ĐẶT VẤN ĐỀ “Thế giới đang đứng trước hiểm hoạ to lớn do rừng nhiệt đổi, lá phổi xanh của hành tinh ngày càng bị tin phá nặng nề, trong đồ có vùng Đông Nam A như tổ chức ESCAP đã nhiều lấn báo động. Đứng trước một thử thách lớn vẻ suy thoái tài nguyên môi trường như vậy, nhiều nước trên thế giớ đã có những chiến lược Quốc và đang có sự phối hợp rộng rãi trong phạm vi toàn cầu về bảo vệ tồi nguyên và môi trường. Điển hình nhất trong thời gian gin đây là hội nghị quốc tế về môi trường tại Rio de Janeiro năm 1992 với sự có mặt của nhiễu nguyên thủ Quốc gia và đại diện của 178 nước (ham gia. Tiếng nói chung của hội nghị là đồi hỏi phải kết hợp hài hoà giữa môi trường và phát triển kinh tế xã hội tiến tới một sẵn xuất và tiêu thụ bén vững rong phạm vi quốc gia và quốc tế.
“Tổng đất đại toàn cầu có 13.392 triệu ha chỉ có 4.091 triệu ha là còn rừng che phủ (30,6%). Vùng nhiệt đói châu Á. Thái Bình Dương (không kể châu Úc), vốn có nhiều rùng che phủ mat đất nay chỉ còn 412 triệu ha trên tổng lãnh thổ 931 triệu ha toàn vùng (44,2%). Việt Nam năm 1945 tiền đất liễn còn trên 80% rùng che phủ, Tây Bắc còn trên 90%, Tây Nguyên còn trên 95% thì đến năm 1995 theo số liệu thống kê của viện điều tra quy hoạch rig độ che phủ mat đất quanh năm bằng cây ng, cây trồng có tin che chỉ cồn đưới 28% trong cả nước, ang Tây Bắc chỉ còn 10%, vi Tay Nguyên là vòng có nhiều rừng nhất trong ci nước cũng chỉ còn trên dưới 40% mặt đất có thue Bi che phủ quanh năm.
Mắt tùng kềm theo đất bị thoái hoá, bạc màu, oxy hoá, xói mon tre sôi đá Mất rùng cũng kéo theo mất di hàng loạt các chức năng phục vụ sinh thai của rừng như điều hoà và bảo vệ nguồn nude, làm sạch không khí, điều hoà khí hậu, giảm.Nhiều nơi mùa khô ngày càng khốc liệt, gió khô nóng hoành hành, bão lạt cuốn di nhiều đất màu mỡ, nguồn nước cạn kiệt nên đất dai ngày càng chai cứng, cần cối, Trong khi đó về mùa mưa x6i mòn, sat lở lũ lụt cuốn rồi mùa màng và tài sản, b6i lắng các lòng sông, lồng hổ, v. Mất rùng cũng làm thay đổi cấu tr vật như: Động vật rừng không còn chỗ sinh sống nhiều loài đã bị tuyệt chủng, những khu rừng tự nhiên dần bị thay thế bởi rừng thứ sinh nghèo kiệt hoặc đất ri đối núi trọ. Tình hình xói min đất hiện nay ở nước ta là vấn để nghiêm trọng, tết: không làm giảm tác động của xói mòn thi sẽ dẫn đến thảm hoa không lường tước được. Vi những lý do trên khi xét đến hiệu quả của rừng miang lại cho đời sống con người thì không chỉ quan tam đến hiệu quả kinh tế mà còn phải đặc biệt chứ ý đến hiệu quả môi trường mà rùng đã mang lại.
Mỗi một hoạt động sin xuất kinh doanh ign ra đều đem lại nhũng ảnh hưởng và tấc động nhất định đến cả 3 mật kỉnh tế - môi trường và xã hội nhân văn. Những tác động này diễn ra đồng thời nhưng nhìn chung không đồng nhất với nhao. Nó có thể ảnh h tốt đến mat này nhưng lại để thu được giá trị kỉnh tế cao hơn thì phải tiến hành xấu ở mặt khác, chẳng hạn như khai thác rùng với cường độ mạnh, rừng bị khai thác với cường độ mạnh dẫn đến mất rừng và như vậy kéo theo những hậu quả xấu VỀ mật môi trường. Kinh tế - môi trường - xã hội 66 mối quan hệ khang khít và ảnh hưởng lẫn nhau, tác động của chúng đối Với môi trường sống cia con người như tổng 3 góc của một tam giác luôn luôn cổ định, nếu ta quá coi trong mặt này thi sẽ dẫn tới sự xem nhẹ mat kia.
Hiện nay nạn di dân tự do, cũng như quá trình du canh du cư của đồng, "bào các dan tộc miền núi đang là vấn để xã hội có ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường đặc biệt là ải nguyên rừng. Do đó để phát triển kinh tế xã hội đặc biệt là kinh tế nông thôn miễn núi chúng ta phẩi luôn luôn coi trọng vấn dé môi trường và phát triển bên vững, có nha vậy thì quả của mô hình kinh tế xã hội mới thực sự phát huy tác cig và giúp cho sự phát triển kỉnh tế của đồng bào các dân tộc miễn núi Đánh giá hiệu quả mô hình kinh tế- môi trường là một vấn để hết sức phức tap, đặc biệt là hiệu quả về mặt mỗi trường. Mặt khác mô hình tế môi trường ở ‘day là mô hình phát triển nghề rừng và nông lâm kết hợp trên địa bài diện tích rộng, chu kỳ sin xuất dai, nên việc đánh giá lại càng phức tạp hơn. Như vay hiệu quả kinh tế và môi trường do rừng đem lại có mối quan hệ mật thiết với nhau và chúng phụ thuộc lẫn nhau.
Trước đây các quan điểm về đánh giá hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh thường tách rời tác động của chúng trên các mat, có nhiều trường hợp chỉ nhấn mạnh hiệu quả kinh tế mà bỏ qua những tác động về mặt sinh thái, môi trường và xã hội. Ngược lai cũng không ít trường hợp chỉ quan tim đến tác động về mặt sinh thái, môi trường mà không tính đến hiệu quả kinh tế. Tất cả những quan điểm trên đều dẫn đến những kết luận phiến diệ tế và nhiễu khi đem đến những hậu quả xấu lâu dai cho xã hội “Từ thực tế đó đồi hỏi chúng ta phải có những quan điểm phù hợp, phải có những công cụ đánh giá có hiệu quả các hoạt động Sản xuất kính doanh một cách tổng hợp đặc biệt là sản xuất kinh doanh Lam nghiệp. Phương pháp hệ số đường ảnh hưởng hoàn toàn có thể đáp ứng được yêu cầu phẩn nào vấn để đó.
Vì vậy để tài nghiên cứu được chọn là: “Thử nghiệm ứng dụng phương pháp hệ số đường ảnh hưởng (Path coefficient methods) để phản tích các mỗi quan hệ nhân quả đổi với lĩnh vực kinh 16 và môi trường trong sẵn xuất Lâm nghiập tại một số tỉnh trung du và miền m phía Bác" Day là một phương pháp nghiên cứu mới ở nước ta trong lĩnh vực kinh tế - môi trường nên nó chỉ mang tính thử nghiệm đối vối một số tỉnh trung đu và miền hia Bắc để từ đó làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo về phương phấp trong Tĩnh vực kinh tế~ môi trường cũng như nhiều lĩnh vực khác trong Lâm nghiệp và các ngành kinh tế khác. Chương 2 TONG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN COU 2.1, LƯỢC SỬ NGHIÊN COU VỀ XÓI MON VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUA KINH TẾ ~ MÔI TRƯỜNG: 2. Lược sử nghiên cứu về xói mòn và khả năng giữ nước: “Trong để tài này nhân tố môi trường được để cập đến ở đây là nhân tố xói mòn và khả năng giữ nước của dất nhưng chủ yếu là Xi mòn. “Xối mon là quá trình vận chuyển bào mòn và bổi ty lớp đất mat dưới tác động, của nước, gió, trong lye.
Có nhiều cách phân loại xói mòn, về mức độ bào mòn mà “xét thi có thể phân ra xói mòn bình thường và x6i mồn gia tốc. Đứng rên hình thức ‘bao mòn mà xét thì quá trình bào mon gia tốc hiện đ ‘on chia thành x6i mồn mat, xói khe, lũ đá và trượt đất (giáo tình trồng rừng phòng hộ - trường Đại học Lâm nghiệp). C6 nhiều nguyên nhân gây nên xối mòn như: Các nhân tố khí tượng thủy văn (chil yếu là mưa và gi), nhân tố địa mạo (chủ yếu là độ đóc, chiều dài sườn đốc), nhân tổ về đất (độ xốp,vv.), nhân tố thẳm thực vật (nhân tố cản lại quá trình xói mòn). Từ những nhân tố gây nên quá tình xói mòn kể trên người ta để ra được những biện pháp phòng chống xói mồn đó 1A.
biện pháp phi sinh vật (đấp đập, phai, thủy lợi nhỏ để điều tiết đồng chẩy.) và biện pháp sinh vật (trồng cây tăng độ che phủ mặt đấu. X6i mi lÄ oội Vu U6 nóng bỏng dang được mọi quốc gia trên thế giới quan tâm và nghiệt cứ, ở Viêt nam nó được các nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau xem xét và nghiên cứu, tuy nhiên nó chỉ đừng lại ở nghiên cứu định tính là chi yếu, nghiên cứu định lượng mới được nghiên cứu ở qui mô nhỏ, chưa đấy đủ và hệ thống Tuy vậy xói mon có một bể dày lịch sử nghiên cứu trên thế giới và cả ở Việt Nam, 2. Trên Thế giới: C6 thể chia lịch sử nghiền cứu v8 x6i mòn thành 3 giả đoạn (heo kết quả để tài của Nguyễn Thị Thuần [18)) * Giai đoạn I(truée năm 1945): “Trong giai đoạn này đã xuất hiện Ï số công tình nổi tiếng ờ Mỹ, Liên Xô và các nước châu Âu: Mille, Bennett, Laws, Anden (Hunds: „1981 |22)),Zakharop. “Trong thời kỳ này tổn tại quan điểm chung cho ring xói mòn chủ yếu do đồng chiy trần bể mặt gây nên, vì vậy các tác giả tập trung hướng vào nghỉ hiệu quả của các công trình chống xói mòn ngoài thực địa như: Kết cấu các bờ dat "bậc thang, các băng cây xanh chấn đất, cách bố trí cây trồng trong không gian, trên mặt đái.
Những nghiên cứu được tiến hành nhờ phân ích thông tin thu được từ ign trường như: BE day lớp đất mặt bị mất đi, lượng đất, bùn, cát, bị cuốn trồi vào bể chứa. Nhìn chung giai đoạn này nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp đơn giản, chưa kết hợp được nghiên cứu ngoài hiện tường với nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, mức độ định lượng thấp. * Giai đoạn 2 (1944 - 1980): Giai đoạn này được mỡ đâu bằng công trình nghiên cứu của Ellison, năm 1944 lần đâu tiên Ong đã phát hiện Vài trò cực kỳ quan trong của hạt mưa rơi trong hoạt động xới mòn. Phát hiện a Ellison đã làm thay đổi quan điểm nghiên cứu về xói mòn và kh năng bảo vệ đất của các thảm thực vat, mở ra một ời kỳ "nghiên cứu định lượng về x6 mồi: Đặc điểm: nghiên cứu trong thời kỳ này là kết hợp nghiên cứu thực nghiệm hiện tường với nghiêu cứu dưới các điền kiện nhân tạo trong phòng thí nghiệm để tữ đồ tim ra sông (hức toán học để mô tả quá tình xối mn, Có nhiều công trình nổi tiếng trong giai đoạn y nhự Elson (Hudson ,1981 [22)) “Trong giai đoạn này kết quả nghiên cứu q nhất của nghiên cứu xói mòn là phương trình mất đất phổ dụng được xây dựng vào những năm 1950 (W.