Bảo Vệ Quyền Lợi Của Người Cao Tuổi Trên Thế Giới Và Tại Việt Nam

Bài viết khám phá quyền lợi của người cao tuổi trên thế giới và tại Việt Nam, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ và thúc đẩy quyền lợi này.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2015

100
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Bảo Vệ Quyền Lợi Người Cao Tuổi Tại Việt Nam

Bảo vệ quyền lợi của người cao tuổi là một vấn đề cấp thiết trong bối cảnh dân số già hóa nhanh chóng tại Việt Nam. Theo thống kê, tỷ lệ người cao tuổi đã chiếm 10,5% tổng dân số vào năm 2013 và dự báo sẽ tiếp tục tăng. Việc bảo vệ quyền lợi của họ không chỉ là trách nhiệm của nhà nước mà còn là nghĩa vụ của toàn xã hội. Các chính sách hiện hành cần được cải thiện để đảm bảo quyền lợi cho nhóm đối tượng này.

1.1. Khái Niệm Người Cao Tuổi Theo Pháp Luật Việt Nam

Theo Điều 2 Luật người cao tuổi năm 2009, người cao tuổi được xác định là những người từ đủ 60 tuổi trở lên. Tuy nhiên, khái niệm này chưa hoàn toàn đồng nhất với các tiêu chuẩn quốc tế, dẫn đến việc một số người chưa được công nhận quyền lợi.

1.2. Tình Hình Người Cao Tuổi Tại Việt Nam

Việt Nam đang trong giai đoạn già hóa dân số với tỷ lệ người cao tuổi ngày càng tăng. Đặc biệt, phụ nữ cao tuổi chiếm tỷ lệ lớn hơn so với nam giới, và nhiều người sống ở nông thôn, làm nông nghiệp.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Bảo Vệ Quyền Lợi Người Cao Tuổi

Mặc dù có nhiều chính sách bảo vệ quyền lợi cho người cao tuổi, nhưng thực tế vẫn còn nhiều thách thức. Nhiều người cao tuổi vẫn phải đối mặt với tình trạng nghèo đói, thiếu thốn về chăm sóc sức khỏe và bị phân biệt đối xử. Những vấn đề này cần được giải quyết kịp thời để đảm bảo quyền lợi cho họ.

2.1. Thiếu Thốn Về Chăm Sóc Sức Khỏe

Nhiều người cao tuổi không có khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe cần thiết. Điều này dẫn đến tình trạng sức khỏe của họ ngày càng xấu đi, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống.

2.2. Phân Biệt Đối Xử Trong Xã Hội

Phân biệt đối xử với người cao tuổi vẫn tồn tại trong nhiều lĩnh vực, từ việc làm đến các dịch vụ xã hội. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến tâm lý của họ mà còn làm giảm khả năng tham gia vào các hoạt động xã hội.

III. Phương Pháp Bảo Vệ Quyền Lợi Người Cao Tuổi Hiệu Quả

Để bảo vệ quyền lợi cho người cao tuổi, cần có những phương pháp và giải pháp cụ thể. Các chính sách cần được xây dựng dựa trên nhu cầu thực tế của họ và phải được thực hiện một cách đồng bộ.

3.1. Cải Thiện Chính Sách An Sinh Xã Hội

Cần có những cải cách trong chính sách an sinh xã hội để đảm bảo rằng người cao tuổi có đủ nguồn lực để sống một cuộc sống đầy đủ và hạnh phúc.

3.2. Tăng Cường Giáo Dục Và Đào Tạo

Giáo dục và đào tạo cho người cao tuổi về quyền lợi của họ là rất quan trọng. Điều này giúp họ nhận thức rõ hơn về quyền lợi và cách thức bảo vệ quyền lợi của mình.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Trong Bảo Vệ Quyền Lợi Người Cao Tuổi

Việc áp dụng các chính sách và giải pháp bảo vệ quyền lợi cho người cao tuổi cần được thực hiện một cách đồng bộ và hiệu quả. Các tổ chức xã hội và nhà nước cần phối hợp chặt chẽ để đảm bảo quyền lợi cho nhóm đối tượng này.

4.1. Các Tổ Chức Bảo Vệ Quyền Lợi Người Cao Tuổi

Nhiều tổ chức xã hội đã và đang hoạt động để bảo vệ quyền lợi cho người cao tuổi. Họ cung cấp các dịch vụ hỗ trợ và tư vấn cho nhóm đối tượng này.

4.2. Kết Quả Nghiên Cứu Về Quyền Lợi Người Cao Tuổi

Các nghiên cứu cho thấy rằng việc bảo vệ quyền lợi cho người cao tuổi không chỉ mang lại lợi ích cho họ mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của xã hội.

V. Kết Luận Về Bảo Vệ Quyền Lợi Người Cao Tuổi Tại Việt Nam

Bảo vệ quyền lợi của người cao tuổi là một nhiệm vụ quan trọng và cần thiết. Cần có sự chung tay của toàn xã hội để đảm bảo rằng họ được sống trong môi trường an toàn và có đầy đủ quyền lợi.

5.1. Tương Lai Của Người Cao Tuổi Tại Việt Nam

Trong tương lai, việc bảo vệ quyền lợi cho người cao tuổi cần được chú trọng hơn nữa, đặc biệt trong bối cảnh dân số già hóa nhanh chóng.

5.2. Đề Xuất Chính Sách Mới

Cần có những chính sách mới phù hợp với thực tiễn và nhu cầu của người cao tuổi để đảm bảo quyền lợi của họ được thực thi một cách hiệu quả.

09/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 VAI TRÒ CỦA VIỆC BẢO VỆ, THÚC ĐẨY QUYỀN CỦA NGƢỜI CAO TUỔI 1. Ngƣời cao tuổi và tình hình ngƣời cao tuổi 1. Người cao tuổi Việc xác định thế nào là “Ngƣời cao tuổi” có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc xác định họ có phải là chủ thể đƣợc hƣởng các quyền của NCT hay không cũng nhƣ xác định thời điểm một ngƣời đƣợc hƣởng các chế độ, chính sách của quốc gia đó dành cho NCT. Trong khuôn khổ luận văn này, khái niệm “ngƣời cao tuổi” đƣợc xác định dựa trên độ tuổi của họ và độ tuổi này đƣợc xác định cụ thể bởi luật nhân quyền quốc tế hay nói cách khác trong khuôn khổ luận văn này chỉ xem xét khái niệm “Ngƣời cao tuổi” dựa trên cơ sở pháp lý.

Trong Bình luận chung số 6 (Quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của những ngƣời cao tuổi) do Ủy ban về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đƣa ra tại phiên họp thứ 13 (1995) đã ghi nhận rằng: Thuâ ̣t ngƣ̃ dùng để mô tả ngƣời cao tuổ i khá đa da ̣ng , kể cả trong các tài liê ̣u quố c tế , chúng bao gồ m : “ngƣời cao tuổ i” , “ngƣời già” , “ngƣời già cả” , “thế hê ̣ thƣ́ ba” ; “ngƣời có tuổ i” , và để biểu thị những ngƣời t ừ 80 tuổ i trở lên, thuâ ̣t ngƣ̃ đƣơ ̣c dùng là “thế hê ̣ thƣ́ tƣ”. Ủy ban đã cho ̣n thuâ ̣t ngƣ̃ “ngƣời cao tuổ i” (older person, trong tiế ng Pháp là: personnes agee , tiế ng Tây Ban Nha là: personas mayores ), tƣ̀ này đƣơ ̣c sƣ̉ du ̣ng trong các Nghi ̣quyế t 47/5 và 48/98 của Đại hội đồng. Theo kinh nghiê ̣m của cơ quan thố ng kê Liên h ợp quố c , nhƣ̃ng thuâ ̣t ngƣ̃ này bao hàm cả nhƣ̃ng ngƣờ i tƣ̀ 60 tuổ i trở lên (Eurostat - Cơ quan Thố ng kê của Liên 6 minh châu Âu coi “ngƣời cao tuổ i” là nhƣ̃ng ngƣời tƣ̀ 65 tuổ i trở lên, vì tuổi về hƣu thông thƣờng nhất là 65 tuổ i và xu hƣớng nghỉ hƣu ngày càng muô ̣n hơn ) [59, tr. Ở Việt Nam, Điều 2 Luật ngƣời cao tuổi năm 2009 quy định NCT là ngƣời “từ đủ 60 tuổi trở lên”.

Có thể thấy quan điểm của quốc tế và Việt Nam trong việc xác định độ tuổi đƣợc coi là “ngƣời cao tuổi” chƣa thực sự đồng nhất. Khoảng cách giữa một ngƣời “từ 60 tuổi trở lên” với một ngƣời “từ đủ 60 tuổi trở lên” là một khoảng trống mà ở đó một số ngƣời “lẽ ra” đã đƣợc xác định là NCT theo quan điểm của luật nhân quyền quốc tế nhƣng lại chƣa đƣợc xác định là NCT theo pháp luật Việt Nam, dẫn đến việc họ chƣa đƣợc coi là chủ thể của quyền của NCT. Nhƣ vậy, khái niệm “Ngƣời cao tuổi” theo quan điểm chung của quốc tế là khái niệm rộng hơn so với khái niệm “ngƣời cao tuổi” theo pháp luật Việt Nam. Lý giải về điều này, trong quá trình xây dựng dự thảo Luật NCT của Việt Nam, một số đại biểu cho rằng việc quy định độ tuổi nhƣ vậy là để “đảm bảo tính kế thừa Pháp lệnh ngƣời cao tuổi và Luật Quốc tịch” [30].

Tuy nhiên, khi nhìn nhận vấn đề một cách tổng quát có thể thấy rằng, xét trên điều kiện kinh tế, xã hội tại Việt Nam ở thời điểm hiện tại, việc quy định NCT là ngƣời “từ đủ 60 tuổi trở lên” là tƣơng đối phù hợp với thực tiễn khách quan tại Việt Nam, thêm vào đó việc quy định nhƣ thế này sẽ tạm thời giảm bớt áp lực cho nhà nƣớc trong việc giải quyết vấn đề an sinh xã hội của quốc gia. Mặc dù vậy theo tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của quốc gia cũng nhƣ để đáp ứng việc hội nhập và xây dựng pháp luật quốc gia phù hợp với pháp luật quốc tế nhằm nâng cao hơn nữa việc bảo vệ, thúc đẩy nhân quyền thì về lâu dài Việt Nam nên điều chỉnh vấn đề này cho phù hợp với các tiêu chuẩn của luật nhân quyền quốc tế. Tình hình người cao tuổi trên thế giới Báo cáo tóm tắt“Già hóa trong thế kỷ 21: thành tựu và thách thức” do Quỹ dân số LHQ và Tổ chức hỗ trợ NCT quốc tế công bố năm 2012 đã đƣa đến một cái nhìn tổng thể về tình hình NCT trên thế giới, trong đó có thể tóm tắt một số kết quả cơ bản nhƣ sau: Hiện nay trên thế giới cứ chín ngƣời thì có một ngƣời từ 60 tuổi trở lên và con số này dự tính đến năm 2050 sẽ tăng lên là cứ năm ngƣời sẽ có một ngƣời từ 60 tuổi trở lên. Năm 1950, toàn thế giới có 205 triệu ngƣời từ 60 tuổi trở lên.

Đến năm 2012, số ngƣời cao tuổi tăng lên đến gần 810 triệu ngƣời. Dự tính con số này sẽ đạt 1 tỷ ngƣời trong vòng gần 10 năm nữa và đến năm 2050 sẽ tăng gấp đôi là 2 tỷ ngƣời, chiếm 22% tổng dân số thế giới. Trong đó tỷ lệ NCT có sự khác biệt lớn giữa các vùng, ví dụ: năm 2012, Châu Phi có 6 % dân số tuổi từ 60 trở lên, ở Châu Mỹ La Tinh và vùng biển Caribe là 10%, ở Châu Á là 11%, Châu Đại dƣơng là 15%, Nam Mỹ là 19% và Châu Âu là 22%; Đến năm 2050, dự báo tỷ trọng ngƣời cao tuổi từ 60 tuổi trở lên ở Châu Phi sẽ tăng lên chiếm 10% tổng dân số, ở Châu Á và Châu Đại dƣơng là 24%, Châu Mỹ La Tinh và vùng biển Caribe là 25%, Nam Mỹ là 27% và ở Châu Âu là 34%. Trên toàn cầu, phụ nữ chiếm đa số trong dân số cao tuổi.

Hiện nay trên thế giới, cứ 100 phụ nữ từ 60 tuổi trở lên thì chỉ có 84 nam giới. Cứ 100 phụ nữ từ 80 tuổi trở lên thì chỉ có 61 nam giới. Trên toàn thế giới, trong số ba ngƣời từ 60 tuổi trở lên thì có hai ngƣời sống ở các nƣớc đang phát triển. Đến năm 2050, trong số 5 ngƣời từ 60 tuổi trở lên thì sẽ có 4 ngƣời sống ở nƣớc đang phát triển.

Trên toàn thế giới chỉ có một phần ba các quốc gia, chiếm 28% tổng dân số thế giới, có hệ thống bảo trợ xã hội toàn diện bao phủ tất cả các khía cạnh của an sinh xã hội. 8 Chi phí cho quỹ hƣu trí toàn dân cho ngƣời từ 60 tuổi trở lên ở các nƣớc đang phát triển chỉ chiếm từ 0,7% đến 2,6% tổng thu nhập quốc dân. Trên toàn cầu, có 47% nam giới cao tuổi và 23,8% nữ giới cao tuổi tham gia vào lực lƣợng lao động. Có hơn 46% ngƣời từ 60 tuổi trở lên là ngƣời khuyết tật.

Có hơn 250 triệu ngƣời cao tuổi bị khuyết tật vừa đến khuyết tật nặng.300 nam giới và phụ nữ cao tuổi tham gia một cuộc khảo sát, có: 43% ngƣời cho biết họ lo sợ bạo lực cá nhân; 49% ngƣời tin rằng họ đƣợc đối xử một cách kính trọng; 61% ngƣời sử dụng điện thoại di động; 53% ngƣời cho biết họ gặp khó khăn hoặc rất khó khăn trong việc chi trả các dịch vụ cơ bản; 44% ngƣời nhận định tình trạng sức khỏe hiện tại của họ là ổn; 34% ngƣời cho biết họ gặp khó khăn hoặc rất khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe khi họ cần [47, tr. Có thể thấy rằng số lƣợng NCT trên thế giới chiếm một tỷ lệ không nhỏ trong tổng dân số thế giới và số lƣợng này đang ngày càng tăng với tốc độ tăng ngày càng nhanh, đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển. Trong đó số lƣợng NCT là phụ nữ chiếm đa số. Những vấn đề chủ yếu mà NCT thế giới phải đối mặt đó là sự nghèo đói, bệnh tật, bạo hành hoặc lạm dụng, sự phân biệt đối xử và sự thiếu hụt hoặc khó khăn trong tiếp cận các dịch vụ cần thiết cho cuộc sống của họ cũng nhƣ vấn đề an sinh xã hội.

Tình hình người cao tuổi tại Việt Nam Theo kết quả của Điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình thời điểm 01/4/2013 thì Việt Nam chính thức bƣớc vào thời kỳ già hóa từ năm 2011. Dân số Việt Nam (đến 1/4/2013) ƣớc tính là 89,5 triệu ngƣời, trong đó tỷ trọng dân số từ 60 tuổi trở lên tăng từ 7,1 % (1989) lên 10,5 % (2013); Chỉ số già hoá đã tăng từ 18,2% năm 1989 lên 24,3% năm 1999 và đạt 43,5% năm 2013. Điều này cho thấy xu hƣớng già hoá dân số ở nƣớc ta diễn ra tƣơng đối nhanh trong hai thập kỷ qua [52]. 9 Ngƣời cao tuổi tại Việt Nam đa phần là nữ và là nữ góa chồng.

Theo số liệu về tình trạng hôn nhân của ngƣời cao tuổi tại Báo cáo Điều tra quốc gia về người cao tuổi Việt Nam năm 2011 thì tỷ lệ goá chồng của phụ nữ cao tuổi là 50,7% trong khi tỷ lệ goá vợ của nam giới cao tuổi là 14%, tức là tỷ lệ góa chồng của phụ nữ cao tuổi cao gấp 3,6 lần so với tỷ lệ góa vợ của nam giới cao tuổi. Bên cạnh đó, khi tuổi càng cao thì tỷ lệ nữ goá chồng của NCT ngày càng lớn [18]. Ngƣời cao tuổi Việt Nam chủ yếu sống ở nông thôn, là nông dân và làm nông nghiệp. Theo số liệu tác giả tạm tính từ Kết quả Điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình năm 2013 thì trong tổng số NCT tại Việt Nam hiện có tới 68,3% NCT sống ở nông thôn.

Khi điều tra về công việc hiện tại của NCT thì có đến 56,8 % NCT tự làm nông nghiệp và 33,6 % là tự làm phi nông nghiệp; Xem xét theo khu vực thì ở khu vực nông thôn có 67,2 % NCT tự làm nông nghiệp và 26,9 % NCT tự làm phi nông nghiệp trong khi ở khu vực thành thị tỷ lệ NCT tự làm nông nghiệp chỉ có 20 % nhƣng tỷ lệ làm việc phi nông nghiệp thì lại là 57,8 % [52]. Một bộ phận khá lớn ngƣời cao tuổi vẫn đang làm việc và làm việc chủ yếu trong hộ gia đình. Khoảng 39% NCT vẫn đang làm việc với những công việc khác nhau. Vẫn có tới 60% NCT trong độ tuổi 60-69 đang làm việc nhƣng tỷ lệ làm việc của nhóm tuổi 70-79 và từ 80 tuổi trở lên giảm rất nhanh so với nhóm tuổi 60-69 (chỉ tƣơng ứng là 30% và 11%).

Trong tổng số NCT đang làm việc, gần 5% là làm công ăn lƣơng còn lại là làm các công việc tự làm hoặc là lao động gia đình không đƣợc trả công [18]. Ngƣời cao tuổi chủ yếu sống với con và nhờ con.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Bảo Vệ Quyền Lợi Người Cao Tuổi Tại Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các chính sách và biện pháp nhằm bảo vệ quyền lợi của người cao tuổi trong xã hội Việt Nam. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đảm bảo quyền lợi cho nhóm đối tượng này, từ việc chăm sóc sức khỏe đến các quyền lợi pháp lý, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho họ. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về các quy định hiện hành và các chương trình hỗ trợ dành cho người cao tuổi, từ đó có thể hiểu rõ hơn về những thách thức và cơ hội trong việc bảo vệ quyền lợi của họ.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ luật học nguyên tắc bảo vệ người cao tuổi trong các quan hệ hôn nhân và gia đình theo pháp luật Việt Nam, nơi cung cấp cái nhìn chi tiết về các nguyên tắc pháp lý liên quan đến người cao tuổi trong bối cảnh hôn nhân và gia đình. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ luật học bảo đảm quyền của người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các biện pháp bảo đảm quyền lợi cho người cao tuổi trong xã hội hiện đại. Cuối cùng, tài liệu Luận án tiến sĩ dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi tại các cơ sở trợ giúp xã hội hiện nay sẽ cung cấp thông tin về các dịch vụ xã hội hỗ trợ người cao tuổi, giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các dịch vụ hiện có. Những tài liệu này sẽ là nguồn tài nguyên quý giá cho những ai quan tâm đến việc bảo vệ quyền lợi của người cao tuổi tại Việt Nam.