Tổng quan luận án
Công trình Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay là luận án tiến sĩ chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử (mã số: 9.02), do nghiên cứu sinh Lê Thị Tâm thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Hồ Sĩ Quý, bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam vào năm 2020.
Về tính cấp thiết, tác giả luận giải rằng văn hóa là một trong những thành tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển bền vững của quốc gia, đòi hỏi sự gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế, phát triển văn hóa và thực hiện công bằng xã hội như Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã khẳng định. Dưới góc độ triết học, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là bảo tồn những giá trị cốt lõi làm nên sức sống, lòng tự hào và ý thức tự tôn của cộng đồng. Sóc Trăng là tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, đứng thứ 6 về diện tích và dân số trong vùng, mang đặc thù là địa bàn cộng cư, khai hoang lập ấp lâu đời của ba dân tộc Kinh, Hoa và Khmer. Trước tác động của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, nhiều nét văn hóa truyền thống nơi đây đang đứng trước nguy cơ mai một và biến dạng.
Về khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng dù đã có một số công trình tìm hiểu về các khía cạnh lịch sử, di sản hay nghệ thuật truyền thống của từng dân tộc tại địa phương, nhưng chưa có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng từ góc độ triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án:
- Xác định những yếu tố cần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng.
- Nghiên cứu thực trạng, trên cơ sở đó đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp nhằm giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng trong quá trình phát triển.
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án (được đánh số theo văn bản):
- Tổng quan những nghiên cứu lý luận và thực tiễn về văn hóa và bản sắc văn hóa, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa về những nét đặc thù và bản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng truyền thống và hiện nay.
- Hệ thống hóa, làm rõ những nội dung lý luận để xây dựng khung lý thuyết cho nghiên cứu thực tiễn giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng.
- Nghiên cứu, xác định giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng.
- Nghiên cứu và đánh giá thực trạng giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng và phát hiện những vấn đề cấp bách của việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng trong quá trình phát triển hiện nay.
- Đề xuất quan điểm các giải pháp giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng trong quá trình phát triển.
Đối tượng nghiên cứu: Việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu:
- Thời gian: Nghiên cứu các vấn đề văn hóa, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc tại Sóc Trăng chủ yếu từ thời kỳ đổi mới (cuối những năm 1980) đến thời điểm bảo vệ luận án (năm 2020).
- Không gian: Địa bàn các huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Sóc Trăng.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong Chương 1, tác giả đã tiến hành tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước qua hai nhóm công trình chính:
Nhóm 1: Các nghiên cứu lý luận chung về văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc
- Đào Duy Anh với Việt Nam văn hóa sử cương (1938) là công trình nghiên cứu sớm, tiếp cận văn hóa theo nghĩa động: "Văn hóa tức là sinh hoạt", bao quát cả văn hóa vật chất lẫn văn hóa tinh thần.
- Trần Ngọc Thêm trong Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam (1996) sử dụng cách tiếp cận hệ thống - cấu trúc để phân tích các thành tố văn hóa, xác định các chức năng và cấu trúc văn hóa; trong Một số vấn đề về hệ giá trị Việt Nam (2015), tác giả nhấn mạnh tinh thần lạc quan trong đời sống người Việt.
- Các công trình học thuật quốc tế: Stuart Hall và Paul Du Gay trong Các câu hỏi về bản sắc văn hóa (1996) phân tích sự suy giảm bản sắc trong xã hội hiện đại; Jonathan Friedman trong Bản sắc văn hóa và quá trình toàn cầu (1994) và Thomas L. Friedman trong Dân tộc và ranh giới xem xét tộc người như đơn vị mang văn hóa; Amy B. Tsui và James W. Tollefson phân tích chính sách ngôn ngữ và bản sắc tại châu Á; Peter Wallace Preston trong Chính trị, bản sắc văn hóa: Công dân và quốc gia trong một kỷ nguyên toàn cầu (1997) luận giải sự đa dạng văn hóa trong bối cảnh thay đổi chính trị toàn cầu.
- Các định hướng đường lối của Đảng và nghiên cứu chuyên sâu: Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998), Cương lĩnh xây dựng đất nước năm 1991 và bổ sung năm 2011, Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI (2014); các bài viết của Nguyễn Khoa Điềm (2003) về Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943; Phạm Duy Đức (2010, 2014) về phương pháp luận phát triển văn hóa giai đoạn 2011-2020; Vũ Ngọc Hoàng (2014) về suy thoái đạo đức xã hội và thang bậc giá trị; Đặng Văn Hùng, Đinh Xuân Dũng về quy luật tiếp nhận "cho" và "nhận" trong giao lưu văn hóa; Trần Quốc Vượng trong Cơ sở văn hóa Việt Nam; Phan Ngọc trong Bản sắc văn hóa Việt Nam; Trần Văn Giàu trong Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam (1980, tái bản 2011) với bảng giá trị yêu nước, cần cù, nhân nghĩa; Nguyễn Văn Huyên (1998, 2013); Liêu Trần Tiêu (2002); Hồ Sĩ Vịnh (2002); Mai Hải Oanh (2003); Nguyễn Đình Tường (2006); Trần Thị Minh; Trần Quang Phúc (2013); Nguyễn Thị Thường (2015); Phan Xuân Sơn (2016); Nguyễn Tiến Dũng (2018).
Nhóm 2: Các nghiên cứu về bản sắc văn hóa ở Nam Bộ và tỉnh Sóc Trăng
- Về địa bàn Nam Bộ: Sơn Nam qua các công trình Nói về miền Nam, Cá tính miền Nam, thuần phong mỹ tục Việt Nam (2005), Giới thiệu Sài Gòn xưa, tiếp cận với Đồng bằng sông Cửu Long (2018), Đình miễu & lễ hội dân gian miền Nam (2018); Huỳnh Quốc Thắng trong đề tài khoa học thuộc Chương trình KX.2009 về bản sắc và giao tiếp văn hóa; nhóm tác giả Ngô Văn Lệ, Phan An, Phan Thị Yến Tuyết, Nguyễn Văn Tiệp, Phan Văn Dốp, Trần Thị Thảo trong đề tài cấp nhà nước về đặc trưng tín ngưỡng tôn giáo và sinh hoạt văn hóa của cư dân Nam Bộ.
- Về văn hóa dân tộc Khmer: Phạm Phương Hạnh trong Văn hóa Khmer Nam Bộ nét đẹp trong bản sắc văn hóa Việt Nam (2013) phân tích vai trò của ngôi chùa và Phật giáo Nam tông; Đoàn Trung Dũng và Võ Văn Chỉ về bảo tồn văn hóa Khmer Tây Nam Bộ; Nguyễn Tiến Dũng trong luận án tiến sĩ Triết học Vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của người Khmer trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay (2015); Nguyễn Văn Sĩ (2016) trên Tạp chí Lý luận chính trị.
- Về địa bàn tỉnh Sóc Trăng: Các tài liệu lịch sử địa chí như Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ, Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn, Gia Định thành thông chí, Nam Kỳ Lục Tỉnh Địa Dư Chí, Chuyên khảo về tỉnh Sóc Trăng (Monographie de la Province de Sóc Trăng); đề tài cấp tỉnh của Sơn Lương (2005) về nghệ thuật sân khấu Dù Kê Khmer; đề tài của Sơn Ngọc Hoàng (2008) về nghệ thuật sân khấu Rô Băm; ấn phẩm Truyền thống đấu tranh cách mạng của đồng bào Hoa tỉnh Sóc Trăng (1930-1975) do Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Sóc Trăng soạn thảo (2005); Tập ca cổ Sóc Trăng - Tình vẫn đẹp do Sở Văn hóa Thông tin biên tập (2005).
| Nhóm công trình |
Đại diện tiêu biểu |
Nội dung và đóng góp chính |
| Lý luận chung về văn hóa và bản sắc |
Đào Duy Anh, Trần Ngọc Thêm, Phan Ngọc, Trần Văn Giàu, E.B. Tylor, S. Hall, J. Friedman |
Xác lập khái niệm văn hóa, cấu trúc bản sắc, mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, quy luật giao lưu văn hóa |
| Văn hóa Nam Bộ và dân tộc Khmer |
Sơn Nam, Huỳnh Quốc Thắng, Ngô Văn Lệ, Phạm Phương Hạnh, Nguyễn Tiến Dũng |
Làm rõ tính chất dung hợp, giao tiếp văn hóa vùng đất mới; vai trò của Phật giáo Nam tông và thiết chế chùa Khmer |
| Khảo cứu thực tiễn tại Sóc Trăng |
Sơn Lương, Sơn Ngọc Hoàng, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Sóc Trăng, các sách địa chí cổ |
Khảo sát các thành tố văn hóa cụ thể: sân khấu Dù Kê, nghệ thuật Rô Băm, lịch sử đấu tranh của người Hoa, ca cổ địa phương |
Khoảng trống luận án giải quyết: Phần lớn các công trình trên tiếp cận văn hóa Sóc Trăng ở góc độ lịch sử, dân tộc học hoặc đi sâu vào từng loại hình nghệ thuật riêng lẻ của một dân tộc. Luận án chọn khoảng trống tiếp cận liên ngành dưới góc nhìn triết học CNDVBC và CNDVLS, xem xét tổng thể mối quan hệ cộng cư biện chứng giữa ba dân tộc Kinh - Hoa - Khmer, đánh giá sự tác động qua lại giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, từ đó xây dựng hệ thống quan điểm, giải pháp gắn bảo tồn bản sắc với phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, trực tiếp là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trong đó, tác giả quán triệt quan điểm của Ph. Ăngghen về bản chất xã hội của lao động và nhận định: "Mỗi bước tiến lên trên con đường văn hóa lại là một bước tiến tới tự do". Luận án vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa (định nghĩa văn hóa xuất phát từ đòi hỏi sinh tồn và mục đích cuộc sống) cùng đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam thể hiện qua Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943 (ba nguyên tắc: dân tộc hóa, đại chúng hóa, khoa học hóa), Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII và Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Các khái niệm cơ bản được xác lập và vận dụng:
- Văn hóa: Kế thừa định nghĩa năm 1982 của UNESCO tại Mexico và các học giả trong nước (Trần Ngọc Thêm, Phan Ngọc, Vũ Khiêu, Hồ Sĩ Quý), tác giả xác định: "Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn, xã hội - lịch sử của mình trên cả hai lĩnh vực sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần."
- Bản sắc văn hóa dân tộc: Tác giả tiếp thu các luận điểm của Trần Đình Hượu (về "đặc sắc dân tộc của văn hóa"), Trần Văn Bính, Hồ Sĩ Vịnh, Phạm Duy Đức, Hoàng Trinh để đưa ra quan niệm: "Bản sắc văn hóa dân tộc là tổng thể các giá trị vật chất, tinh thần tinh túy nhất, đặc trưng, tiêu biểu, phản ánh tính chất, tính cách, phẩm chất của mỗi dân tộc, là dấu hiệu cơ bản để phân biệt văn hóa của dân tộc này với dân tộc khác. Những giá trị đó tiềm ẩn trong tâm thức, trong cốt cách của con người và được thể hiện ra trong mọi mặt đời sống, trong mọi hoạt động và quan hệ của con người và trong di sản văn hóa của mỗi dân tộc."
- Luận án phân định rõ hai cấp độ tiếp cận: bản sắc của dân tộc tộc người (ethnic group - Kinh, Hoa, Khmer) và bản sắc của dân tộc quốc gia (nation-state - cộng đồng các dân tộc Việt Nam).
Phương pháp nghiên cứu thực tế:
- Phương pháp luận triết học: Sử dụng phương pháp logic kết hợp với lịch sử, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch để luận giải các phạm trù văn hóa, bản sắc văn hóa từ phương diện triết học.
- Hướng tiếp cận định tính: Luận án không tiến hành điều tra chọn mẫu thống kê định lượng hay kiểm định mô hình mà sử dụng phương pháp phân tích văn bản, tổng thuật tài liệu văn hóa học, sử học, so sánh đối chiếu các đặc trưng văn hóa.
- Nguồn tư liệu: Văn kiện, nghị quyết của Đảng; văn bản chỉ đạo và báo cáo tổng kết chuyên môn của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; dữ liệu thứ cấp từ các công trình nghiên cứu, khảo sát văn hóa đã được công bố tại địa phương.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Chương này dành cho việc hệ thống hóa các tài liệu khoa học liên quan đến đề tài. Tác giả phân chia tình hình nghiên cứu thành ba nhóm: các công trình lý luận chung về văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc; các công trình nghiên cứu về văn hóa Nam Bộ và Sóc Trăng; và khái quát các kết quả đạt được cùng những vấn đề còn bỏ ngỏ. Tác giả chỉ rõ việc nghiên cứu bản sắc văn hóa tại Sóc Trăng thời gian qua phần nhiều mang tính mô tả văn hóa học hoặc dân tộc học thuần túy, chưa có công trình nào phân tích có hệ thống dưới góc độ triết học CNDVBC và CNDVLS về sự tương tác giữa ba tộc người Kinh, Hoa, Khmer trên địa bàn tỉnh trong quá trình đổi mới.
Chương 2: Một số vấn đề lý luận về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng trong giai đoạn hiện nay
Chương 2 làm rõ khung lý thuyết của luận án qua ba nội dung:
- Phân tích nguồn gốc thuật ngữ văn hóa ở phương Đông (biến cải, làm cho có giá trị) và phương Tây (khái niệm colere của Ciceron về vun xới tâm hồn), trích dẫn các định nghĩa kinh điển của E.B. Tylor, Ph. Ăngghen, UNESCO, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đề cương văn hóa 1943.
- Làm rõ cấu trúc của bản sắc văn hóa: phân biệt bản sắc văn hóa vật thể, phi vật thể và bản sắc dân tộc - quốc gia. Tác giả lập luận bản sắc văn hóa là một phạm trù lịch sử mang tính mở, vận động qua quá trình bồi đắp nội tại và tiếp biến các giá trị bên ngoài. Giữ gìn bản sắc gồm giữ gìn chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đoàn kết, lòng lạc quan nhân nghĩa, đức tính cần cù sáng tạo và thái độ khoan dung văn hóa.
- Bàn về tính biện chứng giữa bảo tồn và phát triển tại Nam Bộ: khẳng định việc giữ gìn bản sắc không đồng nghĩa với đóng cửa, biệt lập, mà diễn ra thông qua quá trình "cho" và "nhận", sàng lọc loại bỏ hủ tục lạc hậu và tiếp thu có chọn lọc các yếu tố mới phù hợp với tiến trình công nghiệp minh hóa và hiện đại hóa.
Chương 3: Bản sắc văn hóa cộng đồng các dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng thực trạng và những vấn đề đặt ra
Chương này tập trung nhận diện bản sắc và phân tích thực trạng văn hóa ba dân tộc tại Sóc Trăng:
- Nhận diện bản sắc cộng đồng ba dân tộc:
- Dân tộc Khmer: Gắn bó mật thiết với Phật giáo Nam tông Khmer. Ngôi chùa đóng vai trò trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng, văn hóa và giáo dục cộng đồng ("sống gửi thân, chết gửi xác"). Hệ thống di sản gồm chữ viết Pali - Khmer, lễ hội truyền thống (Oóc Om Bóc với hội đua ghe Ngo, Chôl Chnăm Thmây, Sen Đônta), nghệ thuật sân khấu Dù Kê, Rô Băm, nghệ thuật múa Rom Vong, Rom Leo, dàn nhạc ngũ âm.
- Dân tộc Hoa: Đóng góp trong lịch sử khai phá và kháng chiến giải phóng dân tộc; bảo tồn văn hóa tín ngưỡng qua hệ thống đình miếu (chùa Ông, chùa Bà), tinh thần tương trợ cộng đồng, các hình thức sinh hoạt nghệ thuật và ẩm thực truyền thống.
- Dân tộc Kinh: Truyền thống đoàn kết khai hoang, lối sống nghĩa tình, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, đình làng, nghệ thuật đờn ca tài tử và sân khấu cải lương.
- Đánh giá thực trạng: Tỉnh Sóc Trăng đã đạt được kết quả cụ thể trong việc tôn tạo di tích chùa chiền, duy trì các lễ hội cấp tỉnh và khu vực, đưa việc giảng dạy chữ Khmer vào hệ thống trường phổ thông và trường dân tộc nội trú, phát triển các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp. Tuy nhiên, việc đầu tư cơ sở vật chất văn hóa còn thiếu đồng bộ, ngân sách hạn chế.
- Những vấn đề đặt ra:
- Sự xâm nhập của lối sống thực dụng, chạy theo lợi ích vật chất làm phai nhạt thuần phong mỹ tục và tình cảm cộng đồng.
- Nguy cơ mai một một số loại hình nghệ thuật cổ truyền như múa Rô Băm, kịch Dù Kê do thiếu hụt lực lượng kế cận và sức ép của công nghệ giải trí hiện đại.
- Đời sống kinh tế của một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số còn khó khăn, dẫn tới khoảng cách thụ hưởng văn hóa giữa thành thị và nông thôn.
Chương 4: Những quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay
Chương cuối trình bày phương hướng hành động gồm quan điểm chỉ đạo và các nhóm giải pháp kinh tế - xã hội:
- Hệ thống quan điểm cơ bản:
- Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc phải gắn kết chặt chẽ với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh trên địa bàn tỉnh.
- Xử lý hài hòa mối quan hệ giữa kế thừa truyền thống và đổi mới, kiên quyết loại bỏ hủ tục, mê tín dị đoan gắn với tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.
- Bảo đảm quyền bình đẳng, tôn trọng sự đa dạng văn hóa của các dân tộc Kinh, Hoa, Khmer trong tính thống nhất của nền văn hóa Việt Nam.
- Các nhóm giải pháp chủ yếu:
- Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, bồi dưỡng lòng tự hào dân tộc và ý thức bảo tồn di sản cho thế hệ trẻ.
- Thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất làm nền tảng cho việc nâng cao đời sống văn hóa tinh thần.
- Kết hợp bảo tồn di sản văn hóa với phát triển du lịch bền vững (du lịch sinh thái miệt vườn, du lịch lễ hội Oóc Om Bóc, du lịch tâm linh tại hệ thống chùa Khmer và cơ sở tín ngưỡng người Hoa).
- Xây dựng và hoàn thiện các thiết chế văn hóa cơ sở; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ văn hóa là người dân tộc thiểu số; thực hiện chính sách đãi ngộ đối với nghệ nhân dân gian; tiếp tục củng cố chương trình dạy song ngữ tiếng Việt - tiếng Khmer trong các cơ sở giáo dục.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định ba đóng góp mới về mặt khoa học như sau:
- Thứ nhất: Luận án phân tích và đánh giá được thực trạng văn hóa dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng trong thời gian qua.
- Thứ hai: Xác định được bản sắc văn hóa cộng đồng dân tộc tỉnh Sóc Trăng trên cơ sở làm rõ đặc thù của văn hóa dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng; phát hiện được những vấn đề cấp bách của việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng.
- Thứ ba: Luận án đề xuất được một số quan điểm và giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng trong giai đoạn hiện nay.
Về mặt lý luận, công trình góp phần hệ thống hóa các khái niệm văn hóa, bản sắc văn hóa dân tộc và vận dụng nguyên lý triết học duy vật lịch sử vào địa bàn đa dân tộc cụ thể. Về mặt thực tiễn, luận án cung cấp cơ sở khoa học và nguồn tư liệu tham khảo cho các cơ quan Đảng, chính quyền tỉnh Sóc Trăng trong việc xây dựng chính sách quản lý văn hóa và hoạch định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, do giới hạn trong phạm vi nghiên cứu từ góc độ triết học chuyên ngành CNDVBC và CNDVLS, luận án chủ yếu tập trung vào việc khái quát hóa lý luận và đánh giá thực trạng trên bình diện tổng thể; nguồn dữ liệu thực tế dựa trên các báo cáo hành chính chuyên môn và tài liệu thứ cấp có sẵn mà không triển khai các cuộc điều tra xã hội học định lượng diện rộng. Đồng thời, phạm vi không gian chỉ khu biệt trong ranh giới hành chính tỉnh Sóc Trăng, chưa tiến hành so sánh đối chiếu sâu với các địa phương lân cận có cùng cơ cấu dân cư tương đồng ở Tây Nam Bộ như Trà Vinh, Kiên Giang hay An Giang.
Về hướng nghiên cứu tiếp, các công trình kế tiếp có thể:
- Thực hiện các khảo sát xã hội học định lượng để đo lường mức độ tiếp biến văn hóa và sự biến đổi trong thang bậc giá trị của thanh niên các dân tộc thiểu số tại Sóc Trăng.
- Nghiên cứu cơ chế chính sách cụ thể nhằm chuyển hóa các giá trị bản sắc văn hóa phi vật thể (như nghệ thuật Dù Kê, Rô Băm) thành các sản phẩm kinh tế - công nghiệp văn hóa trong điều kiện chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị đối với:
- Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Triết học, Văn hóa học, Dân tộc học và Quản lý văn hóa, đặc biệt trong việc nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa và phát triển ở vùng đồng bằng sông Cửu Long.
- Ban Tuyên giáo, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ban Dân tộc và các cơ quan tham mưu chính sách của tỉnh Sóc Trăng cũng như các tỉnh khu vực Tây Nam Bộ trong việc đánh giá thực trạng, xây dựng các đề án bảo tồn văn hóa và hoạch định kế hoạch phát triển du lịch lễ hội.
- Các trường chính trị cấp tỉnh, trường đại học địa phương sử dụng làm tài liệu giảng dạy về chuyên đề văn hóa dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước. Phần chương 2 (cơ sở lý luận về bản sắc văn hóa) và chương 3 (nhận diện bản sắc ba dân tộc Kinh - Hoa - Khmer) là những nội dung có giá trị tư liệu thực tế cao.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định bản sắc văn hóa dân tộc gồm những yếu tố cốt lõi nào cần giữ gìn?
Luận án chỉ rõ việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là giữ gìn những giá trị tinh túy nhất hình thành qua lịch sử: chủ nghĩa yêu nước, ý thức độc lập tự chủ; tinh thần đoàn kết; tinh thần lạc quan, nhân nghĩa; tinh thần cần cù, sáng tạo, chịu đựng gian khó; và tinh thần khoan dung, tiếp nhận có chọn lọc trong giao thoa văn hóa.
2. Điểm đặc thù về cộng đồng cư dân tại tỉnh Sóc Trăng được luận án chỉ ra là gì?
Sóc Trăng mang đặc trưng nổi bật là vùng đất cộng cư lâu đời của ba dân tộc Kinh, Hoa và Khmer (tỉnh đứng thứ 6 về diện tích và dân số ở Đồng bằng sông Cửu Long). Mỗi dân tộc mang một sắc thái văn hóa riêng (Phật giáo Nam tông và chùa chiền của người Khmer, đình miếu và kinh tế thương mại của người Hoa, làng xóm và đờn ca tài tử của người Kinh) cùng đan xen, hòa hợp tạo nên diện mạo văn hóa của địa phương.
3. Ngôi chùa có vị trí như thế nào trong đời sống văn hóa của người Khmer Sóc Trăng theo luận án?
Đối với đồng bào Khmer Sóc Trăng, ngôi chùa không chỉ là nơi sinh hoạt tôn giáo mà là trung tâm rèn luyện đạo đức, nhân cách, giáo dục đạo lý và dạy chữ Pali - Khmer cho thanh niên. Luận án trích dẫn quan niệm "sống là nơi gửi thân, chết là nơi gửi xác" để khẳng định ngôi chùa là nơi tập trung các giá trị tinh túy từ kiến trúc, nghệ thuật điêu khắc đến triết lý sống của tộc người Khmer.
4. Luận án phản ánh những nguy cơ nào đối với nghệ thuật truyền thống của người Khmer tại Sóc Trăng?
Luận án phản ánh sự suy giảm và nguy cơ mai một của các loại hình nghệ thuật sân khấu cổ truyền như kịch múa Rô Băm và sân khấu Dù Kê. Nguyên nhân do tác động của cơ chế thị trường, sự cạnh tranh của các phương tiện truyền thông hiện đại, thiếu kinh phí duy trì hoạt động và thiếu hụt thế hệ nghệ nhân trẻ kế cận.
5. Luận án đề xuất giải pháp nào để kết hợp giữa bảo tồn văn hóa và phát triển kinh tế tại địa phương?
Luận án đề xuất gắn kết việc giữ gìn bản sắc văn hóa với phát triển ngành du lịch bền vững. Cụ thể là khai thác các giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể như lễ hội Oóc Om Bóc, đua ghe Ngo, các quần thể chùa Khmer, cơ sở tín ngưỡng của người Hoa và các làng nghề truyền thống để hình thành các tuyến du lịch văn hóa, lễ hội và tâm linh, tạo việc làm và nguồn thu tái đầu tư cho bảo tồn.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Thị Tâm đã nghiên cứu một cách có hệ thống vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng từ giác độ chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Công trình đã làm rõ khung lý luận về bản sắc văn hóa dân tộc, phân tích đặc trưng văn hóa và thực trạng giao thoa biện chứng giữa ba cộng đồng Kinh, Hoa, Khmer trên địa bàn tỉnh từ thời kỳ đổi mới đến năm 2020. Trên cơ sở nhận diện những mâu thuẫn nảy sinh trước tác động của kinh tế thị trường, luận án đã xây dựng hệ thống quan điểm và giải pháp kinh tế - xã hội có cơ sở khoa học nhằm phục vụ mục tiêu phát triển bền vững địa phương. Công trình là nguồn tư liệu học thuật hữu ích cho công tác nghiên cứu lý luận chính trị và hoạch định chính sách văn hóa tại khu vực Tây Nam Bộ.