MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở vào tháng 4 năm 2019 của Tổng Cục Thống kê, [19] nƣớc ta có khoảng 11,4 triệu ngƣời cao tuổi (NCT) chiếm khoảng 11,86% dân số cả nƣớc. NCT đã cống hiến cả cuộc đời cho sự tạo lập nên một gia đình hạnh phúc, đóng góp công sức để xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội của đất nƣớc. Điều này đã thể hiện NCT là một kho tàng kiến thức, kinh nghiệm sống góp phần không nhỏ trong việc giáo dục con cháu, hỗ trợ nhiều ngƣời cùng áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm để đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, thực hiện các hoạt động thiện nguyện, chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Bƣớc vào giai đoạn cuối đời do ảnh hƣởng của quá trình lão hóa tự nhiên NCT sẽ suy giảm sức khỏe thể chất và tinh thần, gặp vấn đề kinh tế, các mối quan hệ xã hội… ảnh hƣởng đến chất lƣợng cuộc sống. Vì vậy, NCT cảm thấy dễ bị tổn thƣơng và cần sự trợ giúp của xã hội vì họ đã trở thành nhóm ngƣời yếu thế trong xã hội. Tỉnh Tiền Giang có tỉ lệ ngƣời trên 60 tuổi cuối năm 2020 là 166.400 ngƣời chiếm tỉ lệ khoảng 10,08% dân số toàn tỉnh, Tiền Giang bắt đầu bƣớc vào giai đoạn già hóa dân số vào năm 2012. Tốc độ già hóa dân số nhanh đã phát sinh nhiều vấn đề nhƣ việc chi tiêu nhiều hơn cho công tác chăm sóc sức khỏe, hƣu trí, trợ cấp xã hội, an sinh xã hội…Chính sách an sinh xã hội của tỉnh nhà đã có nhiều cố gắng trong việc quan tâm, chăm lo mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần cho NCT đang sống tại cộng đồng cũng nhƣ NCT đang đƣợc nuôi dƣỡng tại các cơ sở bảo trợ xã hội.
Hiện nay, Tiền Giang đang có 06 cơ sở bảo trợ xã hội ngoài công lập nuôi dƣỡng NCT, 01 cơ sở công lập do nhà nƣớc đầu tƣ cơ sở vật chất và cấp kinh phí hoạt động thƣờng xuyên là Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Tiền Giang. NCT khi đƣợc tiếp nhận vào nuôi dƣỡng tại Trung tâm phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của Nghị định 20/2021/NĐ-CP ngày 15/3/2021 của Thủ tƣớng Chính phủ Quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tƣợng bảo trợ xã hội [6]. NCT khi đã tiếp nhận vào Trung tâm sẽ đƣợc chăm sóc nuôi dƣỡng theo quy trình quản lý trƣờng hợp của Thông tƣ 02/2020/TT-BLĐTBXH ngày 14/02/2020 hƣớng dẫn quản lý đối tƣợng đƣợc cơ sở trợ giúp xã hội cung cấp dịch vụ công tác xã hội [4]. 1 Trung tâm Công tác xã hội Tiền Giang là đơn vị sự nghiệp công lập đƣợc nhà nƣớc phân bổ kinh phí thƣờng xuyên để thực hiện nhiệm vụ, Trung tâm chịu sự quản lý của Sở Lao động – Thƣơng binh và Xã hội tỉnh Tiền Giang.
Thời điểm hiện nay Trung tâm đang tổ chức tiếp nhận quản lý, chăm sóc nuôi dƣỡng 176 NCT cô đơn không có ngƣời thân chăm sóc. Đa phần NCT đều mắc các bệnh mãn tính, khuyết tật vận động, khuyết tật thần kinh tâm thần. Tuy đƣợc chăm sóc theo quy trình hƣớng dẫn nhƣng thực tế vì nhiều nguyên nhân khách quan cũng nhƣ chủ quan NCT tại Trung tâm ít nhận đƣợc sự quan tâm đến đời sống tinh thần của các ngành, các cấp kể cả lãnh đạo, lực lƣợng nhân viên công tác xã hội (NVCTXH) tại Trung tâm. Chính vì đời sống tinh thần chƣa đƣợc quan tâm đúng mức nên NCT tại Trung tâm sống trong môi trƣờng bị thu hẹp gò bó, mối quan hệ giao tiếp với những ngƣời xung quanh cũng bị hạn chế, thiếu sân chơi và các hoạt động văn hóa phù hợp với độ tuổi và sức khỏe từ đó làm cho chất lƣợng cuộc sống của NCT bị suy giảm đáng kể.
Xuất phát từ tình hình thực tế trên cộng với niềm đam mê đƣợc nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến NCT nên tác giả chọn đề tài: “Công tác xã hội nhóm trong việc trợ giúp đời sống tinh thần cho người cao tuổi tại Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Tiền Giang”. Đây là lĩnh vực mới để bản thân vận dụng kiến thức và những kỹ năng của CTXH nhóm với đối tƣợng NCT để nghiên cứu tại Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Tiền Giang. Qua đó tác giả xin đƣợc đề xuất một số giải pháp góp phần củng cố những cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm nâng cao đời sống tinh thần cho NCT. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2.
Tình hình nghiên cứu ở nƣớc ngoài * Các nghiên cứu liên quan đến công tác xã hội với NCT Cùng với sự phát triển chung của xã hội hiện nay thì đời sống của các tầng lớp ngƣời dân trong xã hội sẽ đƣợc cải thiện trong đó có NCT. Đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về NCT đã đƣợc triển khai một cách vĩ mô trên toàn thế giới đặc biệt là các nghiên cứu về lĩnh vực công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe cho NCT. Tiêu biểu phải nhắc đến nhóm tác giả Chanitta Soommaht, Songkoon Ratchasima, Buriram, Surin và Khon Kaen (2008),“Developing Model of Health Care Management for the Elderly by Community Participation in Isan [25]. Phƣơng 2 pháp nghiên cứu định tính đƣợc nhóm nghiên cứu sử dụng để tiến hành điều tra khảo sát.
Đề tài đã làm rõ sự phát triển của vấn đề chăm sóc sức khỏe NCT cần có sự tham gia của ngƣời dân ở Isan. Kết quả của nghiên cứu đã làm sáng tỏ rằng việc quản lý của các tổ chức cộng đồng xã hội trong chăm sóc sức khỏe NCT là phƣơng pháp thực hiện hiệu quả. Đại đa số công dân cao tuổi đều đồng ý và cho rằng việc chăm sóc y tế đƣợc cung cấp bởi các tổ chức cộng đồng giúp cho NCT cảm thấy thoải mái và ấm áp hơn. Mô hình này gợi cho những nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách khi đƣa vào áp dụng tại Việt Nam trong công tác chăm sóc sức khỏe cho nhóm NCT tại cộng đồng.
Dean Blevins, Bridget Morton và Rene McGovern (2008) [26], cũng có nghiên cứu “Đánh giá một dự án nghiên cứu có sự tham gia của cộng đồng về chăm sóc sức khỏe tâm thần cho NCT nông thôn Mỹ” Nghiên cứu này đã cho thấy hầu hết mọi ngƣời cảm thấy hài lòng với vai trò của họ và mức độ thành công của chƣơng trình. Qua đó, tác giả đề xuất một số phƣơng pháp để cải thiện hơn nữa dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần cho NCT tại nông thôn. Đây cũng là mô hình giúp tác giả thấy đƣợc cách chăm sóc sức khỏe tinh thần cho NCT tại cộng đồng của Hoa kỳ nhƣ thế nào. Báo cáo “Già hóa trong thế kỷ XXI thành tựu và thách thức” đã đánh giá quá trình kể từ khi Hội nghị thế giới lần thứ hai về NCT thực hiện kế hoạch hành động quốc tế Madrid về NCT [3].
Một số ví dụ minh họa về những chƣơng trình đổi mới đã đáp ứng thành công các mối quan tâm của NCT đƣợc đƣa ra trong báo cáo. Bên cạnh đó, trong báo cáo còn đƣa ra khuyến nghị về những dự tính trong tƣơng lai nhằm đảm bảo tầng lớp, ở mọi lứa tuổi trong xã hội trong đó có cả NCT đều có cơ hội góp công sức xây dựng xã hội cũng nhƣ đƣợc thụ hƣởng các phúc lợi xã hội. Vì vậy, bắt buộc phải có một chiến lƣợc để hỗ trợ riêng cho từng nhóm đối tƣợng đạt hiệu quả cao nhất và bền vững. Những kết quả nghiên cứu và đa số các báo cáo trên thế giới đều đã đƣa ra đƣợc thực trạng về già hóa dân số và những vấn đề khó khăn mà bản thân NCT đang gặp phải cũng nhƣ đã đƣa ra những mô hình dịch vụ xã hội thực tế để trợ giúp NCT và những bất lợi khiến NCT gặp khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe.
Tuy nhiên, những nghiên cứu đó chƣa đƣa ra đƣợc các yếu tố ảnh hƣởng đến việc NCT tiếp cận dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe cho họ nhƣ về 3 môi trƣờng xung quanh, về nhân viên công tác xã hội, bộ máy chính quyền mà chỉ tập trung vào yếu tố bản thân NCT. * Các nghiên cứu liên quan đến mối giao lưu và quan hệ xã hội của NCT Trong đời sống xã hội NCT luôn có nhu cầu nhận đƣợc sự quan tâm, chăm sóc, chia sẻ, tâm sự của ngƣời thân trong gia đình vì bản thân họ đã vơi và giảm dần một số chức năng cơ bản của cơ thể. Theo nghiên cứu của Robert C. Atchley năm 2000 [30] nhóm NCT nhận đƣợc sự quan tâm, chia sẻ đầy đủ của ngƣời thân trong gia đình sẽ có một cuộc sống hạnh phúc hơn những ngƣời không đƣợc nhận sự quan tâm, chăm sóc.
Những tác động từ phía ngƣời thân trong gia đình cho dù là tích cực hay tiêu cực thì cũng có vai trò quan trọng vô cùng cần thiết đối với NCT. Bên cạnh sự quan tâm của những ngƣời thân trong gia đình, NCT còn có nhu cầu nhận đƣợc sự quan tâm, giúp đỡ từ bạn bè và sự trợ giúp từ xã hội. Đối với những NCT sống độc thân thì sự giúp đỡ của cộng đồng, bạn bè là rất cần thiết để đáp ứng những nhu cầu xã hội, tâm lý, thể chất của mình [30, tr. Ở Anh, nghiên cứu của Jame A.
Thorson (2008) [28] về NCT cho thấy, NCT luôn cần có những ngƣời thân (các thành viên trong gia đình hoặc bạn bè) để chia sẻ, tâm sự. Nghiên cứu đã cho thấy NCT có nhiều mối quan hệ thân thiết với những ngƣời xung quanh thƣờng có cuộc sống thoải mái, vui vẻ hơn, sức khỏe tốt hơn những ngƣời hạn chế trong các mối quan hệ xã hội. Đặc biệt nhóm NCT sống biệt lập thƣờng dễ bị tổn thƣơng. Những ngƣời có ít nhất một mối quan hệ gắn bó, thân thiết, gần gũi với một ngƣời khác thƣờng cảm thấy tốt hơn, bởi ngƣời bạn tâm tình giống nhƣ “ánh nắng” xua đi những mất mát trong đời sống xã hội.
Có đƣợc một ngƣời bạn tâm tình cũng tốt nhƣ việc có nhiều mối quan hệ. Những ngƣời duy trì mối quan hệ tâm tình ít hoặc không có khả năng bị trầm cảm. Nhƣ vậy, cho thấy mối quan hệ thân mật có tác dụng nhƣ là "tấm đệm" chống lại những ảnh hƣởng của sự biệt lập làm cho cuộc sống của NCT có chất lƣợng hơn [28, tr. “Hƣớng tới tuổi già khỏe mạnh” (2012) là nghiên cứu của nhóm tác giả Ebersole và Hess [27] “cho thấy.
NCT họ thƣờng hồi tƣởng nhớ về quá khứ, họ thƣờng kể cho những ngƣời xung quanh nghe những câu chuyện về cuộc đời của họ.