Chương I: Những vẫn để lý luân cơ ban vẻ bảo đảm quyển của người cao tuổi ở Việt Nam. Chương II: Chính sách và pháp luật vé bão đăm quyển của người cao tudi ở Việt Nam hiện nay Chương III: Một số han chế trong thực hiện pháp luật bao dam quyền. của người cao tuổi và giải pháp khắc phục. ChươngI NHUNG VAN DE LÝ LUẬN CƠ BẢN VE BẢO DAM QUYEN CUA NGƯỜI CAO TUỔI.
Khái niệm người cao tuổi. Khái niệm người cao tuổi 1a một trong khái niệm kha cơ bản mà mỗi chúng ta cũng có thể tự xác định được. Tuy nhiên khái niệm người cao tuổi trên thé giới va tại Việt Nam cũng có rất nhiều va đa dang. Có rất nhiều khái niệm khác nhau về người cao tuổi.
Trước đây, người ta thường dùng thuật ngữ người giả để chỉ những người có tuổi, hiện nay “ngưởi cao tuổi” ngảy cảng được sử dụng nhiều hơn. Hai thuật ngữ này tuy không khác nhau vẻ mặt khoa học song về tâm. lý, “người cao tuổi ° là thuật ngữ mang tính tích cực vả thể hiện thái độ tôn trong. 'Về quan điểm y học: Người cao tuổi là người ở giai đoạn giả hóa gắn.
liên với việc suy giảm các chức năng của cơ thể. Lão hoá ở người cao tuổi liên quan chủ yếu đến sư suy giảm chức năng của các cơ quan trong cơ thể, 6 chính là khởi nguồn của bệnh tật do tuổi tác. Vậy nên NCT được phân thảnh các nhóm: từ 60 đền 75 tuổi được gọi lả tuổi bắt đầu giả, trên 75 đến 90 tuổi lả người giả vả trên 90 tuổi là người giả sông lâu. Về mặt pháp lý: Người cao tuổi hay người cao niên hay người giả la những người lớn tuổi, thường có độ tudi khoảng từ 60 trở lên.
Ghi nhận trong LCT ban hanh theo văn bản số 39/2009/QH12, người cao tuổi được quy định là công dân Việt Nam từ đã 60 tuổi trở lên ‘Theo WHO: Người cao tuổi phải tử 70 tuổi trở lên. ‘Mot số nước phát triển như Đức, Hoa Ky. lại quy định người cao tuổi Ja những người từ 65 tuổi trở lên. Quy định ở mỗi nước có sự khác biệt 1a do 13 sự khác nhau về lửa tuổi có các biểu hiện về giả của người dân ở các nước đó.
Những nước có hệ thống y tế, chăm sóc sức khöe tốt thì tuổi thọ ‘va sức khöe của người dân cũng được nâng cao. Do đó, các biểu hiện của tuổi gia thường đến muộn hơn, nên việc quy định vẻ tuỗi của các nước đó cũng, khác nhau. "Pháp lệnh người cao tuổi ở Việt Nam (số 23/2000/PL-UB TVQHII, ra ngày 28/04/2000) nhận định: "người cao tuổi có công sinh thành, nuôi đưỡng giáo duc con chấm về nhân cách và vai trò quan trong trong gia đình và xã ôi" Đúng vay, chúng ta thường nghĩ rằng, người cao tuổi là những người giả vả ho 1a những người có thể có nhiêu kinh nghiệm trong nhiêu lĩnh vực khác. nau, uy nhiên, câu nổi thông thường như “người giả thi thường không phổ biển bằng NCT.
Tại Việt Nam hiên nay cũng có những quy đính rat cụ thể, tất cả những người từ đủ 60 tuổi trở lên, thì có thé được goi lả người cao tuổi.2 Khai niệm quyền của người cao tuôi. Thuật ngữ quyển cia NCT được sử dụng lẫn đầu tiên trong Ké hoạch hành đông quốc tế Viên vẻ NCT, được thông qua tại Hồi nghỉ thé giới vẻ người cao tuổi năm 1982 °. Tử đó, khái niệm quyển của NCT tiếp tục được sử dụng trong nhiễu văn kiện của Liên Hop quốc, mà trực tiếp nhất la Bình luận. chung số 6 năm 1995 của Uy ban về các quyền kinh tế, xã hội, văn hoa về các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá của NCT.
Có thể thấy, khái niêm quyên của NCT hàm chứa một tập hợp những ‘bao đảm pháp lý quốc gia va quốc tế cân thiết để NCT có thể được bão vệ cả về tính mang va danh dự, nhân phẩm, được hưởng va dim bảo các tiêu chuẩn. sống, chất lượng sống thích dang cũng như được tham gia phủ hop với đời sống trong sinh hoạt xã hội công ding “mn 1983,lầu đu tên Liên Hp Quấc đã nhàn Đạihội tế giớiv Tabi gta Ân 14 1⁄3. Đặc điểm cơ bản quyền cửa người cao Các quyển của NCT cũng là các quyền con người như tất cả những người khác va bình đẳng ma không phụ thuộc hay thay đổi vào tuổi tác như. đã khẳng định trong Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyển (UDHR) là “Mot người sinh ra tee do và bình ig về phẩm cách và quyên lợi” °.
UDHR và những, văn kiện quốc tế liên quan khác đã nên ra những quyển cơ bản của NCT ma các quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc va những chủ thể quốc tế khác phải. tôn trọng và thực hiện. Theo cách tiệp cân của Liên Hợp quốc, các nhóm xã hội riềng biết, bao gdm người cao tuổi, cũng lả những chủ thé của quyển con người, vi thé cũng. có tắt cả những quyền con người phổ quát được cộng đồng quốc tế thừa nhận, trên các lĩnh vực chính trí, kinh tế, xã hội, vẫn hoá.
Quyên của NCT cũng có những đặc tính chung của quyền con người Tinh phổ biển, phd quát: Thể hiện& lỗ các quyển con người là những, gi bẩm sinh, vốn có va được áp dung bình đẳng chung cho tat cả mọi thành. viên của công đồng nhân loại, không có sư phân biệt đổi xử vi bat cứ lý do gi Tuy nhiên, cân lưu y là sự bình đẳng nảy không có nghĩa la cáo bang mức độ hưởng thu, ma la bình đẳng về tư cách chủ thể va cơ hội thụ hưởng. Tinh không thé cimyễn nhương: Thể hiện ở chỗ các quyên con người không thể bị tước bỏ hay hạn ché một cách tùy tiên bởi bắt cứ chủ thé nao, kể cả bai các nhà nước, trừ một số trường hợp đặc biết, chẳng hạn như khi một người phạm một tôi ac thi có thé bị tước quyển tự do.hay trong bồi cảnh đặc. ‘biét như tình trạng khẩn cấp của quốc gia.
Tĩnh không thé phân chia. Thì chỗ các quyén con người đều có tâm quan trong như nhau, vẻ nguyên tắc không có quyền nao được coi là có giá trị Đền 1 Tyyinngin uc Nha goin (ODER) ngnngôn các quince ca conned được tt Bội ông Tần op Que hông gu ng 10 tang 1 ia 1048 15 cao hơn quyền no, bai 1é việc tước bé hay hạn chế bắt kỳ quyền nào déu tác động tiêu cực đến nhân pl giá trị và sự phát triển của con người. Con người ở mọi nơi trên thé giới phải được hưỡng tuổi giả trong tôn. trong và an sinh, được sống cuộc sống với nhận thức đây đũ vé quyền con người và quyền tự do cơ ban.
Các đặc tính chung nêu trên có nghĩa là các quyền con người phải được áp dụng cho tat cả người cao tuổi trên thể giới, bat kể người đó thuộc chủng tộc, dan tộc, giới tinh, thành phan, tôn giáo, tin ngưỡng hay bat ki yêu tổ nào Không chi vậy, đối với người cao tuổi (va các nhóm dé bi tốn thương khác), mối liên hệ giữa các quyền con người cảng thể hiện gắn bó hơn và điều kiện để tước bö hay hạn chế quyền của họ về nguyên tắc ở mức độ cao vả chặt chế hơn so với mức thông thường, "Thể giới ngày cảng quan tâm hơn tới vấn dé của NCT va nhận ra rằng, thể giới không thé phát triển bên vững khi ma NCT bi sao nhãng bỗ qua. Với khẩu hiệu “Tiến tới một thé giới thịnh vượng cho mọi lửa tuổi”, Liên Hợp Quốc đang hướng tới xây dựng những chương trình, kể hoạch vả hành động mà trong đỏ tất cả mọi người đều được tham gia và hưởng lợi. Sự thay đổi trong quan điểm của Liên Hợp Quốc va các quốc gia vẻ NCT trong thời gian qua chủ yếu xuất phat từ hai lí do chính là giả hóa dân số trên thé giới ngay cảng gia tăng và cách nhìn nhận về NCT đã thay đổi. NCT không chỉ là nhóm người dé bị tổn thương ma họ phải được bảo vệ va chăm sóc.
Họ cũng con la nguôn lực của sã hội, có kinh nghiệm, kiến thức, kỹ năng, khả năng, nhiệt tình va lý do để tiếp tục đóng góp cho sự phát triển thịnh vượng của xã hôi. Từ năm 1990, Liên Hop Quốc đã lây ngày 1-10 hang năm la Ngéy Quốc tổ NCT và đã có những tuyên bồ, chương trình hành đông quốc tế về NCT nhằm đổi phó với những thách thức của giả hỏa dân số trong thé kỹ 21 và thúc đẩy phat triển một xã hội cho mọi lứa tuổi. 16 Quốc tế đã có Luật Nhân quyền ghi nhân quyền bình đẳng của con người, song tại Hội thảo Góp ý vào Dư thao Công ước qué tế về Quyển của người cao tuổi do Hội Người cao tuổi Việt Nam tổ chức ngày 30. định của Tổ chức Hỗ trợ người cao tuổi quốc tế (HelpAge Intemational), Luật nay chưa bao về đây di người cao tuổi khỏi bi phân biệt đổi xử và vi phạm quyền do tuổi tac Hiện tại, trong các quan hệ về quyển của người cao tuổi ở nhiều quốc.
ia, chủ thể của quyền là tất cả những người có đô tuổi từ 60 trở lê con các chủ thể chính có nghĩa vụ, trách nhiệm bảo vé, bão dim các quyển của người cao tuổi bao gồm nha nước, công dong, gia đình, người thân của ho. Cũng với tính chất la chủ thể của quyển con người, người cao tuổi có quyển doi hii các nha nước, xã hội, công đồng và các chủ thể khác tôn trong, ảo vê, bảo dim các quyển hop pháp, chính đáng cia minh. Trong van để nay, ngiĩa vu chung của các nha nước trong lính vực quyển con người cũng được áp dụng với người cao tuổi, bao gồm: nghĩa vụ tôn trong, nghĩa vụ bảo. vệ va ngiữa vụ thực hiện “Ất trên pham vi toàn cầu, việc bao dim các nha nước thực hiện đây i những nghĩa vụ nêu trên, đặc biết là ngiấa vụ bao vệ và thực hiên, có ÿ ngiữa rất quan trọng với việc hưởng thụ các quyền của người cao tuổi.
Tuy nhiên, đây cũng la một thách thức lớn bởi so với các nhóm dễ bị tổn thương khác (như phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật.), khuôn khổ pháp luật (bao gồm cơ chế giám sát thực hiện quyền của người cao tui ), Xét trên tat cả các cấp đô quốctế, khu vực và quốc gia, hiện déu còn sơ sai. Đơn cử, ở cấp độ quốc tế, trong khi đã có các công ước vẻ quyền của phụ nữ, trẻ em, người khuyết tất thì cho đến thời điểm hiện nay chưa có một văn kiện pháp lý quốc tế nao dưới dạng điều ước dé cập riêng đến quyền của người cao tuổi.