PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: Già hóa dân số là một xu thế mang tính toàn cầu do giảm tỷ lệ sinh, tăng tuổi thọ bình quân và trở thành vấn đề xã hội có tác động rất lớn đến tiến trình phát triển chung của cả nước. Ở Việt Nam già hóa dân số đang diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh, quy mô ngày càng lớn. Từ năm 1979 đến 2009 tỷ lệ NCT (60+ tuổi) đã tăng từ 7,1%; 7,2%; 8,2% và đến 9,0% trong tổng dân số.
Theo kết quả điều tra biến động dân số năm 2013, tỷ lệ người cao tuổi trong tổng dân số là 10,2% và như vậy dân số Việt Nam đang ở trong thời kỳ “bắt đầu già”. Do đó Đảng và nhà nước ta luôn xác định việc chăm sóc, hỗ trợ và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người cao tuổi (NCT) vừa là đạo lý, vừa là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội. Người cao tuổi, do không còn tiếp tục làm công việc đã gắn bó trong nhiều năm, nên thường có cảm giác hẫng hụt, trống trải. Với nhiều người, nghỉ hưu cũng đồng nghĩa với sự thay đổi về địa vị xã hội, về vai trò trong xã hội và có thể trong chính gia đình.
“Sinh, lão, bệnh, tử” là một quy luật tự nhiên. Con người khi trở nên già đi (hay còn gọi là quá trình lão hóa), thì diễn ra sự suy giảm cấu trúc và chức năng sinh học của cơ thể. Trong giai đoạn này, bệnh tật xuất hiện ngày càng nhiều và việc chữa trị, phục hồi sức khỏe cũng trở nên khó khăn hơn so với người trẻ tuổi. Thực tế cho thấy rằng, nhu cầu của NCT không được đáp ứng trong một thời gian dài sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe, tâm lý, tình cảm của bản thân NCT và cả các thành viên trong gia đình.
Sự hiểu biết, tinh thần trách nhiệm và sự chia sẻ lẫn nhau giữa những người thân là điều kiện cơ bản nhất và cơ hội tốt nhất để những hoạt động thể chất và tinh thần của NCT được thực hiện, giúp họ hy vọng về cuộc sống an vui với con cháu, người thân và bạn bè của mình. Đảng và Nhà nước ta đã có quan điểm nhất quán về việc chăm sóc NCT và coi đây là một chính sách quan trọng, là tiền đề trong công tác ASXH, được thể hiện thông qua các Văn kiện đại hội đảng và các Chỉ thị. báo cáo chính trị tại đại hội XI của đảng cũng đã nêu: “Quan tâm chăm sóc sức khoẻ, tạo điều kiện để 1 người cao tuổi hưởng thụ văn hoá, được tiếp cận thông tin, sống vui, sống khoẻ, sống hạnh phúc…. giúp đỡ người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa”.
Tại Chỉ thị 59/CT-TW của Ban Bí thư Trung ương “Về chăm sóc người cao tuổi, thể hiện rõ nét tại Nghị định của Chính phủ số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội, Nghị định số 20/2021/NĐ-CP quy định tại về mức hưởng trợ cấp cho người cao tuổi từ đủ 80 tuổi trở lên… và các văn bản, quy định của các cấp. Mặc dù Đảng và Nhà nước ta đã có những chính sách với người cao tuổi, đặc biệt quan tâm chăm sóc NCT là người có công với nước, NCT không nơi nương tựa. Tuy nhiên, các chính sách hỗ trợ chủ yếu là trợ giúp xã hội trực tiếp bằng nguồn lực tài chính đối với NCT có hoàn cảnh khó khăn, trong khi hiện nay nhu cầu, đối tượng NCT cần trợ giúp rất đa dạng. Với hình thức trợ giúp truyền thống không mang tính hiệu quả bền vững, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người cao tuổi.
Quá trình thay đổi kinh tế xã hội ở nước ta đã đặt ra những yêu cầu, thách thức mới cho công tác chăm sóc NCT. NCT có nhiều nhu cầu khác nhau và có nguyện vọng được đáp ứng không chỉ từ gia đình, cộng đồng, mà còn từ những chính sách của Nhà nước. Các tổ chức xã hội, chính trị xã hội, các đoàn thể và mỗi cá nhân đang có những hành động thiết thực thông qua các dự án phát triển để hỗ trợ, chăm sóc NCT như xóa đói giảm nghèo, chương trình vay vốn sản xuất, các hoạt động quyên góp tài chính và vật chất từ cộng đồng, v. Tỷ lệ người cao tuổi sống một mình hoặc trong gia đình chỉ có người cao tuổi ngày một nhiều.
Trước thực trạng đó CTXH chăm sóc người cao tuổi neo đơn là rất cần thiết. Theo báo cáo NCT năm 2021 của Sở lao động – Thương binh và xã hội tỉnh Bình Dương, tổng số người cao tuổi trên địa bàn tỉnh là: 91.158 người, chiếm tỷ lệ khoảng 3,71 % so với tổng dân số. Tổng số hội viên hiện nay 85.158 NCT, đạt tỷ lệ 93,4%, huyện Phú Giáo là 1 huyện nông nghiệp của tỉnh, tổng số NCT trên địa bàn huyện là 6.530 theo báo cáo thống kê tại văn kiện đại hội nhiệm kỳ 2021 – 2026 tháng 6 năm 2021. Theo báo cáo thống kê của Hội NCT xã Phước Hòa thì năm 2016 có 750 NCT, năm 2017 là 760 NCT, năm 2018 là 765 NCT, năm 2019 là 770 và năm 2020 2 là 780 người.
Hiện nay nhà nước rất quan tâm đến đời sống của người cao tuổi đặc biệt là người cao tuổi neo đơn, các đối tượng yếu thế, chính sách bảo trợ xã hội. Chăm sóc sức khỏe cho NCT từ nhiều phương diện khác nhau như: từ ấp đến xã đều có mô hình CLB dưỡng sinh, tổ chức khám và cấp thuốc miễn phí cho NCT, NCT tham gia các hoạt động tổ chức hội (Hội NCT, Hội Chữ Thập đỏ, Hội phụ nữ), được thăm hỏi khi ốm đau bệnh tật. Tuy nhiên vẫn còn có những NCT neo đơn có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế, khó khăn về nhà ở; một số NCT neo đơn không còn khả năng lao động nhưng vẫn phải chăm sóc cháu nhỏ, nhà ở không đảm bảo … nên họ rất cần có sự hỗ trợ của chính quyền. Chính lý do này mà tôi đã quyết định chọn chủ đề: “Công tác xã hội với người cao tuổi neo đơn tại xã Phước Hòa, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.” là đề tài nghiên cứu của mình với mong muốn thực hiện chính sách xã hội hóa, cùng với địa phương hỗ trợ NCT có hoàn cảnh neo đơn, rút ngắn khoảng cách giữa người giàu và người nghèo.
Tổng quan tình hình nghiên cứu NCT ở những nước đang phát triển phải đối mặt với nhiều khó khăn để đảm bảo cuộc sống. Họ gặp khó khăn trước hết bởi sự suy giảm thể chất do quá trình lão hóa. Bên cạnh đó, các loại bệnh tật phổ biến, bệnh hiểm nghèo, bệnh mới và việc di dân cũng như xu hướng đô thị hóa đã tác động tiêu cực đến đời sống của NCT.Dó đó, họ chính là một trong những nhóm đối tượng dễ bị tổn thương nhất. Việt Nam cũng là quốc gia đang có tốc độ già hóa một cách nhanh chóng, do tuổi thọ bình quân ngày càng tăng trong khi tỷ suất sinh và tỷ suất chết giảm, liên quan tới những cải thiện đáng kể về y tế, dinh dưỡng và phát triển kinh tế-xã hội.
Tuy nhiên, già hóa dân số một cách nhanh chóng cũng tạo ra những thách thức lớn đối với Việt Nam. Thời gian để Việt Nam chuyển đổi từ cơ cấu dân số “già hóa” sang cơ cấu dân số “già” sẽ ngắn hơn nhiều so với các quốc gia có trình độ phát triển cao. Trong những năm gần đây ở Việt Nam, nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề chăm sóc NCT, người cao tuổi thuộc hộ nghèo, người cao tuổi neo đơn, hỗ trợ sinh kế cho các nhóm đối tượng yếu thế, dưới nhiều góc nhìn khác nhau như quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vấn đề thích nghi và trải nghiệm hội nhập xã 3 hội.Các vấn đề về NCT nói chung và NCT neo đơn nói riêng luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu, các chuyên gia, học giả trong và ngoài nước. Trong phạm vi nghiên cứu luận văn này, tác giả lựa chọn và phân tích vài công trình nghiên cứu, bài viết, tạp chí, tiêu biểu như sau: Luận văn Bùi Thị Thanh Hà 2015 “Hạn chế và thách thức của công tác xã hội trong chăm sóc NCT hiện nay”, đã nêu vai trò của công tác xã hội trong chăm sóc NCT, hoạt động công tác xã hội trong chăm sóc NCT Vai trò của CTXH thể hiện ở hai hình thức: chăm sóc người già cô đơn trong các cơ sở bảo trợ xã hội và cung ứng dịch vụ chăm sóc người cao tuổi tại gia đình và cộng đồng.
Liên quan đến 4 chủ thể chăm sóc NCT (nhà nước, gia đình, cộng đồng, và thị trường), Tác giả cũng đã nêu các mô hình chăm sóc NCT sau: Trung tâm bảo trợ xã hội là mô hình do Nhà nước trợ cấp hoàn toàn; Mô hình nhà dưỡng lão tư nhân - mang tính thị trường; Ở các địa phương có mô hình chăm sóc NCT tại cộng đồng bởi người thân trong gia đình, họ hàng, làng xóm… tác giả đã phân tích với thực trạng NCT hiện nay, công tác xã hội với người cao tuổi chú ý đến việc đào tạo cán bộ về y tế, tình nguyện viên, cung ứng dịch vụ công tác xã hội cho NCT, hướng đến mục tiêu an sinh cho NCT thông qua hoạt động chăm sóc họ. CTXH như một hoạt động chuyên môn, đóng vai trò “cầu nối” chủ chốt, là phương tiện hiệu quả trong thực thi các chính sách ASXH, đảm bảo mục tiêu ASXH của đất nước. Thông qua các chương trình, các mô hình, các dịch vụ CTXH và hoạt động thực tiễn của nhân viên CTXH hoạt động từ các cơ sở bảo trợ xã hội và gia đình, cộng đồng đảm trách các vai trò cụ thể để thúc đẩy an sinh và nâng cao chất lượng sống cho NCT. Tuy nhiên nước ta sẽ có hàng triệu NCT cần đến sự hỗ trợ xã hội với các nhu cầu đa dạng.
Việc hoàn thiện hệ thống chính sách TCXH và hoàn thiện các chương trình cung ứng dịch vụ CTXH trong chăm sóc NCT là rất cần thiết nhằm đảm bảo an sinh và nâng cao chất lượng sống cho NCT. Đặc biệt là quan tâm, chăm sóc NCT neo đơn rất cần thiết. Nghiên cứu của tác giả Phạm Vũ Hoàng 2013 “Một số giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc NCT Việt Nam” tác giả đã nêu bốn nguồn lực chăm sóc NCT: gia đình, nhà nước và dịch vụ công, tổ chức tự nguyện và các tổ chức phi chính 4 phủ, khu vực tư nhân không độc lập mà tác động hỗ trợ lẫn nhau.