chương 1, tác giả phân tích cụ thể từng khái niệm như: khái niệm văn hóa, khái niệm nền tảng tinh thần của xã hội. Tác giả đã định nghĩa: “Văn hóa là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra nhằm mục đích phát triển bản thân con người và xã hội”[93, tr.22]; ở những nội dung sau, tác giả nêu lên sự cần thiết phải phát triển văn hóa với tư cách nền tảng tinh thần của xã hội, thực trạng phát triển văn hóa cũng như những phương hướng và giải pháp phát triển nền văn hóa với tư cách nền tảng tinh thần của xã hội Việt Nam hiện nay. Cuốn sách giúp người đọc tiếp cận một cách đầy đủ về phát triển văn hóa, với tư cách nền tảng tinh thần của xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường đã nảy sinh nhiều mâu thuẫn, để giải quyết những mâu thuẫn ấy, từng bước xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc cần phải có thời gian lâu dài và cần sự chung sức của toàn xã hội. Tác giả Trần Quang Phúc trong cuốn Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc (Nhà xuất bản Lao Động Xã Hội, năm 2013).
Đã nghiên cứu và đưa ra những kiến giải sâu sắc về các giá trị truyền thống, đặc thù của dân tộc Việt Nam. Theo Trần Quang Phúc, văn hóa khắc họa bản sắc và phương thức tồn tại của một cộng đồng, khiến cộng đồng ấy có một đặc thù riêng. Từ đó, có thể khẳng định, văn hóa mang bản sắc dân tộc. Và, yếu tố dân tộc là yếu tố quyết định nhất của một nền văn hóa.
Bản sắc văn hóa dân tộc là cái “hồn”, là sức sống nội sinh, là cái thẻ căn cước của mỗi dân tộc, để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác, từ đó 13 luan an nó có thể biểu lộ một cách trọn vẹn nhất sự hiện diện của dân tộc mình trong quá trình giao lưu và hội nhập. Cuốn sách được chia làm ba phần: Phần thứ nhất: Một số vấn đề lý luận về bản sắc văn hóa dân tộc. Được tác giả nêu lên những quan điểm về bản sắc văn hóa dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh và những suy nghĩ trong việc kế thừa, phát huy các bản sắc văn hóa dân tộc trong thời đại mới. Trong phần thứ hai: Giữ gìn bản sắc băn hóa dân tộc.
Tác giả nêu những quan điểm của Đảng ta về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; đề ra những biện pháp để giữ gìn văn hóa dân tộc trong giai đoạn hiện nay. Phần thứ ba: Những giá trị văn hóa cần phải giữ gìn. Tác giả đi vào giới thiệu cụ thể các phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo và các giá trị nghệ thuật trong nền văn hóa Việt Nam cần được phát huy, lưu giữ. Từ đó, đưa ra một số biện pháp nhằm giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc ta.
Tác giả Nguyễn Văn Huyên trong bài viết Lối sống người Việt Nam dưới tác động của toàn cầu hoá (Tạp chí Triết học, số 12 năm 2013) khẳng định: các quan hệ mật thiết của truyền thống xã hội nông nghiệp xưa kia không còn đậm nét, tình cảm không những ít được quan tâm mà ngày càng bị nghèo đi, những nghĩa cử cao đẹp sẵn sàng giúp đỡ người khác lúc sa cơ, lỡ vận ngày càng phai nhạt, đây là thực trạng đáng báo động trong xã hội ta ngày nay. Tác giả Vũ Ngọc Hoàng trong bài viết Tiếp tục xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong thời kỳ mới. (Tạp chí Cộng sản số 855 tháng 1-2014), cho rằng: nói tới văn hóa là nói tới con người với nhân cách của họ. Nhưng những năm gần đây đạo đức xã hội, nhân cách con người có nhiều mặt xuống cấp nghiêm trọng.
Từ nạn cướp của, giết người đến tham nhũng, chạy chức, chạy quyền…các hiện tượng nguy hại trên không chỉ diễn ra ở cấp cơ sở mà còn ở cán bộ lãnh đạo cấp trung và cao cấp. Nghiêm trọng hơn, nhân cách con người xuống cấp không chỉ ở một vài lĩnh vực mà còn diễn ra ở những nơi đáng lí ra phải luôn được trang nghiêm, trong sạch (như nơi nắm cán cân công lý, bảo vệ pháp luật, nơi dạy người, nơi biên soạn và tham mưu các chủ trương, chính sách cấp chiến lược…). Từ đó, tác giả chỉ ra những nguyên nhân khiến tình trạng đạo đức xã hội sút kém, đó là hệ giá trị đạo đức bị đảo lộn về vị trí, thang bậc, vì tiền con người ta đã vi phạm nhân cách. Tác giả cho rằng để giảm bớt tình trạng trên trước tiên, cần tiếp tục nhận 14 luan an thức sâu hơn tầm quan trọng đặc biệt của vấn đề văn hóa, đạo đức trong đời sống xã hội.
Từ đó, xác định đặc điểm của nền văn hóa mà chúng ta đang xây dựng là tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Trong truyền thống văn hóa Việt Nam, chữ “nhân” luôn đứng vị trí hàng đầu trong thang bậc của hệ giá trị nhân cách. Ngoài ra, cũng cần bổ sung, điều chỉnh, hoàn thiện hệ giá trị nhân cách con người Việt Nam mới trong thời đại Hồ Chí Minh. Theo tác giả, chúng ta cần kế thừa tối đa các giá trị truyền thống của văn hóa đạo đức Việt Nam, như “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín …” điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với thời kỳ mới.
Bài viết nêu lên việc tiếp tục xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong thời kỳ mới, nghiên cứu sinh có thể kế thừa để phân tích, làm rõ trong luận án của mình. Tác giả Phạm Duy Đức trong bài viết Thực trạng đời sống văn hóa Việt Nam qua gần 30 năm đổi mới. (Tạp chí Cộng sản số 862, tháng 8-2014), đã nêu khá rõ: dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam, qua gần 30 năm đổi mới lĩnh vực văn hóa đã thu được những thành tựu đáng ghi nhận, tuy nhiên nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc của chúng ta không chỉ có những thành tựu mà còn có những hạn chế nhất định. Tác giả nêu lên các lĩnh vực hoạt động văn hóa đã được phát triển một cách tương đối đồng bộ, toàn diện, vấn đề xây dựng con người như đạo đức, lối sống, phẩm chất, trí tuệ được chú trọng; môi trường văn hóa của đất nước được quan tâm xây dựng; vấn đề giữ gìn và phát huy các di sản văn hóa dân tộc đã đạt được nhiều kết quả to lớn.
Bên cạnh những thành tựu nêu trên, vẫn còn nhiều những hạn chế, yếu kém. Văn hóa phát triển chưa tương xứng với kinh tế; đời sống văn hóa tinh thần ở miền núi, vùng sâu, hải đảo hay của công nhân các khu công nghiệp còn gặp nhiều khó khăn. Từ đó, tác giả nêu lên những vấn đề cần phải giải quyết trong giai đoạn 2016-2020 và những năm tiếp theo như: kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin; xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam; xây dựng nền văn hóa dân chủ, kỷ cương, văn minh, sáng tạo. Tác giả Nguyễn Thị Thường trong bài viết Toàn cầu hóa từ góc nhìn văn hóa.
(Tạp chí Cộng sản số 872, tháng 6-2015), đã phân tích và đưa ra quan điểm: sự dịch chuyển biên giới về văn hóa đã tạo ra những cảm giác lo ngại, có thể trong tương lai sẽ có một nền văn hóa quốc tế xuyên bản sắc và nó cũng có thể thay thế bản sắc văn hóa dân tộc. Điều này gây nên sự bất an, lo lắng từ chủ thể các nền văn hóa. Từ thực tế trên, tác giả đặt ra câu hỏi, liệu sự du nhập của văn hóa thế giới có tạo ra một bản sắc văn hóa mới và đưa đến một nền văn hóa chung của thế giới hay không? hay lại xuất hiện những khó khăn, bất ổn và bản sắc dân 15 luan an tộc thì lại đánh mất? Từ đó, tác giả nhấn mạnh, toàn cầu hóa được coi như là mối đe dọa, bởi những truyền thống văn hóa cũ sẽ bị phá vỡ, những quy tắc, chuẩn mực cũ bị nghi ngờ mất khả năng định hướng các hệ giá trị, thậm chí bị đảo ngược. Toàn cầu hóa đặt ra những thách thức hết sức nghiêm trọng, trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
Từ những vấn đề nêu trên, tác giả khẳng định dù thái độ của con người ra sao, toàn cầu hóa vẫn diễn ra và chúng ta vẫn phải đón nhận để tồn tại như một quy luật tất yếu. Thông qua bài viết của tác giả về toàn cầu hóa từ góc nhìn văn hóa, giúp nghiên cứu sinh hiểu thêm về xu hướng phát triển chung của văn hóa nhân loại như một tất yếu, chúng ta một mặt đón nhận những luồng văn hóa mới, một mặt phải giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc mình. Ở một khía cạnh khác, tác giả Trần Ngọc Thêm trong tác phẩm Một số vấn đề về hệ giá trị Việt Nam, (Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh năm 2015), khẳng định tinh thần lạc quan và hài hước trong đời sống người Việt cho dù cuộc sống gặp nhiều khó khăn. Tác phẩm giúp nghiên cứu sinh hiểu rõ về hệ giá trị Việt Nam, là nguồn tài liệu vô cùng quý giá cho nghiên cứu sinh trong quá trình thực hiện luận án của mình.
Trong số các sách, tạp chí phải kể đến: tác giả Phan Xuân Sơn trong bài viết Vấn đề văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế. (Tạp chí Lý luận chính trị số 3-2016), đã chỉ ra: quá trình hội nhập là một quá trình hai chiều: tuân thủ và sáng tạo, bị động và chủ động, và cuối cùng là mỗi quốc gia đều góp phần sáng tạo ra, làm giàu thêm cho văn hóa hội nhập nói chung và làm giàu thêm văn hóa dân tộc nói riêng. Giao lưu và hội nhập văn hóa giữ vai trò hết sức quan trọng đối với văn hóa của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc: không có một nền văn hóa nào, dù lớn và có ảnh hưởng sâu rộng đến đâu, lại có thể phát triển trong khép kín, biệt lập, tách rời với các nền văn hóa khác. Nhưng hội nhập quốc tế trong tất cả các lĩnh vực kể cả văn hóa nói chung, văn hóa chính trị nói riêng luôn tồn tại hai mặt, tích cực và tiêu cực.
Mặt tích cực, sẽ giúp cho văn hóa mỗi dân tộc (theo nghĩa quốc gia - dân tộc) luôn phát triển, tiếp nhận được những giá trị mới, tiến bộ của văn hóa các dân tộc khác, làm giàu thêm cho văn hóa của dân tộc mình, quảng bá được văn hóa của mình cho các dân tộc khác.