Chương 1: SỰ THAY ĐÔI ĐỊA DANH VÀ ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH TINH QUANG NGAI THOI KY 1945 — 1954 1. Nguyên nhân và ý nghĩa của việc thay đổi địa danh, địa giới hành chính. Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 dưới chế độ thực dân phong kiến tổ chức hành chính của tỉnh Quảng Ngãi gồm 4 cấp: Tỉnh —› huyện, phủ—> tổng —» xã, phường. Nhưng đến sau Cách mạng tháng Tám thành công cùng với việc xây dựng và kiện toàn bộ máy nhà nước, theo chỉ thị của Trung ương các đơn vị hành chính cấp phủ đổi thành huyện, xóa bỏ đơn vị hành chính cấp tổng và thành lập các đơn vị hành chính xã dưới sự chỉ đạo trực tiếp của cấp huyện.
Như vậy cơ cấu hành chính của tỉnh Quảng Ngãi thay đổi như sau: Tinh — huyện —» xã—> phường. Việc ta tiến hành xóa bỏ đơn vị hành chính cấp tông là nhằm xóa bỏ bớt các đơn vị hành chính cấp trung gian để tăng cường sự quản lý sát sao của chính quyền cách mạng đối với cấp cơ sở.Trong hoàn cảnh ta mới giành được độc lập để đảm bảo quản lí được chính quyền còn non trẻ, cơ cấu hành chính phải được đơn giản, tỉnh gọn không qua cong kénh. Chính vì thế trong giai đọn này Trung ương ra chỉ thị hợp nhất một số làng, xã nhỏ lại thành những xã lớn hơn. Ở Quảng Ngãi vào cuối những năm 1947 - 1948 các huyện tiến hành hợp xã lần thứ hai.
Việc hợp xã trong thời kỳ này đã đáp ứng kịp thời yêu cầu chỉ đạo của cuộc kháng chiến kiến quốc. Để huy động tối đa sức người sức của cho cuộc kháng chiến, ta tập hợp những xã nhỏ lại thành những xã lớn. Ngoài mục đích huy động tối đa sức người sức của, còn để giảm bớt đơn vị hành chính cắp cơ sở để tiện lợi cho việc chỉ đạo trong thời chiến. Thực hiện tốt chỉ đạo của cấp trên nhiều địa phương ở Quảng Ngãi đã nêu cao tỉnh thần tự lực tự cường và tinh thần trách nhiệm của mình chủ động trong việc xây dựng căn cứ địa kháng chiến.
Đặc biệt ở những vùng bị địch tạm chiếm nhân dân đã kiê quyết bám trụ, chiến đấu xây dựng căn cứ địa ngay trong lòng địch. 10 Điều đó thể hiện một tỉnh thần chiến đấu rất kiên cường của nhân dân Quảng Ngãi. Đến những năm 1950 - 1951 do nhu cầu cách mạng phát triển ngày càng. cao va dé chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công một số huyện tiến hành hợp xã lần thứ ba.
'Về phía địch: Ở Quảng Ngãi lúc này địch chỉ chiếm được một số huyện đồng bằng ven biển như: Đức Phổ, Mộ Đức, Tư Nghĩa, Sơn Tịnh, Bình Sơn nhưng chúng đã vấp phải sự chống cự quyết liệt của nhân dân ta. Nên lúc này chúng cũng không có sự điều chỉnh nhiều về cơ cấu hành chính mà về cơ bản chúng vẫn dùng địa danh cũ phủ, tông như trước năm 1945. Nhưng có điều trước là phủ ở đây là tương đương cấp huyện, tông là xã. Như vậy trong vùng.
tạm chiếm này chúng chỉ có những điều chỉnh nhỏ như sáp nhập các làng của phủ này vào phủ khác thuộc quyền quản lí của chúng để thuận lợi cho việc hành chính trị an của chúng mà thôi. Ngoài ra việc sáp nhập của chúng cũng nhằm dồn dân vào vùng kiểm soát của chúng để dễ bề cai trị, tiến tới tiêu diệt phong tráo cách mạng của ta. Nhung cuộc kháng chiến của nhân dân ta ngày càng phát triển, làm cho chính quyền tay sai không thể ngăn chặn làn sóng đấu tranh cách mạng của ta. Nên chúng không có thời gian yên ôn để thay đổi địa giới hành chính.
Như vậy trải qua 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, bên cạnh những biến động về tình hình chính trị thì địa giới hành chính cũng có nhiều thay đổi. Đặc biệt về phía chính quyền cách mạng, sau khi giành được chính quyền ta tiến hành tô chức lại bộ máy hành chính cho phù hợp với tình hình mới và cũng đẻ khẳng định được chủ quyền của ta trên mỗi tắc đất, mỗi tên làng, tên xã. Vay trong giai đoạn từ năm 1945 - 1954 đã trải qua nhiều sự thay đổi, điều chỉnh về địa giới hành chính ở Quảng Ngãi giữa 2 chính quyền. Giữa hai chính quyền đó có sự khác biệt rất cơ bản.
Đó là phía chính quyền cách mạng. xóa bỏ hẳn cấp tổng là để đầu mối cơ cấu hành chính tạo nên sự tỉnh gọn, nhanh kịp thời nhất trong công tác quản lí của cấp trên. Hơn nữa để tăng I cường sự chỉ đạo sát sao của cấp huyện đối với cấp cơ sở, hay là để huy động tối đa nhân tài vật lực cho cuộc chiến. Còn về phía chính quyển tay sai Pháp mặc dù ở tỉnh Quảng Ngãi chúng chỉ chiếm được một số huyện nhưng chúng cũng có những điều chỉnh về địa danh, địa giới.
Tuy nhiên sự điều chỉnh đó cũng không làm xáo trộn hay ảnh hưởng gì đến cơ cấu hành chính của tỉnh. Và việc chúng duy trì cấp phủ, tổng nhằm mục đích chia nhỏ các đơn vị hành chính của ta nhằm dễ bề cai trị, dễ đối phó với phong trào cách mạng của nhân dân ta 1.Khái quát địa danh, địa giới hành chính trước tháng 9 - 1945. Địa lí tự nhiên. Quảng Ngãi là một tỉnh thuộc khu vực ven biển miền Trung, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía Tây giáp các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, phía Nam giáp tỉnh Bình Định, phía Đông giáp Biển Đông, Tinh lyQuang Ngai từ năm 1907 đến năm 1945 đóng ở xã Chánh Mông (sau đổi là Chánh Lộ), tổng Nghĩa Hạ, huyện Chương Nghĩa.Sau Cách mạng tháng Tám 1945 đếncho đến cuối năm 2004, Chánh Lộ phố được quyết định thành lập đơn vị thị xã Quảng Ngãi trực thuộc tỉnh và đến ngày 26.2005 có Nghị định của Chính phủ thành lập thành phố Quảng Ngãi trực thuộc tỉnh.
Tỉnh Quảng Ngãi cách thủ đô Hà Nội 883 km về phía Nam và cách Thành phó Hồ Chí Minh 838 km về phía Bắc theo đường Quốc lộ 1A.Như vậy tỉnh Quảng Ngãinằm ở trung độ của Việt Nam. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, quảng Ngãi là địa bàn chiến lược quan trong, là của ngỡ của các tỉnh duyên hải miền Trung và Tây Nguyên, có ba vùng chiến lược miền núi, trung du và đồng bắng thuận lợi cho việc triển khai thế trận chiến tranh nhân dân. Tuy nhiên, do. địa thế hẹp, lưng tựa núi), mặt áp biển nên cũng dễ bị chia cắt về chiến lược.
Diện tích tự nhiên toàn tỉnh 5.153,0km°, bằng 1,7% diện tích tự nhiên cả nước, trong đó đất nông nghiệp 322.034,59 ha chiếm (62,5% diện tích đất tự nhiên), đất phi nông nghiệp 45.636,2 ha chiếm (8,86% diện tích đất tự nhiên) và đất chưa sử dụng 147. 12 Địa hình tương đối phức tạp, thấp dần từ Tây sang Đông với các dạng địa hình đổi núi, đồng bằng ven biển, phía Tây của tỉnh là sườn Đông của dãy “Trường Sơn, tiếp đến là địa hình núi thấp và đồi xen kẽ đồng bằng, có nơi núi chạy sát biển. Khí hậu giữa các vùng trong tỉnh có những biểu hiện khác nhau do sự phức tạp của địa hình và chịu ảnh hưởng của dãy Trường Sơn nhưng nhìn chung khí hậu ở Quảng Ngãi mang đặc điểm của khí hậu nhiệt đới và gió mùa. Nhiệt độ trung bình 25-26,9°C.
Thời tiết chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Khí hậu có nhiều gió Đông Nam ít gió Đông Bắc vì địa hình địa thế phía Nam và do thế núi địa phương tạo ra. Lượng mưa của tỉnh là 2.198 mnvnăm nhưng chỉ tập trung nhiều nhất vào các tháng 9, 10, 11, 12 còn các tháng khác thì khô hạn. Quảng Ngãi có nhiều núi cao như núi Cà Đam tục gọi "Hòn Ông, Hòn Bà" cao độ 1.600m ngăn cách Sơn Hà và Trà Bồi phía tây bắc có núi Đá 'Vách (Thạch Bích) cao độ 1.500m ngăn cách Sơn Hà và Minh Long, núi U Bò cao độ 1.
Núi cao trung bình 700m như núi Cao Môn ở ngoài Trường Luỹ phía tây Huyện Đức Phổ. Các núi này có một số liệt vào hạng danh sơn được vinh làm thắng cảnh như: Thiên Án, Thiên Bút, Thạch Bích, Vân Phong .và một đặc điểm nữa là các núi ở đây còn tạo lợi thế lớn về quân sự, từng là vùng hậu cứ của tỉnh trong kháng chiến chống Mỹ. Trên bình diện địa hình, vùng Quảng Ngãi có 04 con sông lớn là Trà Bồng, Trà Khúc, sông Vệ và sông Trà Câu đều bắt nguồn từ phía Tây và đồ ra biển Đông theo hai cửa sông lớn là Sa Cần (Bình Sơn) và cửa Đại Cô Lũy (Tư Nghĩa). Mạng lưới sông ngòi ở Quảng Ngãi có chiều dài khoảng 300km Các.
con sông này có đặc trưng chung là đều có hướng chảy vĩ tuyến hoặc á vĩ tuyến, phân bố khá đều trên vùng đồng bằng Quảng Ngãi. Doc theo bờ biển Quảng Ngãi có nhiều vũng, vịnhcó thể xay dựng cầu cảng trong đó cảng Dung Quất là cảng nước sâu lớn ở khu vực miền Trung và các cảng nhỏ hơn như Sa kỳ, Cửa Lở, Mỹ Á, Sa Huỳnh. Tài nguyénbién & 13 Quảng Ngãi phong phú; trữ lượng hải sản năm 2015 ước đạt 165.800 tấn; sản lượng đánh bắt hàng năm từ 155.000 tắn (2015) Mạng lưới giao thông đường bộ ở Quảng Ngãi phát triển tương đối hoàn chỉnh, nói liền các vùng ven biển, trung du, miễn núi và các trung tâm đô. thị, thuận lợi trong việc chuyển quân, cơ động xe pháo, tập kết vật chất, hậu cần đảm bảo cho nhu cầu tác chiến.
Rừng tự nhiên của Quảng Ngãi tuy diện tích không nhiều nhưng kho tải nguyên phong phú về lâm thổ sản với nhiều loại gỗ quý như: lim, giỗi, sao cát, vênh vênh, chò, trắc, huỳnh đàng, kiền kiền, gö. Ngoài gỗ, rừng Quảng Ngãi còn có nhiều loại cây thuốc như sa nhân, hà thủ ô, thiên niên kiện, ngũ gia bì, sâm; các loại cây có sợi, cây có dầu, trầm hương, cây lấy nhựa và các loại cây lấy nắm. Cây quế là đặc sản nỗi tiếng với diện tích rộng, sản lượng lớn. Ở núi Lớn (Mộ Đức) còn có cây dầu rái cho một loại dầu khá tốt dé trám thuyền và pha chế các loại sơn, mực in.
Ngoài ra còn là nơi sinh sống của nhiều loại thú quý, hàng trăm loài chim quý và là nơi chứa đựng nguồn tài nguyên khoáng sản [46, tr139]. Ving rừng núi Quảng Ngãi là một địa bàn chiến lược quan trọng về quân sự, là căn cứ địa cách mạng gắn liền với lịch sử chống áp bức giai cấp và chống ngoại xâm của nhân dân Quảng Ngãi. Đồng bằng Quảng Ngãi nhỏ hẹp nhưng khá đa dạng về hình thái. Diện tích khoảng 150.678ha, trong đó chỉ có 13.