phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu, các phụ lục thì luận văn gồm có 3 chương sau đây: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo Chƣơng 2: Kết quả khảo sát thực trạng công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo trên địa bàn huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình Chƣơng 3: Thực nghiệm tiến trình công tác xã hội cá nhân vào trợ giúp người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo và một số đề xuất, khuyến nghị. 10 n Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN VỚI NGƢỜI CAO TUỔI CÔ ĐƠN THUỘC HỘ NGHÈO 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm người cao tuổi Có rất nhiều khái niệm khác nhau về NCT; Trước đây, người ta thường dùng thuật ngữ “người già”, “người cao niên” để chỉ những người có tuổi, hiện nay thuật ngữ “người cao tuổi” được sử dụng nhiều hơn.
Theo quan điểm y học: NCT là người ở giai đoạn già hóa gắn liền với việc suy giảm các chức năng của cơ thể. Theo WHO, NCT phải từ 70 tuổi trở lên. Quy định độ tuổi của NCT ở mỗi nước có sự khác nhau do các biểu hiện về già của người dân ở các nước khác nhau ở các độ tuổi; Những nước có hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe tốt thì tuổi thọ và sức khỏe của người dân cũng được nâng cao, do đó, các biểu hiện của tuổi già thường đến muộn hơn. Hầu hết các nước phát triển như: Đức, Hoa K , Nhật bản… quy định NCT là những người từ 65 tuổi trở lên.
Quỹ dân số Liên hợp quốc cũng định nghĩa “Người cao tuổi là những người từ 65 tuổi trở lên”. Ở Việt Nam, tại Điều 2, Luật Người cao tuổi, Luật số 39/2009/QH12 đã được Quốc hội khóa 12 thông qua năm 2009 qui định: “Người cao tuổi được quy định trong Luật này là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên” [17] Người cao tuổi là những người đang trong quá trình lão hóa nên diện mạo thay đổi (tóc bạc, da mồi, có thêm nhiều nếp nhăn…), chức năng của các cơ quan như: nội tạng, cảm giác suy giảm, hoạt động kém hiệu quả, khả năng tình dục giảm. Bên cạnh sự thay đổi về mặt sinh lý, tâm lý của NCT cũng có sự thay đổi khi bước sang giai đoạn tuổi già. Họ thường có tâm lý hướng về quá khứ, thích ôn lại quá khứ; tâm trạng chuyển từ trạng thái “tích cực” sang trạng thái “tiêu cực” do khi về già NCT phải đối mặt với bước ngoặt lớn lao về lao động và nghề nghiệp.
Đó là chuyển từ trạng thái lao động (bận rộn với công việc, bạn bè) sang trạng thái nghỉ ngơi, chuyển từ trạng thái tích cực khẩn trương sang trạng thái tiêu cực xả hơi; NCT cảm thấy cô đơn và mong được quan tâm chăm sóc nhiều hơn khi con cháu thường 11 n bận rộn với cuộc sống. Điều này làm cho NCT cảm thấy mình bị lãng quên, bị bỏ rơi. Họ rất muốn tuổi già của mình vui vẻ bên con cháu, muốn được người khác coi mình không là người vô dụng. Họ rất muốn được nhiều người quan tâm, lo lắng cho mình và ngược lại.
Họ sợ sự cô đơn, sợ phải ở nhà một mình. Khái niệm người cao tuổi cô đơn Tại khoản 2, Điều 6, Nghị định số 07/2000/NĐ-CP ngày 09/03/2000 của Thủ tướng chính phủ về chính sách cứu trợ xã hội qui định: “Người già cô đơn không nơi nương tựa là người từ đủ 60 tuổi trở lên sống độc thân” [18] Người cao tuôi cô đơn mang những đặc điểm chung của NCT đồng thời họ còn mang những đặc điểm riêng do hoàn cảnh cô đơn mang lại, chủ yếu là đặc điểm về tâm lý. Họ luôn cảm thấy mặc cảm, tự ti và hay buồn chán, ít khi chia sẻ tâm sự với những người xung quanh. Khái niệm người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo Tại Khoản 1, Điều 2, Thông tư 17/2016/TT-BLĐTBXH ngày 28/6/2016 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn quy trình rà soát hộ nghèo hằng năm theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 quy định: “Hộ nghèo là hộ gia đình qua điều tra, rà soát hằng năm ở cơ sở đáp ứng các tiêu chí về xác định hộ nghèo được quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 2 Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ và được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định công nhận thuộc danh sách hộ nghèo trên địa bàn” [2], cụ thể: Ở khu vực nông thôn, hộ nghèo là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: - Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống; - Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
Ở khu vực thành thị, hộ nghèo là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: - Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống; 12 n - Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Từ khái niệm NCT cô đơn và khái niệm hộ nghèo nói trên, người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo trong luận văn này được hiểu “là những người cao tuổi cô đơn, sống độc thân, được Ủy ban nhân dân xã cấp giấy xác nhận hộ nghèo” Ngoài những đặc điểm chung của NCT, những đặc điểm của NCT cô đơn, người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo còn có những đặc điểm tâm lý của người nghèo. Mặc dù cảm giác cô đơn luôn thường trực nhưng thực tại cuộc sống vẫn bắt buộc họ phải tìm kế sinh nhai hàng ngày nên ý thức tự lực cao, tinh thần chịu đựng lớn. Trước những khó khăn, họ ít kêu ca, phàn nàn.
Họ rất nặng tình cảm hàm ơn người khác nếu được ai giúp đỡ dù là việc nhỏ. Do tuổi già sức yếu lại mất nguồn nuôi dưỡng, họ cảm nhận sâu sắc khó khăn của mình hơn so với lúc còn trẻ nên có tâm trạng lo lắng thường xuyên về ngày mai. Nhìn chung các cụ đều có ý thức chủ động lo liệu cho lúc ốm đau và lúc từ giã cõi đời của mình tuy khả năng lo liệu là rất nhỏ… 1. Khái niệm Công tác xã hội Thuật ngữ CTXH được dùng khá rộng rãi để chỉ các hoạt động (cá nhân, nhóm, tổ chức, đoàn thể) từ những hình thức giúp đỡ, hỗ trợ cá nhân thiếu hụt chức năng xã hội.
Mặc dù vậy, nếu xét dưới góc độ khoa học thì cách áp dụng đó hoàn toàn chưa phù hợp và đúng ý nghĩa khi nhiều nhà khoa học khẳng định rằng CTXH là một ngành khao học, một nghề chuyên môn. Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về CTXH, tùy thuộc vào thời gian và không gian văn hóa, mỗi quốc gia sẽ có những cách khác nhau để định nghĩa, cụ thể như sau: Theo từ điển Bách khoa ngành CTXH định nghĩa: “CTXH đó là một ngành khoa học xã hội ứng dụng nhằm giúp con người thực hiện chức năng tâm lý xã hội của mình một cách có hiệu quả và tạo ra những thay đổi trong xã hội để đem lại sự an sinh cao nhất cho con người”. Nó còn là “Một nghệ thuật, một khoa học, một nghề nhằm giúp người dân giải quyết vấn đề từ cấp độ cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng” [19]. 13 n Theo Hiệp hội quốc gia Nhân viên CTXH Mỹ (NASW): Công tác xã hội là hoạt động nghề nghiệp giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng của họ để giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp với các mục tiêu của họ.
CTXH tồn tại để cung cấp các dịch vụ xã hội mang tính hiệu quả và nhân đạo cho cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng và xã hội giúp họ tăng năng lực và cải thiện cuộc sống [9]. Định nghĩa của Hiệp hội Nhân viên CTXH Quốc tế (IFSW) cho rằng CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tiến trình giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con người, sự tăng quyền lực và giải phóng cho con người, nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái và dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội. CTXH can thiệp ở những điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ.
[8] Cuộc họp thường niên của Hiệp hội Nhân viên Công tác xã hội quốc tế và đại hội đồng các trường đào tạo Công tác xã hội quốc tế tháng 7/2014 đã thống nhất định nghĩa về CTXH như sau: Công tác xã hội là một nghề, dựa trên những vấn đề thực tiễn và kiến thức khoa học nhằm thúc đẩy sự thay đổi và gắn kết xã hội. Công tác xã hội hướng tới sự trao quyền và nâng cao năng lực giải quyết vấn đề của con người, nền tảng triết liết của công tác xã hội là công bằng xã hội, nhân quyền, tính trách nhiệm và việc tôn trọng sự đa dạng của con người, đặt nền tảng bởi các lý thuyết về công tác xã hội và các ngành khoa học xã hội khác cũng như những nền văn hóa riêng của từng khu vực công tác xã hội sẽ thúc đẩy con người tham gia vào quá trình giải quyết những vấn đề, thách thức trong cuộc sống và nâng cao an sinh xã hội cho con người. Theo Đề án 32 phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010-2020 của Thủ tướng Chính phủ: CTXH góp phần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa con người và con người, hạn chế phát sinh các vấn đề xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của thân chủ xã hội, hướng tới một xã hội lành mạnh, công bằng, hạnh phúc cho người dân và xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến [2]. Theo tác giả Nguyễn Thị Oanh: “CTXH là một hoạt động thực tiễn, mang tính tổng hợp cao được thực hiện theo những nguyên tắc và phương pháp nhất định nhằm hỗ trợ cá nhân, nhóm người trong việc giải quyết các vấn đề đời sống của họ.
14 n Qua đó, CTXH theo đuổi mục tiêu vì phúc lợi, hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội” [15].