MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, con người luôn là trung tâm, trong đó sức khỏe là nguồn vốn quý giá nhất của mỗi người và của toàn xã hội. Do đó, đảm bảo rằng tất cả mọi người đều được tiếp cận các dịch vụ y tế thiết yếu là mục tiêu của các nước đang phát triển. Tuyên bố năm 1978 của Alma Ata nhấn mạnh rằng tiếp cận các dịch vụ y tế (DVYT) được coi là quyền con người nhằm chăm sóc sức khỏe (CSSK) cá nhân và duy trì sức khỏe tốt về thể chất, tinh thần và xã hội.
Điều 38 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định: “Mọi người có quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế và có nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh” [42]. Chiến lược quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011 – 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 cũng có các điều khoản nhằm bảo đảm mọi người được tiếp cận các dịch vụ CSSK ban đầu, mở rộng tiếp cận và sử dụng các DVYT chất lượng cao, hướng tới cộng đồng an toàn, phát triển tốt về thể chất, tinh thần và xã hội. Hiện nay, người cao tuổi (NCT) trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang có xu hướng tăng nhanh. Theo kết quả Điều tra dân số và Nhà ở năm 2019 của Tổng cục Thống kê, năm 1989 tỷ trọng của nhóm dân số từ 65 tuổi trở lên là 4.7% và tăng lên đến 7.7% vào năm 2019; chỉ số già hóa trong giai đoạn này cũng tăng 2,6 lần, từ 18.8%; điều này cho thấy xu hướng già hóa dân số ở Việt Nam đang diễn ra nhanh trong hơn ba thập kỷ qua và được dự báo sẽ còn tiếp tục tăng trong thời gian tới [38].
Việt Nam vừa mới bước vào giai đoạn dân số vàng đã phải đối mặt với vấn đề già hóa dân số, chính thức bước vào giai đoạn này từ năm 2011, nhanh hơn 6 năm so với dự báo và chỉ mất khoảng 20 năm để chuyển từ giai đoạn già hóa dân số sang giai đoạn cấu trúc dân số già [39]. “Già hóa dân số là một thành tựu xã hội to lớn của nhân loại và của mỗi quốc gia trong việc nỗ lực kéo dài tuổi thọ của con người” [40]. Bên cạnh là thành công của nhân loại, già hóa dân số nhanh sẽ gây ra nhiều thách thức cho 2 cơ sở hạ tầng và các dịch vụ an sinh xã hội. Dân số già sẽ đi đôi với việc nhà nước phải chi tiêu nhiều hơn cho CSSK, hưu trí, trợ cấp xã hội, nhu cầu đối với các dịch vụ cộng đồng cho NCT,.
Trong khi đó, thời gian để Việt Nam chuẩn bị và thực hiện các chiến lược, chính sách thích ứng ngắn hơn so với các nước trong khu vực và trên thế giới, dẫn đến mức tích lũy của quốc gia không kịp đáp ứng nhu cầu của xã hội. Bên cạnh đó, phần lớn NCT đều mắc bệnh mãn tính không lây truyền như bệnh mạch vành, tăng huyết áp, đột quỵ, đái tháo đường, thoái hóa khớp, loãng xương, sa sút trí tuệ,. đây là những bệnh mất nhiều thời gian điều trị và phải điều trị suốt đời. Trung bình 1 NCT Việt Nam mắc 3 bệnh.
Trong khi đó, năm 2019, Việt Nam có khoảng 42.2% NCT có thu nhập thông qua các chính sách của Nhà nước gồm: 1.8 triệu NCT được trợ cấp xã hội hằng tháng, 1.4 triệu NCT hưởng chế độ người có công với cách mạng, gần 2 triệu NCT đang hưởng lương hưu và chế độ bảo trợ xã hội hằng tháng [41]. Như vậy, gần 60% NCT khi về già không có thu nhập, sống phụ thuộc vào con cái. Vì vậy, NCT đang phải đối mặt với nhiều khó khăn trong cuộc sống, đặc biệt là tiếp cận với dịch vụ CSSK, dịch vụ DVYT. Huyện Đông Anh là một huyện ngoại thành Hà Nội đang trong quá trình đô thị hóa và chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp.
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội, người dân trong huyện có điều kiện để chăm lo đến sức khỏe của bản thân hơn, nhất là nhu cầu muốn được tư vấn, cung cấp kiến thức, CSSK định kỳ. Nhiều hoạt động, chương trình chính sách CSSK của chính quyền dành cho người dân, đặc biệt là NCT đã được ban hành, góp phần cải thiện rõ rệt đời sống sức khỏe của người dân. Tuy nhiên, trên địa bàn huyện, khoảng 70% NCT là nông dân và làm nông nghiệp, không có tích lũy vật chất, chưa có thói quen khám sức khỏe định kỳ. Do đó, việc biết đến và sử dụng các DVYT của NCT vẫn còn hạn chế, gặp nhiều khó khăn.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu “Tiếp cận dịch vụ y tế của người cao tuổi ở nông thôn hiện nay (Nghiên cứu trường hợp tại huyện Đông Anh, Hà Nội)” để tìm hiểu thực trạng tiếp cận DVYT và những yếu tố xã hội ảnh hưởng đến việc tiếp cận DVYT của NCT ở 3 nông thôn tại huyện Đông Anh. Kết quả nghiên cứu góp một phần vào tư vấn, đề xuất các giải pháp tích cực cho việc tiếp cận DVYT của NCT tại huyện Đông Anh. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2. Thực trạng tiếp cận DVYT của NCT Nghiên cứu về tiếp cận DVYT là một hướng nghiên cứu quan trọng, được xem là chỉ số đánh giá chất lượng và sự tiến bộ của hệ thống y tế.
Chủ đề này đã và đang nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trên thế giới. Tuy nhiên, ở Việt Nam vấn đề này mới được tập trung nghiên cứu khoảng gần hai thập kỷ trở lại đây. Một số hướng nghiên cứu chính về thực trạng tiếp cận DVYT được tổng quan dưới đây. Báo cáo nghiên cứu “Già hóa trong thế kỷ 21: Thành tựu và thách thức”, đã đưa ra những quan điểm liên quan đến chăm sóc y tế cho NCT trong đó có việc tiếp cận DVYT có chất lượng của NCT.
Báo cáo nhấn mạnh đến việc NCT phải được tiếp cận thông tin và dịch vụ chăm sóc y tế, có khả năng chi trả và đáp ứng nhu cầu của bản thân nhằm giúp NCT nhận thức quyền được hưởng đời sống thể chất và tinh thần có chất lượng cao. Các dịch vụ này bao gồm dịch vụ CSSK, phòng ngừa, điều trị lâu dài. Hoạt động cải thiện sức khỏe và phòng ngừa dịch bệnh và điều trị bệnh là những hoạt động CSSK hàng ngày nhằm giúp NCT có cuộc sống lành mạnh, tránh xa bệnh tật. Vì vậy, cần có các chính sách nhằm tăng cường lối sống khỏe mạnh cho NCT.
Bên cạnh đó, cần tập trung đào tạo cho đội ngũ cán bộ, những cán bộ CSSK cho NCT nhằm đảm bảo những cán bộ làm việc với NCT được tiếp cận thông tin và có trình độ chuyên môn chất lượng công tác chăm sóc NCT. [3] Kết quả nghiên cứu “Thực trạng và thách thức của y tế cho người cao tuổi trên tại Nhật Bản” của tác giả Yutaka Kajiwara cho thấy: vấn đề già hóa dân số hiện nay ở Nhật Bản đang là một trong những thách thức lớn, gây sức ép lên hệ thống y tế, an sinh xã hội ở quốc gia này. Theo đó, tác giả đã sơ lược về chế độ chăm sóc y tế của Nhà nước đối với NCT: người trên 75 tuổi phải tự chi trả 10% tổng chi phí KCB, từ 70 đến 74 tuổi tự chi trả 20% tổng chi phí KCB. 4 Ngoài ra, nghiên cứu cũng đưa ra mô hình CSSK trong tương lai, đó là: phân bổ lại chức năng của các loại phòng bệnh, các bệnh viện sao cho phù hợp với nhu cầu, mong muốn của NCT; thúc đẩy mối liên hệ chặt chẽ giữa các cơ sở chăm sóc y tế, cán bộ địa phương, gia đình và NCT; để từ đó có thể gây dựng được một hệ thống dịch vụ chăm sóc y tế, CSSK một cách có hiệu quả, năng suất và chất lượng cao.
[35] Kết quả nghiên cứu “Tình trạng sức khỏe và việc sử dụng các dịch vụ y tế ở người cao tuổi Hàn Quốc” cung cấp thông tin về tình trạng sức khỏe và các yếu tố dự báo về việc sử dụng các dịch vụ y tế ở những NCT Hàn Quốc. Qua phân tích hồi quy logistic, nghiên cứu này chỉ ra rằng nhiều NCT nữ (29,3%) hơn NCT nam (14,5%) đánh giá sức khỏe của họ là kém hoặc rất kém. Ngoài ra, nghiên cứu còn phát hiện phụ nữ Hàn Quốc lớn tuổi ít có khả năng sử dụng các DVYT, dịch vụ CSSK hơn những người khác. Cụ thể hơn, nam giới có xu hướng đi khám bác sĩ nhiều hơn phụ nữ.
Họ cũng có khả năng đã sử dụng y học cổ truyền của Hàn Quốc cao gấp hai lần so với phụ nữ. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các yếu tố nhu cầu liên quan đến sức khỏe, ủy quyền cho nhu cầu (tuổi, giới tính) và thu nhập quyết định việc sử dụng các dịch vụ y tế. [36] “Sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe và chi tiêu chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi Nepal” của tác giả Sabnam Acharya (2019) cùng cộng sự là một trong những nghiên cứu có nhiều phát hiện mới về chủ đề này. NCT tham gia nghiên cứu mắc nhiều bệnh như tăng huyết áp (37,7%), viêm dạ dày (28,4%), hen suyễn (25,4%) và viêm khớp (23,4%) được báo cáo trong quá khứ 12 tháng nhưng chỉ 70% đến cơ sở y tế.
Một tỷ lệ đáng chú ý (30%) người tham gia đã không sử dụng các DVYT mặc dù có vấn đề về sức khỏe. Tỷ lệ sử dụng DVYT ngoại trú và nội trú là 87,5% và 14,6%. Tỷ lệ sử dụng các cơ sở y tế tư nhân (56,4%) cao hơn so với việc sử dụng các cơ sở y tế của chính phủ (35,7%). Dân tộc, tình trạng hôn nhân, thu nhập hàng năm cao hơn, hiểu biết về bảo hiểm xã hội và bệnh đa tật có liên quan đến tỷ lệ sử dụng các dịch vụ y tế cao hơn.
Những người tham gia thuộc nhóm dân tộc đặc quyền, có thu nhập 5 hộ gia đình cao hơn, đi khám tại các cơ sở y tế tư nhân và mắc nhiều bệnh có mức chi tiêu cho y tế cao hơn đáng kể.