Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm Văn hóa Văn hóa, giao lưu, tiếp biến văn hóa… hay những phạm trù khác có liên quan đến văn hóa luôn là những vấn đề đang được quan tâm ở nước ta hiện nay. Năm 1986 khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới văn hóa, văn hóa đã được quan tâm và thu hút được rất nhiều nhà khoa học đi sâu nghiên cứu.
Trên thế giới hiện nay văn hóa đã trở thành một đối tượng nghiên cứu và được nhắc đến là một ngành khoa học cụ thể. Khi nhắc đến Văn hoá, mỗi người sẽ có một cách hiểu và tiếp cận khác nhau. Văn hoá là những giá trị cụ thể nhất do còn người sáng tạo ra nhằm phục vụ cho mục đích của mình. Văn hoá thường sẽ được chia ra thành hai thành tố cơ bản: văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần.Văn hoá là một khái niệm tương đối đa nghĩa và phức tạp.
Ngay từ những buổi đầu tiếp cận, văn hóa được xem như những giá trị mang tính tốt đẹp, nhằm giúp con người sống theo những chuẩn mực tốt đẹp. Hiện tại chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy được rất nhiều khái niệm, định nghĩa về văn hóa. Tổ chức Unesco cho rằng “Văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng.
Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân. Chính văn hóa đã làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý. Chính nhờ 13 văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân” dẫn theo Trần Quốc Vượng trong quyển Cơ sở văn hóa Việt Nam (2005)[79, tr.24] đây là định nghĩa được rất nhiều nhà nghiên cứu sử dụng và được xem là định nghĩa có tầm bao quát nhất. Còn Edward Burnet Tylor định nghĩa “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, là một tổng thể phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và bất cứ năng lực và tập quán nào được lĩnh hội bởi con người với tư cách là thành viên của xã hội” dẫn theo Nguyễn Văn Hiệu trong Tài liệu ôn tập Cơ sở văn hóa Việt Nam (2015) Khoa Văn hóa học, Đại học KHXHVNV thành phố Hồ Chí Minh.
Hồ chí Minh khi nói về văn hóa cũng đã nhận định rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” dẫn theo Trần Quốc Vượng trong quyển Cơ sở văn hóa Việt Nam [79, tr.21] Trong khi đó Trần Ngọc Thêm lại tiếp cận và phân loại văn hóa theo 3 phương diện khác nhau là; coi văn hóa là sản phẩm, coi văn hóa là quá trình và hướng tiếp cận coi văn hóa là những mối quan hệ và cấu trúc. Từ những hướng tiếp cận đó trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam (2000) của Trần Ngọc Thêm, ông cho rằng “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [52, tr. Tất cả định nghĩa này đều nhận định văn hóa là tất cả mọi mặt trong 14 đời sống của con người, là những gì con người tạo ra để phục vụ cho cuộc sống của mình.
Văn hóa là sản phẩm của quá trình tồn tại của con người. Văn hoá không phải là một giá trị đơn lẻ mà là một hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần. Hay còn gọi là văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể. Với hướng tiếp cận này, văn hóa được chúng tôi tiếp cận trên cả hai phương diện vật thể và phi vật thể.
Đồng thời văn hóa được xem xét dưới góc độ đồng đại và lịch đại. Chúng tôi chọn khái niệm văn hóa của Trần Ngọc Thêm để làm hướng nghiên cứu cho mình. Khái niệm chùa Hiện nay, trên đất nước ta có rất nhiều tôn giáo như: Phật giáo, Công giáo, Cao Đài, Hoà Hảo, Tin Lành, Hồi giáo, Bà La Môn, Tư Ân Hiếu Nghĩa. Mỗi một tôn giáo có hệ thống kiến trúc, cơ sở thờ tự với những đặc trưng riêng, đây chính là một trong những đặc điểm để phân biệt tôn giáo này với tôn giáo khác.
Chùa, Nhà thờ, Thánh đường, Thánh thất, Đình, đền, miếu là cơ sở thờ tự của các tôn giáo, tín ngưỡng tại Việt Nam. Ở đây chúng tôi muốn đề cập đến khái niệm Chùa cơ sở thờ tự Phật giáo, tôn giáo có số lượng tín đồ đông nhất ở Việt Nam. Theo Từ điển Tiếng Việt: “Chùa là công trình được xây cất lên, làm nơi thờ Phật” [38,tr. Đại từ điển Tiếng Việt cũng định nghĩa: “Chùa là ngôi nhà làm nơi thờ Phật thường lợp ngói, mái uốn cong” [80,tr.
Còn theo tác giả Hà Văn Tấn [46], chùa là nơi thờ Phật. Và gần đây, cũng có một số tác giả lại mở rộng khái niệm Chùa hơn nữa. Như tác giả Võ Văn Tường trong bài viết “Ngôi chùa trong lịch sử Phật giáo Việt Nam”[91] và tác giả Anh Tuấn trong bài viết “Phân biệt Chùa, Đình, Đền, Miếu, Nghè, Điện, Phủ, Quán, Am…”[92] “Chùa là công trình kiến trúc để thờ Phật và là nơi để tu hành, học tập, nghiên cứu giáo lý Phật giáo của Tăng, Ni, Phật tử…. Không chỉ vậy ở nhiều nơi đặc biệt là khu vực 15 miền Bắc chùa còn là thắng cảnh du lịch, là trung tâm của các hoạt động lễ hội, thậm chí là bảo tàng nghệ thuật dân tộc, là cơ sở hoằng pháp, kinh tế, xã hội, y tế.
Có thể kể các chùa như chùa Hương, chùa Bái Đính, chùa Một Cột, chùa Thiên Mụ… Vì vậy, xét theo chức năng chính của một ngôi chùa hiện nay ta có khái niệm sau: “Chùa là công trình kiến trúc để thờ Phật và là nơi để tu hành, học tập, nghiên cứu giáo lý Phật giáo của Tăng, Ni, Phật tử…., là nơi diễn ra các hoạt động lễ hội, là nơi để con người thưởng ngoạn hoặc tìm sự bình an về mặt tinh thần” Về nguồn gốc của từ “Chùa”, hiện nay không xác định được nguồn gốc. Tác giả Hà Văn Tấn đã đưa ra nhận định rằng Chùa là từ thuần việt và khả năng có liên quan với từ “Tự” của Trung Quốc cũng có nghĩa là chùa rất thấp. Ông đã đưa ra giả thyết của một số người rằng: Do Chùa Việt Nam lúc ban đầu có dạng hình tháp nên có thể bắt nguồn từ từ thupa (tiếng Pa-li) hay Stupa (tiếng Sanskrit) của Ấn Độ. Về sau người Việt khi phát âm có xu hướng rút ngắn gọn từ lại và đọc trại thành “Chùa” [46].
Tác giả Hà Văn Tấn cũng đã khái quát một số nét chính về Chùa: - Chùa thường được xây dựng bằng các vật liệu tranh, tre, gỗ, gạch, ngói. Nói chung dù được xây dựng bằng loại vật liệu gì thì người dân cũng sẽ dành loại vật liệu tốt nhất để xây chùa. - Về mặt bằng tổng thể: chùa không phải là một kiến trúc đơn lẻ mà là một tổ hợp gồm nhiều công trình kiến trúc như: tam quan, sân chùa, vườn chùa, chính điện, nhà Tổ… xếp chung lại với nhau. Và dựa vào cách sắp xếp các công trình kiến trúc chính người ta sẽ chia thành 4 kiểu chùa theo chữ Hán có dạng giống như mặt bằng của Chùa.
+ Chùa chữ Đinh chỉ gồm 2 kiến trúc là chính điện và tiền đường hay bái đường nối lại với nhau giống hình chữ Đinh 16 + Chùa chữ Công gồm chính điện song song với bái đường, nối hai công trình này lại bằng một ngôi nhà thiêu hương hay còn gọi là ống muống tạo thành dạng chữ Công + Chùa chữ Tam có 3 dãy nhà song song với nhau, thường gọi là chùa Hạ, chùa Trung và chùa Thượng + Chùa nội Công ngoại Quốc là kiến trúc chùa bên trong có dạng chữ Công, bên ngoài có hành lang chạy dài nối liền tiền đường và nhà hậu đường tạo thành khung chữ nhật bao quanh kiểu chùa chữ công bên trong, như hình bao quanh chữ công bên trong. Đây là bốn kiểu chùa cơ bản, nhưng trên thực tế có thể sẽ có một số biến thể khác. Riêng về kiến trúc của chùa ở Nam bộ, cũng như các kiến trúc tôn giáo khác như đình, miếu, võ ở Nam bộ đều được xây dựng theo kiểu nhà rường tứ trụ. Nhà rường là kiểu nhà có hai hàng cột cái, gồm 8 cây nối với nhau theo từng đôi theo chiều ngang nhà và được nêm cứng bằng cây trính.
Mỗi hàng cột sẽ nối với nhau bằng một cây xuyên ngang. Đây là kiểu nhà dân dụng phổ biến ở Nam bộ. Kiến trúc chùa cũng là nhà rường nhưng khác với nhà rường dân dụng, nhà rường của kiến trúc tôn giáo là nhà rường tứ trụ. Nhà rường tứ trụ khác với nhà rường dân dụng ở chỗ bốn cây cột cái bố trí bốn góc tạo ra một không gian trung tâm vuông vức thay vì hình chữ nhật.
Không gian này là không gian thờ, đây chính là Chánh điện. Chùa Vĩnh Tràng ở thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang thuộc kiểu Chùa nội công ngoại quốc, gồm 178 cột gỗ tròn, 5 lớp nhà: Tiền đường, Chánh điện, Nhà Tổ và Nhà Hậu (Nhà Ông Giám) và Nhà xe nối tiếp nhau. Giữa có hai sân thiên tĩnh. Chùa cũng thuộc kiểu nhà rường tứ trụ, 5 gian 2 chái, với 17 không gian ở giữa vuông vức chính là gian thờ.
Đặc biệt kiến trúc của Chùa là sự kết hợp giữa kiến trúc phương Đông và phương Tây. Chùa đã được Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam công nhận là ngôi chùa đầu tiên ở Việt Nam được xây dựng kết hợp giữa hai lối kiến trúc phương Đông và phương Tây.