MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Tây Nam bộ hay Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một tiểu vùng nằm ở khu vực bán đảo hạ lưu sông Mê-kông, là vùng đất mới được khai phá, có vị trí thuận lợi để giao lưu, tiếp xúc với các nền văn hóa khác như Ấn Độ, Trung Hoa, và cả Đông Nam Á. Mặt khác, vùng đất này còn là nơi cộng cư của nhiều cộng đồng cư dân từ các nơi khác đến sinh sống như người Kinh, Khmer, Hoa, Chăm, v. Các cộng đồng tộc người đến lập nghiệp ở vùng đất mới đã mang theo những phong tục tập quán, văn hóa, tín ngưỡng giúp bổ sung cho văn hóa địa phương, làm cho đời sống văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng của người Nam bộ nói chung và Tây Nam bộ nói riêng thêm đa dạng và phong phú.
Người Khmer ở Tây Nam Bộ là một tộc người trong cộng đồng 54 dân tộc của Việt Nam, có khoảng 1,3 triệu người, đứng thứ ba so với dân số cả nước và đứng thứ hai ở Nam Bộ. Họ cũng là cộng đồng dân tộc đã có mặt từ sớm nhất định cư lâu đời ở vùng đất Tây Nam Bộ, tập trung đông nhất tại các tỉnh, thành như: Trà Vinh, Sóc Trăng, Kiên Giang, An Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Cần Thơ, Hậu Giang,. ĐBSCL có vị thế của vùng đất địa - chính trị, địa - kinh tế, tất cả hòa quyện với địa - văn hóa, địa - tín ngưỡng, tôn giáo chuyển động theo vòng xoáy thời cuộc, đặc biệt là từ cuối thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX và đến trước ngày miền Nam giải phóng (30/4/1975). Tất cả những thay đổi đó đã tác động đến đời sống của đại bộ phận người Khmer.
Đến năm 1981, các hệ phái Phật giáo hình thành một tổ chức thống nhất gọi là Giáo hội Phật giáo Việt Nam, trong đó PGNTK là một thành viên. Khi Phật giáo được thống nhất, hoạt động của các hệ phái đều tuân thủ Hiến chương và qui định của Giáo hội. Phật giáo của người Khmer ở Tây Nam bộ đương nhiên phải thay đổi theo quá trình phát triển của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, đồng thời cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ của xu thế phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của đất nước. Đối với một cộng đồng, việc hoạt động của tôn giáo phụ thuộc nhiều vào yếu tố chính trị và kinh tế, đời sống văn hóa cũng như hoàn cảnh xã hội.
Một cộng đồng người phải có tổ chức, có quy tắc hoạt động, nên việc chuyển biến trong đời sống văn hóa là tất nhiên tuân theo quy luật phát triển chung của xã hội, nó mang tính hệ thống - đồng nhất. Rõ ràng rất khó có thể giữ gìn truyền thống nguyên bản của một tổ chức tôn giáo 1 trong bối cảnh xã hội mà không ngừng phát triển như ở nước ta hiện nay. Tôn giáo phải chuyển mình để thích nghi với môi trường xã hội phát triển và để tồn tại phù hợp với quy luật vận động của thế giới. Đó là những vấn đề chung mang tính kinh tế - xã hội của cả cộng đồng, chứ không riêng cá nhân nào, cộng đồng tu sĩ PGNTK cũng vậy.
Đối với người Khmer, ngôi chùa và sư sãi có vai trò quan trọng trong đời sống cộng đồng, một khi đời sống cộng đồng có thay đổi sẽ kéo theo những biến đổi đời sống tu sĩ thông qua các kênh tương tác – giao tiếp tôn giáo. PGNTK phát triển qua nhiều thế kỷ, tuy có sự hỗn dung về văn hóa, tín ngưỡng phương Đông lẫn phương Tây thế nhưng hầu hết người Khmer ở Tây Nam bộ đã gìn giữ được bản sắc văn hóa và tôn giáo truyền thống của mình trong bối cảnh đất nước không ngừng phát triển trên nhiều lĩnh vực, nhiều tôn giáo đan xen chi phối làm cho đời sống văn hóa đặc biệt là của các vị tu sĩ Nam tông Khmer luôn bị nhiều tác động ảnh hưởng. PGNT của người Khmer ở Tây Nam Bộ là một thực thể tồn tại trong cộng đồng dân cư, cộng đồng tu sĩ PGNTK hết sức đông đảo về số lượng và có đóng góp to lớn. Tuy nhiên, việc nghiên cứu nhóm đối tượng này hiện nay còn rất hạn chế.
Đặc biệt là khía cạnh biến đổi đời sống văn hóa của tu sĩ Nam tông Khmer trong bố cảnh xã hội đương đại. Đối với các tu sĩ PGNTK, hoạt động hằng ngày là học tập, đọc tụng các câu kinh thường nhật, hay đi khất thực, tưởng chừng như không có gì thay đổi, nhưng thực chất trong nội tại của giới tu sĩ đã có sự biến đổi, tuân theo quy luật phát triển chung của xã hội. Điều kiện cuộc sống xã hội luôn thay đổi, tất nhiên sẽ tác động đến hoàn cảnh điều kiện sống của các vị tu sĩ, đặc biệt là những biến đổi trong đời sống văn hóa của tu sĩ PGNTK tại vùng Tây Nam bộ. Do đó, việc biến đổi trong đời sống văn hóa của tu sĩ là điều tất yếu, là điều khó tránh khỏi, nhất là trong môi trường xã hội phát triển, điều kiện về văn hóa vật chất và tinh thần phong phú, đa dạng, và khoa học - kỹ thuật hiện đại ngày càng được nâng cao.
Như vậy, có thể thấy sự biến đổi trong đời sống văn hóa của các tu sĩ PGNTK chịu sự tác động chung của hoàn cảnh thực tế biến đổi xã hội. Tuy nhiên, bất cứ sự vật hiện tượng nào cũng luôn tồn tại hai mặt của nó, sự biến đổi đời sống văn hóa của tu sĩ PGNTK cũng không ngoại lệ, cũng luôn tồn tại hai mặt tích cực và tiêu cực như là sự biến đổi tất yếu của xã hội. Về thay đổi tích cực, do nhu cầu đổi mới của đất nước, nhiều lĩnh vực trong cuộc sống xã hội đã được thay đổi, nên Phật giáo, các hệ phái trong đó có hệ phái Nam tông Khmer, cũng chuyển biến theo đà 2 phát triển chung. Sự biến đổi văn hóa sẽ làm cho môi trường hoạt động phát triển năng động, tốt đẹp hơn, hoàn thiện hơn, tiếp cận được khoa học - kỹ thuật nhanh hơn và đặc biệt là có thể hội nhập được với đời sống tu sĩ của PGNT ở các quốc gia trên thế giới.
Trong khi đó mặt hạn chế là dễ dẫn đến mất phương hướng, pha tạp, hòa tan trong môi trường luôn biến đổi, nếu không giữ gìn thì rất dễ vi phạm giới luật nhà tu, hành trì sai giáo lý cơ bản của PGNT. Hiện nay, ở Việt Nam đã có một số công trình chuyên khảo nghiên cứu về văn hóa của người Khmer nói chung và PGNTK nói riêng, thế nhưng chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt về đời sống văn hóa, sinh hoạt của tu sĩ PGNTK. Chính vì lẽ đó, người viết chọn đề tài “Những biến đổi đời sống văn hóa của tu sĩ PGNTK ở Tây Nam bộ hiện nay” làm đề tài nghiên cứu luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học, với hy vọng có thể góp một phần nhỏ bé của mình vào thành tựu khoa học chung của xã hội. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ Người Khmer là dân tộc có quá trình sinh sống lâu đời tại vùng đất Tây Nam bộ; nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu về họ với nhiều lĩnh vực khác nhau.
Trong đề tài này chúng tôi tập trung trình bày các vấn đề liên quan đến sự biến đổi văn hóa trong đời sống của tu sĩ PGNTK. Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi có điều kiện tiếp cận và kế thừa các công trình của các tác giả đi trước, có thể tổng hợp thành các nội dung sau: 2.1 Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan về người Khmer Tây Nam bộ Hiện nay, có khá nhiều công trình nghiên cứu về người Khmer Nam bộ nói chung và Tây Nam bộ nói riêng, điển hình có thể điểm qua một số công trình như sau: Gắn với người Khmer, có lẽ lâu đời nhất phải kể cuốn Chân Lạp phong thổ ký, của Châu Đạt Quan thời nhà Nguyên ở Trung Quốc (Hà Văn Tấn dịch, Phan Huy Lê giới thiệu (2011), Châu Đạt Quan cho rằng người Chân Lạp (Khmer) đã có mặt ở vùng đồng bằng sông Cửu Long từ khá sớm và được xem là công trình đầu tiên có đề cập đến người Khmer Tây Nam bộ. Quyển Người Việt gốc Miên của Lê Hương (1969) là công trình khá nổi tiếng và công phu về người Khmer ở Việt Nam. Tác giả đi sâu phân tích về nguồn gốc vương quốc Phù Nam, Thủy Chân Lạp, miền Nam Việt Nam; đồng thời tìm hiểu về dân số, sinh hoạt xã hội, sinh hoạt tôn giáo, tổ chức đời sốngvăn hóa - giáo dục, kinh tế của người Khmer.
Mặt khác, công trình còn giới thiệu các lễ nghi, phong tục gắn với truyền 3 thuyết. Tuy nhiên, tác giả chưa bàn tới đời sống của tu sĩ PGNTK cũng như về cộng đồng tu sĩ PGNTK ở Tây Nam bộ. Sau năm 1975, vấn đề người Khmer ở Tây Nam Bộ được rất nhiều học giả quan tâm nghiên cứu. Kết quả là nhiều công trình được công bố trong các tạp chí chuyên ngành cũng như các sách chuyên khảo, điển hình là: công trình Văn hóa tâm linh Nam bộ của Nguyễn Đăng Duy (1977), đã chú trọng miêu tả các đặc điểm tâm linh của người Khmer Nam bộ, được biểu hiện thông qua tôn giáo - tín ngưỡng, phong tục - tập quán.
Đây là công trình hữu ích giúp người đọc tìm hiểu đời sống văn hóa trên lĩnh vực tinh thần. Chuyên khảo này bước đầu đề cập đến cộng đồng tu sĩ PGNTK như là một bộ phận khách thể cấu thành nên đời sống tôn giáo Khmer Nam tông, thế nhưng vẫn chưa đi sâu phân tích đặc điểm và biến đổi đời sống văn hóa của giới tu sĩ. Công trình Người Khơme tỉnh Cửu Long do Viện Văn hóa và Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Cửu Long (1987) phát hành cũng là một tác phẩm đáng chú ý do tỉnh Cửu Long (phân thành hai tỉnh Trà Vinh và Vĩnh Long hiện nay) là vùng có đông đồng bào Khmer tụ cư lâu đời. Công trình giới thiệu khái quát về người Khmer tỉnh Cửu Long trên các phương diện tín ngưỡng - tôn giáo, phong tục - lễ hội, văn học - nghệ thuật, truyền thống đoàn kết Việt - Khmer trong cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Ngoài ra cuốn Tìm hiểu vốn văn hóa dân tộc Khmer Nam bộ của Viện Văn hóa (1988) là tập hợp các bài nghiên cứu, tham luận tổ chức tại các tỉnh ĐBSCL về người Khmer thông qua phong tục, tập quán, nghệ thuật.