã hội cho NCT.
Đối với NCT khi họ đƣợc tham gia các dịch vụ công tác xã hội sẽ giúp cho họ có cơ hội vƣợt qua các nguy cơ ảnh hƣởng đến sự an toàn đồng thời góp phần cải thiện đời sống và tình trạng sức khỏe. Giúp cho NCT tránh đƣợc cảm giác cô đơn, lạc lõng và tạo ra mối liên hệ bền chặt hơn giữa NCT với gia đình, cộng đồng. Giảm sự phục thuộc của NCT vào gia đình, ngƣời thân và cộng đồng,. Các dịch vụ công tác xã hội với ngƣời cao tuổi Theo thông tƣ 02-2018/TT-BLĐTBXH về dịch vụ công tác xã hội tại các cơ sở bảo trợ xã hội gồm có các dịch vụ nhƣ: Tƣ vấn, tham vấn; Trị liệu; Truyền thông; Phát triển cộng đồng; Quản lí trƣờng hợp, Trợ giúp khẩn cấp; Vận động nguồn lực; Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng cho đối tƣợng có yêu cầu; Trợ giúp pháp lý, hòa giải,.
Trong đó có các nhóm: Trợ giúp khẩn cấp; tƣ vấn,tham vấn; Quản lí trƣờng hợp là những dịch vụ cơ bản phổ biến nhất đƣợc các cơ sở bảo trợ xã hội triển khai thực tế một cách bài bản và có nhiều đối tƣợng đã đƣợc hƣởng lợi từ những dịch vụ này. Chính vì thế, trong nội dung này tác giả sẽ tập trung tìm hiểu, phân tích, đánh giá ba dịch vụ công tác xã hội chủ yếu là: Dịch vụ trợ giúp khẩn cấp; Dịch vụ tham vấn và Dịch vụ quản lí trƣờng hợp.