mở đầu thời dựng nước ở Việt Nam, được dân chúng suy tôn và xếp vào bậc hiển thánh trong đạo Tứ Phủ và cũng do Mẫu Thoải đại diện đầu bang trong các vị Thủy Thần nên Mẫu Thoai đã trở thành nhân vật người, người anh hùng ghi chép về bà có vẻ mờ nhạt, song rất được các sử gia chú trọng: còn trong bia miệng, người đời vẫn hằng truyền tụng về cơ đức, về sự hiển vinh linh ứng của bà. Vì thế, có nhiều văn tạo nghệ thuật, Nguyễn Đình Nghị viết vở chèo Đức Mẫu Thoải Trọng Lang với phóng 14 sự đài Đồng bóng đã góp phần không nhỏ nhắc nhở mọi người giữ lấy nếp song đạo đức dân tộc giữa năm ba mươi của thé kỷ trước Trên thực tế đời sống tín ngưỡng dân gian người Việt, Mẫu Thoải thực sự trở thành biểu tượng thần thánh của thé giới Phù Thủy trong hệ thống than thờ của đạo Tứ Phủ. Nằm trong tổng thể quan niệm của người xưa về ba tầng bốn thế giới; Mẫu Thoải xuất hiện sớm nhất so với Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Liễu và Mẫu Thượng Thiên. Tập hợp chất liệu từ đời sống, từ sách vở về đạo Tứ Phủ thì rõ ràng là trước khi trở thành một tôn giáo phổ biến vào thé ky XVI — XVII, Mẫu Thoải là một vị thần Mẹ nồi tiếng[5; Tr 28].
Tìm hiểu những quan hệ này, rõ ràng là Mẫu Thoải, Mẫu Liễu, Mẫu Thượng Ngàn “tuy ba mà một”, “tuy một mà ba” phổ biến trong đời sống tinh thần, trong đền phủ ở khắp chốn nhân gian. Hiện tượng phân lập và đồng nhất các biểu tượng thần linh của đạo thờ Tứ Phủ còn có một dạng thức nhất thành bất biến gần như trên, các đền thờ Mẫu găn liền với các ngôi chùa của đạo Phật. Đền thờ Mẫu cạnh chùa có khác bởi vị trí tượng Mẫu Liễu được thay thế bằng tượng Mẫu Thượng Thiên. Hai bên tả hữu vẫn là Mẫu Thượng Ngàn và Mẫu Thoải.
Có lẽ cách bố trí Tam Tòa Thánh Mẫu đã trở thành nguyên tắc trong đạo Tứ Phủ nên mới có biểu hiện như vậy. * Thực hành tín ngưỡng Có thé hiểu thực hành tin ngưỡng chính là việc thực hiện các hành vi, hoạt động thờ cúng trong tín ngưỡng. Trong các tín ngưỡng cụ thê ở Việt Nam như: thờ cúng tổ tiên, thờ Thanh Hoàng, thờ Mau.biéu hiện của sự thực hành tín ngưỡng đó chính là các hoạt động tế, lễ, cầu, cúng, khấn vái, hầu đồng, hầu bóng trong không gian sinh hoạt tín ngưỡng cụ thê. * Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Thoải Xuất phát từ Tín ngưỡng dân gian và tín ngưỡng thờ Tam, Tứ phủ ở Việt Nam, thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Thoải cũng có những nét tương đồng trong hoạt động sinh hoạt tín ngưỡng.
Tại các cơ sở thờ Mẫu Thoải, 15 nghi thức thờ cúng hàng ngày do các Thủ Nhang thực hiện ngoài ra còn có sự tham gia tích cực của các con nhang đệ tử vào ngày sóc, ngày vọng. Ngoài ra thực hành thực hành nghi thức thờ cúng còn được thực hiện bởi du khách thập phương, người dân bản địa khi họ tới lễ hành hương, tham quan di tích hoặc cần cầu khan những van đề trong cuộc sống. Thực hành cơ bản và đặc sắc nhất của của Tín ngưỡng Thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ nói chung và Tín ngưỡng thờ Mẫu Thoải nói riêng là nghi lễ lên đồng và lễ hội * Lên đồng Lên đồng theo GS Ngô Duc Thịnh trong Đạo Mẫu Việt Nam viết rằng: “nghi lễ chính của thờ Mẫu Tứ phủ cũng như một số Mẫu khác. Đó là nghỉ lễ nhập hôn của các vị thánh Tam Phủ, Tứ Phủ vào thân xác các ông đông, bà đồng, là sự tái hiện lại hình ảnh của các vị Thánh, nhằm phán truyễn, chữa bệnh, ban phúc lộc cho những tín đô đạo Mau” “Đồng” là từ gốc Hán chỉ người con trai dưới 15 tuôi với tư chất trong trăng, ngây thơ, tự nhiên dé thần linh nhập vào.
Sau đó, người ta dần lay các cô gái thay thế các thiếu niên. Đến ngày nay, người ta vẫn thường gọi những người Lên đồng là các ông Đồng, bà Đồng. Họ là những chiếc cầu nối giữa thần linh và con người, giữa thế giới thần tiên và cuộc sống trần tục. Những ông Đồng, bà Đồng chiếm giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong nghi thức Lên Đồng, họ là người giúp “Thần linh” truyền đạt những lời phán dạy của thần linh thông qua thân xác trần tục của mình.
Như vậy, có thê hiểu, hiện tượng Lên đồng chính là một sự nhập cuộc của thần linh vào thân xác con người. Nó là một trong những nghi lễ quan trọng của tín ngưỡng thờ Mẫu, đánh dấu những giá trị văn hóa độc đáo được giữ gìn, bảo tồn qua nhiều thế hệ. Lên đồng còn được gọi với nhiều tên khác nhau như: hầu đồng, hầu bóng, ngồi đồng.Lên đồng là sự nhập hồn của Thần linh, “Lên đồng là một nghi lễ mang tính văn hoá và tôn giáo phức hợp, là nghi lễ mà ở đó các vị 16 Than giáng xuống thông qua các phương tiện trình diễn nghỉ lễ và giao tiếp nghỉ lễ”[60]. Lên đồng liên quan đến việc cầu, nhập hồn của thần linh vào thân xác các ông đồng bà đồng.
Là hình thức cầu, gọi hồn Than, Thánh nhập vé/vao thân xác người sống nhằm mục đích kết nối quá khứ với hiện tại. Người lên đồng là những người có mối liên hệ với Thần, Thánh, có thê thông linh, cảm nhận được linh hồn hay từ trường của vụ trụ. * Nghỉ lễ: là một pháp môn hay phương tiện dẫn dắt đời sông tinh thần con người đạt đến nguồn chánh tín cứu cánh, hoăng hoá lợi sanh để đưa con người vào Đạo một cách dễ dàng. Nên khái niệm - Nghi: là những phương thức biểu lộ sự cung kính một cách trang nghiêm đối với Tam bảo hay dé truy tiến báo ân đối với các dang cao cả mà mình tôn thờ.
- Lễ: là một hình thức sinh hoạt truyền thống có giá trị tâm linh nhằm đánh dấu những thời điểm quan trọng trong cuộc đời tu tập và sinh hoạt của một Đoàn sinh và Huynh trưởng trong tô chức. * Lễ Hội: là một hiện tượng văn hoá dân gian tổng thể, “là một hình thức diễn xướng tâm linh tổng thé của lễ hội không phải là thực thé “chia đôi” như người ta quan niệm mà nó hình thành trên cơ sở một cốt lõi nghi lễ, tin ngưỡng nào đó (thường là tôn thờ một vị thần linh - lịch sử hay một thần linh nghề nghiệp nào đó) rồi từ đó nảy sinh và tích hợp các hiện tượng văn hoá phái sinh dé tạo nên một tổng thé lễ hội cho nên trong lễ hội phan lễ là phần gốc rễ chủ đạo, phần hội là phần phát sinh tích hợp. Lễ hội là sinh hoạt văn hóa gắn với đời sống tinh thần của cư dân sống trên dải đất Việt Nam hàng ngàn năm nay. Trong một năm, thường vào những thời khắc nhất định thuộc mùa xuân và mùa thu, khắp nơi tưng bừng không khí lễ hội.
Dù ở miền núi cao, đồng bằng hay hải đảo xa xôi, mỗi khi cộng đồng tổ chức lễ hội là dịp người người nhà nhà náo nức đón chờ và hưởng 17 ứng. Đồng bào các dân tộc thiểu số hay người Kinh, cũng đều có chung tâm trang hưng phấn cộng đồng này. Lễ hội cũng có thé diễn ra ở những nơi cu thé nào đó vào mùa hạ hoặc mùa đông. Tuy nhiên, những thời điểm đó không phổ biến bang lễ hội mùa xuân, mùa thu.
C6 nhân đã tổng kết quy luật gắn với tứ thời bát tiết trong năm: Xuân sinh, Hạ trưởng, Thu liễm, Đông tàn, cũng cho ta những thông tin gần gũi với vòng quay mùa màng, chu trình sinh trưởng của cây trồng (và phần nào đúng với vật nuôi, vạn vật. ở lớp nghĩa khác). Hiểu theo nghĩa rộng, tổng kết trên cũng chăng xa với vòng đời của mỗi người có sinh, trụ, dị, diệt hay sinh, lão, bệnh, tử. Và, thời gian trôi di, không gian thay đổi, nhưng vòng tuần hoàn vũ trụ luân chuyển và mùa đến, mùa đi, kế nối dài vô cùng vô tận.
Bởi thế, khát vọng trường sinh, sự tưng bừng náo nhiệt sẽ mãi mãi xoay vòng cùng con người và đất trời, để cho lễ hội cứ đến hen lại tới, cứ đến dip là vui mừng náo nức y như ngày xtra ngày xưa cho tới tận bây giờ và mai sau.[xem 63] * Lễ hội Mẫu Thoai Lễ hội Mẫu Thoải là một trong những hoạt động đặc sắc mang đánh dấu ấn của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam. Hàng năm, tại các đền, miếu, phủ thờ Mẫu Thoải đều diễn ra lễ hội dé tưởng nhớ công lao của Thánh Mẫu đã giúp nhân dân. Đây cũng là dip để mọi người tập trung lại, hòa vào không gian văn hóa bảo lưu những nét đẹp của sinh hoạt cộng đồng * Điện thờ Điện là sảnh đường cao lớn, thường chỉ chỗ Vua Chúa ở, chỗ Thần Thánh ngự. Như vậy Điện thờ là một hình thức của Đàn, là nơi thờ Thánh trong tín ngưỡng Tam tứ phủ.
Tuy vậy quy mô của Điện nhỏ hơn Đền và Phủ, lớn hơn so với Miéu Thờ. Điện thông thường thờ Phật, thờ Mẫu, Công đồng Tam tứ phủ, Trần Triều và các vị thần nổi tiếng khác. Điện có thé của cộng đồng hoặc tư nhân. Trên bàn thờ thường có ngai, bài vi, khám, tượng chư vi thánh thần và các đồ thờ khác: tam sơn, bát hương, cây nên, dai, lọ hoa, vàng mã,.
18 * Phu Phủ là đặc trưng của tín ngưỡng thờ Mẫu (tín ngưỡng bản địa của người Việt Nam). Một số nơi thờ tự (ở Thanh Hóa) gọi Đền là Phủ. Có thể hiểu Phủ là nơi thờ tự Thánh Mẫu khá sầm uất, mang tính chất trung tâm của cả một vùng lớn, vượt ra ngoai phạm vi địa phương, thu hút tin đồ khắp nơi đến hành hương (tương tự như chốn Tổ của sơn môn đạo Phật). Ngôi phủ sớm nhất còn lại hiện biết là điện thờ các thần vũ nhân ở chùa Bút Tháp, có niên đại vào giữa thé kỷ XVII 1.
Nguồn gốc của tín ngưỡng tho Mẫu Thoải Tín ngưỡng thờ Mẫu Thoải là một tín ngưỡng đã có từ lâu đời và có rất nhiều nguồn ngốc.TS Ngô Đức Thịnh đã từng nhận định. Tín ngưỡng thờ Mẫu bắt nguồn sâu xa có nguồn gốc từ tín ngưỡng thờ Nữ than có từ thời kỳ của xã hội nguyên thủy. “Với cư dân nông nghiệp lúa nước như Việt Nam, tín ngưỡng này được bảo lưu, duy trì, phát triển và dần dần nó mang tính chất của một “dao” hay một “tôn giao” — dao Mẫu”[44.