ĐẶT VẤN ĐỀ Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO) hiện có hơn 370 triệu ngƣời mắc đái tháo đƣờng (ĐTĐ), mỗi năm có thêm 7 triệu ngƣời mắc mới; khoảng 50% ngƣời mắc không đƣợc phát hiện sớm. Trên thế giới cứ 10 giây có một ngƣời chết do ĐTĐ, cứ 30 giây có một ngƣời phải cắt cụt chi do biến chứng của ĐTĐ [52]. Tại Việt Nam, số ngƣời mắc ĐTĐ tăng nhanh chóng. Năm 2008: 5,7% ngƣời trƣởng thành(30-69 tuổi) mắc ĐTĐ, tỷ lệ này hiện đã khoảng 7%.
Đặc biệt tại các thành phố lớn, tỷ lệ này lên đến 10-12 thậm chí gần 15% [1]. Trong khi đó, năm 2002, tỷ lệ bệnh nhân ĐTĐ chỉ chiếm khoảng 2,7% dân số. Sau đúng 10 năm (2012), tỷ lệ bệnh nhân mắc ĐTĐ đã tăng gấp đôi. Trong khi đó, theo xu hƣớng chung, tỷ lệ này cần phải mất 15 năm mới tăng lên gấp đôi.
Phần lớn ngƣời bệnh phát hiện và điều trị muộn. Nếu không đƣợc phòng chống và cứu chữa kịp thời, ở giai đoạn muộn bệnh dễ biến chứng nhƣ: 44% ngƣời bệnh đái tháo đƣờng bị biến chứng thần kinh, 71% biến chứng về thận, 8% bị biến chứng mắt [5], [2], [3]. Có rất nhiều yếu tố nguy cơ gây bệnh đái tháo đƣờng đã đƣợc xác định nhƣ yếu tố di truyền, tuổi, giới tính, nghề nghiệp, địa dƣ, tăng huyết áp, béo phì, sự thay đổi lối sống sinh hoạt…. Rối loạn dung nạp glucose cũng là yếu tố nguy cơ có liên quan chặt chẽ với tỷ lệ phát triển bệnh đái tháo đƣờng, tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose sau 1 năm chuyển thành đái tháo đƣờng là 6%, sau 2 năm là 14% và sau 5 năm là 34% [6], [8].
Nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh bệnh đái tháo đƣờng týp 2 và các biến chứng của nó hoàn toàn có thể phòng ngừa đƣợc. Việc phát hiện sớm bệnh và các yếu tố nguy cơ gây bệnh, đặc biệt phát hiện sớm những ngƣời bị tiền đái tháo đƣờng có giá trị rất lớn trong công tác phòng bệnh giảm tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đƣờng, làm giảm hoặc chậm các biến chứng, di chứng dẫn đến hạn chế dùng thuốc điều trị, nâng cao chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh, làm giảm chi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 1 c 2 phí của xã hội, đồng thời giúp cho công tác quản lý và chăm sóc bệnh nhân đái tháo đƣờng có hiệu quả [7], [10]. Bắc Giang là một tỉnh miền núi trung du phía bắc, đang triển khai công tác phòng chống đái tháo đƣờng. Câu hỏi đặt ra cho chúng tôi là thực trạng bệnh ĐTĐ của ngƣời trƣởng thành ở tỉnh Bắc Giang hiện nay ra sao? yếu tố nào là nguy cơ của bệnh đái tháo đƣờng ở ngƣời trƣởng thành tỉnh Bắc Giang hiện nay? Chính vì thế chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:“Tỷ lệ và một số yếu tố nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường ở người trên 30 tuổi tại tỉnh Bắc Giang” với các mục tiêu sau: 1.
Xác định tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường ở người trên 30 tuổi tại tỉnh Bắc Giang năm 2013. Xác định một số yếu tố nguy cơ đái tháo đường ở người trên 30 tuổi tại tỉnh Bắc Giang. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 2 c 3 Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Một số khái niệm cơ bản về đái tháo đƣờng 1. Định nghĩa bệnh đái tháo đường Đái tháo đƣờng là một nhóm các bệnh chuyển hoá có đặc điểm là tăng glucose máu, hậu quả của sự thiếu hụt bài tiết insulin; khiếm khuyết trong trong hoạt động của insulin hoặc cả hai. Tăng glucose máu mạn tính thƣờng kết hợp với sự hủy hoại, sự rối loạn chức năng của nhiều cơ quan đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu [2], [7]. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của bệnh đái tháo đường Cơ chế bệnh sinh của ĐTĐ là có sự tƣơng tác phức tạp giữa yếu tổ gen và yếu tố môi trƣờng.
Đặc điểm nổi bật là sự kháng insulin ở cơ quan đích (cơ, gan, tổ chức mỡ) kết hợp sự suy giảm chức năng tế bào beta đảo tuỵ biểu hiện bằng những rối loạn tiết insulin. Dƣới tác động của yếu tố môi trƣờng nhƣ chế độ ăn nhiều lipid, đặc biệt nhiều acid béo bão hoà, nhiều carbonhydrat tinh, sự ít hoạt động thể lực, sự tăng lên của tuổi tác, béo phì. sẽ làm xuất hiện hoặc tăng sự đề kháng của cơ quan đích đối với insulin ở những đối tƣợng có gen quyết định mắc ĐTĐ. Sự kháng insulin ở những cơ quan đích dẫn đến hiện tƣợng giảm sử dụng đƣờng ở cơ quan đích và hậu quả là tăng lƣợng đƣờng trong máu và rối loạn các chuyển hoá khác.
Sự tăng đƣờng máu liên tục, tích lũy sợi fibrin giống amiloid trong tế bào beta, tăng acid béo tự do và giảm khối lƣợng tế bào beta tuỵ dẫn đến tổn thƣơng và suy giảm chức năng tế bào beta. Khi cơ thể không còn bù đƣợc tình trạng kháng insulin hoặc khi chức năng của tế bào beta không còn khả năng bù trừ thì bệnh ĐTĐ xuất hiện. Dƣới một hình thức khác, sự khởi đầu của quá trình bệnh lý có thể là giảm khối lƣợng hoặc chức năng của tế bào beta và tiếp tục diễn tiến nhƣ trên [2]. Phân loại týp đái tháo đường Có nhiều cách phân loại bệnh đái tháo đƣờng, hiện nay theo WHO Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.
* Đái tháo đường týp1: Đái tháo đƣờng týp 1 chiếm tỷ lệ khoảng 5 - 10% tổng số bệnh nhân đái tháo đƣờng thế giới. Nguyên nhân do tế bào bê-ta bị phá hủy, gây nên sự thiếu hụt insulin tuyệt đối cho cơ thể (nồng độ insulin giảm thấp hoặc mất hoàn toàn). Các kháng nguyên bạch cầu ngƣời (HLA) chắc chắn có mối liên quan chặt chẽ với sự phát triển của đái tháo đƣờng týp 1. Đái tháo đƣờng týp 1 phụ thuộc nhiều vào yếu tố gen và thƣờng đƣợc phát hiện trƣớc 40 tuổi.
Nhiều bệnh nhân, đặc biệt là trẻ em và trẻ vị thành niên biểu hiện nhiễm toan ceton là triệu chứng đầu tiên của bệnh. Đa số các trƣờng hợp đƣợc chẩn đoán bệnh đái tháo đƣờng týp 1 thƣờng là ngƣời có thể trạng gầy, tuy nhiên ngƣời béo cũng không loại trừ. Ngƣời bệnh đái tháo đƣờng týp 1 sẽ có đời sống phụ thuộc insulin hoàn toàn [2]. * Đái tháo đường týp 2: Đái tháo đƣờng týp 2 chiếm tỷ lệ khoảng 85%- 95% đái tháo đƣờng trên thế giới, thƣờng gặp ở ngƣời trƣởng thành trên 40 tuổi.
Nguy cơ mắc bệnh tăng dần theo tuổi. Tuy nhiên, do có sự thay đổi nhanh chóng về lối sống, về thói quen ăn uống, đái tháo đƣờng týp 2 ở lứa tuổi trẻ đang có xu hƣớng phát triển nhanh. Đặc trƣng của đái tháo đƣờng týp 2 là kháng insulin đi kèm với thiếu hụt tiết insulin tƣơng đối. Đái tháo đƣờng týp 2 thƣờng đƣợc chẩn đoán rất muộn vì giai đoạn đầu tăng glucose máu tiến triển âm thầm không có triệu chứng.
Khi có biểu hiện lâm sàng thƣờng kèm theo các rối loạn khác về chuyển hoá lipid, các biểu hiện bệnh lý về tim mạch, thần kinh, thận… nhiều khi các biến chứng này đã ở mức độ rất nặng [8]. Đặc điểm lớn nhất trong sinh lý bệnh của đái tháo đƣờng týp 2 là có sự tƣơng tác giữa yếu tố gen và yếu tố môi trƣờng trong cơ chế bệnh sinh. Ngƣời mắc bệnh đái tháo đƣờng týp 2 có thể điều trị bằng cách thay đổi thói quen, kết hợp dùng thuốc để kiểm soát glucose máu, tuy nhiên nếu quá trình này thực hiện không tốt thì bệnh nhân cũng sẽ phải điều trị bằng cách dùng insulin [6]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 4 c 5 * Đái tháo đường thai nghén: Đái đƣờng thai nghén thƣờng gặp ở phụ nữ có thai, có glucose máu tăng, gặp khi có thai lần đầu.
Sự tiến triển của đái tháo đƣờng thai nghén sau đẻ theo 3 khả năng: Bị đái tháo đƣờng, giảm dung nạp glucose, bình thƣờng [3]. Triệu chứng của bệnh đái tháo đường - , đái nhiều, uống nhiều, gầy nhiều thƣờng mờ nhạt trong khi triệu chứng của các biến chứng chiếm ƣu thế. Điển hình là các triệu chứng nhiễm trùng mạn tính hoặc cấp tính, các tổn thƣơng mắt, răng, tim mạch, thận, thần kinh. - Thể trạng thƣờng là béo - Các dấu hiệu thƣờng ở ngƣời trẻ tuổi.
+ Hội chứng buồng trứng đa nang. + Chứng gai đen (Acantnosis nigricans): là những mảng da sẫm màu xuất hiện ở quanh cổ bệnh nhân. Thƣờng là dấu hiệu của kháng insulin. Biến chứng của bệnh đái tháo đường Đái tháo đƣờng nếu không đƣợc phát hiện sớm và điều trị kịp thời bệnh sẽ tiến triển nhanh chóng và xuất hiện các biến chứng cấp và mạn tính.
Bệnh nhân có thể tử vong do các biến chứng này. * Biến chứng cấp tính: Biến chứng cấp tính thƣờng là hậu quả của chẩn đoán muộn, nhiễm khuẩn cấp tính hoặc điều trị không thích hợp. Ngay cả khi điều trị đúng, hôn mê nhiễm toan ceton và hôn mê tăng áp lực thẩm thấu vẫn có thể là hai biến chứng nguy hiểm. Nhiễm toan ceton là biểu hiện nặng của rối loạn chuyển hóa glucid do thiếu insulin gây tăng glucose máu, tăng phân hủy lipid, tăng sinh thể ceton gây toan hóa tổ chức.
Mặc dù y học hiện đại đã có nhiều tiến bộ về trang thiết bị, điều trị và chăm sóc, tỷ lệ tử vong vẫn cao 5 - 10% [6], [32]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 5 c 6 * Biến chứng mạn tính: Biến chứng mạn tính là những biến chứng về mạch máu mà ngƣời ta phân làm hai nhóm: - Biến chứng mạch máu nhỏ chủ yếu ở mao mạch biểu hiện ở mắt, thận, thần kinh. - Biến chứng mạch máu lớn gồm các biến chứng tim, mạch máu não, hoại tử do sự thúc đẩy của quá trình xơ vữa động mạch và tăng hiện tƣợng tắc mạch do huyết khối ở bệnh nhân ĐTĐ. * Biến chứng tim - mạch: Bệnh lý tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đƣờng là biến chứng thƣờng gặp và nguy hiểm.
Mặc dù có nhiều yếu tố tham gia gây bệnh mạch vành, nhƣng các nghiên cứu cho thấy nồng độ glucose máu cao làm tăng nguy cơ mắc bệnh mạch vành và các biến chứng tim mạch khác. Ngƣời đái tháo đƣờng có bệnh tim mạch là 45%, nguy cơ mắc bệnh tim mạch gấp 2 - 4 lần so với ngƣời bình thƣờng. Nguyên nhân tử vong do bệnh tim mạch chung chiếm khoảng 75% tử vong ở ngƣời bệnh đái tháo đƣờng, trong đó thiếu máu cơ tim và nhồi máu cơ tim là nguyên nhân gây tử vong lớn nhất.