Nghiên cứu mức sẵn lòng chi trả của người dân Bắc Ninh để cải thiện chất lượng nước ô nhiễm

Chuyên khảo phân tích Luận án nghiên cứu mức sẵn lòng chi trả của người dân nhằm cải thiện chất lượng nước bị ô nhiễm ở, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên

Trường đại học

Trường Đại học

Chuyên ngành

Môi trường

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án

2015

173
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SẴN LÒNG CHI TRẢ ĐỂ CẢI THIỆN CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC BỊ Ô NHIỄM Ở CÁC LÀNG NGHỀ

1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SẴN LÒNG CHI TRẢ ĐỂ CẢI THIỆN CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC BỊ Ô NHIỄM

1.1.1. Các khái niệm cơ bản liên quan đến nghiên cứu

1.1.2. Khái niệm về ô nhiễm môi trường nước

1.1.3. Khái niệm làng nghề và ô nhiễm môi trường nước ở các làng nghề

1.1.3.1. Khái niệm làng nghề
1.1.3.2. Đặc trưng ô nhiễm nguồn nước ở các làng nghề
1.1.3.2.1. Đặc trưng nước thải ở các làng nghề
1.1.3.2.2. Đặc trưng ô nhiễm nước mặt sông, hồ ở các làng nghề

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của đề tài

Đề tài nghiên cứu về chất lượng nước ô nhiễm ở Bắc Ninh mang tính cấp thiết cao. Tỉnh Bắc Ninh hiện có 62 làng nghề, trong đó nhiều làng nghề truyền thống đang phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, sự phát triển này đi kèm với ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Theo báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh, chất lượng nước tại các làng nghề như Từ Sơn, Phong Khê, Khắc Niệm đang bị ô nhiễm nặng nề, với nhiều mẫu nước vượt quy chuẩn cho phép hàng chục lần. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân mà còn tác động tiêu cực đến môi trường sống. Tỉ lệ người mắc bệnh ở khu vực làng nghề cao hơn từ 1,5 đến 3 lần so với khu vực nông thôn thuần túy. Chi phí sức khỏe của người dân sống trong các làng nghề ước tính lên tới 19 tỷ đồng mỗi năm, gấp ba lần so với khu vực không có làng nghề. Những con số này cho thấy sự cần thiết phải cải thiện chất lượng nước và bảo vệ môi trường tại Bắc Ninh.

II. Tình trạng ô nhiễm môi trường nước

Tình trạng nước ô nhiễm ở Bắc Ninh đang ở mức báo động. Các mẫu nước tại các làng nghề cho thấy nồng độ bụi, khí độc và các chất ô nhiễm khác vượt quá mức cho phép. Tại làng nghề sản xuất giấy Dương Ổ, nồng độ CO cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ 1,3 đến 3 lần. Tương tự, tại làng nghề tái chế sắt thép Đa Hội, ô nhiễm không khí xung quanh khu vực hộ gia đình sản xuất cao hơn tiêu chuẩn 12 lần. Những số liệu này cho thấy mức độ ô nhiễm không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng nước mà còn đến sức khỏe cộng đồng. Việc xả thải trực tiếp từ các cơ sở sản xuất vào môi trường tự nhiên đã dẫn đến tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng, đòi hỏi các giải pháp khắc phục kịp thời và hiệu quả.

III. Giải pháp cải thiện chất lượng nước

Để cải thiện chất lượng nước ô nhiễm ở Bắc Ninh, cần có các giải pháp đồng bộ và hiệu quả. Các quy định về bảo vệ môi trường đã được ban hành, nhưng việc thực thi còn nhiều hạn chế. Cần tăng cường công tác quản lý và giám sát các cơ sở sản xuất, đồng thời khuyến khích người dân tham gia vào các chương trình bảo vệ môi trường. Việc xây dựng các nhà máy xử lý nước thải tập trung là cần thiết, nhưng cũng cần có nguồn vốn duy trì hoạt động. Chính quyền địa phương cần có các chính sách khuyến khích người dân đóng góp tài chính cho các dự án cải thiện môi trường. Các giải pháp này không chỉ giúp cải thiện chất lượng nước mà còn nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường.

IV. Đánh giá mức sẵn lòng chi trả của người dân

Nghiên cứu về mức sẵn lòng chi trả của người dân Bắc Ninh cho việc cải thiện chất lượng nước là rất quan trọng. Các khảo sát cho thấy người dân có ý thức về ô nhiễm môi trường và sẵn sàng đóng góp tài chính để cải thiện tình hình. Mức sẵn lòng chi trả trung bình của người dân có thể được ước tính thông qua các mô hình phân tích. Việc hiểu rõ mức sẵn lòng chi trả không chỉ giúp xác định nguồn tài chính cho các dự án cải thiện môi trường mà còn tạo điều kiện cho việc xây dựng các chính sách phù hợp. Điều này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả trong việc cải thiện chất lượng nước và bảo vệ môi trường tại Bắc Ninh.

V. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu về sẵn lòng chi trả để cải thiện chất lượng nước ô nhiễm ở Bắc Ninh không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn có giá trị thực tiễn cao. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng về tình trạng ô nhiễm môi trường nước tại các làng nghề, từ đó giúp các nhà hoạch định chính sách đưa ra các giải pháp hiệu quả. Nghiên cứu cũng mở ra hướng đi mới cho các nghiên cứu tiếp theo về ô nhiễm môi trường và sẵn lòng chi trả của người dân. Việc nâng cao nhận thức của người dân về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường sẽ góp phần tạo ra sự đồng thuận trong cộng đồng, từ đó thúc đẩy các hoạt động bảo vệ môi trường hiệu quả hơn.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Hiện nay, trong toàn quốc có khoảng 5.096 làng nghề và làng có nghề, trong đó số làng nghề truyền thống được công nhận theo tiêu chí làng nghề hiện nay của Chính phủ là 1. Các cơ sở sản xuất trong các làng nghề đã thu hút lực lượng lao động lớn ở nông thôn, tạo ra một lượng hàng hóa đáng kể đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, cũng như xuất khẩu và góp phần quan trọng nâng cao thu nhập cho người dân ở khu vực nông thôn của Việt Nam. Tuy nhiên, sự phát triển của các làng nghề kéo theo những hệ lụy về môi trường nghiêm trọng. Hầu hết các thông số môi trường như: tiếng ồn, ánh sáng, nhiệt độ, áp suất… tại các cơ sở sản xuất của các làng nghề đều vượt ngưỡng cho phép.

Tại các làng nghề có tới 95% lao động tiếp xúc với bụi, 85,9% tiếp xúc với nhiệt và 59,6% tiếp xúc với các hóa chất (INEST, 2002). Báo cáo 17/BC-UBND của Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Bắc Ninh, ngày 09 tháng 04 năm 2015, cho thấy tính đến cuối tháng 4 năm 2015, toàn tỉnh Bắc Ninh có 62 làng nghề; trong đó có 31 làng nghề truyền thống và được phân theo các nhóm như sau: nhóm chế biến bảo quản nông sản, nhóm sản xuất đồ gỗ, nhóm sản xuất mây tre đan, nhóm sản xuất thép, nhóm đúc đồng nhôm, nhóm sản xuất đồ gốm, nhóm thêu dệt, nhóm sản xuất giấy, nhóm xây dựng và ngành nghề khác (UBND Bắc Ninh, 2015a). Mặc dù làng nghề đem lại thu nhập tương đối cao cho người dân trong và xung quanh khu vực, nhưng hiện tượng ô nhiễm môi trường ở các làng nghề đang rất nghiêm trọng. Kết quả phân tích chất lượng nước, không khí của Trung tâm quan trắc môi trường cho thấy mức ô nhiễm đangvượt quy chuẩn cho phép nhiều lần.

Tại các làng nghề sản xuất sắt thép, giấy: nồng độ bụi, khí độc cao hơn mức cho phép đối với khu dân cư; nhiệt độ ở các xưởng cao hơn nhiệt độ trung bình hàng ngày từ 8-100C. Chất lượng nước ở các làng nghề Từ Sơn, Phong Khê, Khắc Niệm, Phú Lâm bị ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng. Các mẫu nước mặt, nước thải, nước ngầm đều có dấu hiệu bị ô nhiễm với mức độ cao, có những mẫu vượt quy chuẩn cho phép hàng chục lần(Hoàng An, 2014). Tại làng nghề sản xuất giấy Dương Ổ (Phong Khê – Bắc Ninh): nồng độ CO cao hơn 5mg/l so với Tiêu chuẩn cho phép (TCCP) (28 – 36 mg/l), bụi ở khu vực dân cư sống trong làng nghề có nồng độ cao hơn Tiêu chuẩn 1 cho phép (TCCP) từ 1,3 đến 3 lần, CO tại khu vực sản xuất cao gấp 2 lần TCCP, tiếng ồn cao hơn TCCP từ 3 – 10 dbA.

Tại làng nghề tái chế sắt thép Đa Hội: ô nhiễm không khí xung quanh khu vực hộ gia đình sản xuất cao lớn hơn TCCP 12 lần, tiếng ồn lớn hơn 28 lần TCCP, bụi hơn 6 lần, nhiệt độ lớn hơn nhiệt độ không khí từ 4 - 50C. Làng nghề tái chế nhựa Minh Khai: nồng độ bụi lớn hơn TCCP 3 - 6 lần, nồng độ HCl cao hơn TCCP 1,6 lần (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2009). Ô nhiễm môi trường đất, môi trường nước, môi trường không khí đã, đang là rất nghiêm trọng tại các làng nghề của tỉnh Bắc Ninh và gây ảnh hưởng lớn tới sức khỏe của người dân. Tỉ lệ số người mắc 8 loại bệnh thông thường của người dân sống ở khu vực làng nghề cao hơn từ 1,5 tới 3 lần so với người dân sống ở khu vực thuần nông.

Ước tính chi phí sức khỏe của người dân sống trong khu vực làng nghề là 303 triệu đồng/làng nghề/năm so với chỉ 93 triệu đồng/làng thuần nông/năm. Nếu Bắc Ninh có 62 làng nghề như vậy hàng năm riêng người dân sống trong các làng nghề này phải bỏ ra khoảng 19 tỷ đồng để khám và chữa bệnh so với 6 tỷ (gấp 3 lần) của những người dân sống ở khu vực không có làng nghề (Lê Thị Phương Dung và Lê Thị Thanh Thúy, 2015). Những giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước tại các làng nghề từ trước tới nay thường tập trung chủ yếu vào các giải pháp về kỹ thuật. Có một số quy định, luật của Nhà nước về quản lý môi trường có sử dụng các công cụ kinh tế nhằm điều tiết các cơ sở sản xuất giảm thiểu lượng nước thải.

Quyết định số 404/QĐ-UBND tỉnh Bắc Ninh về việc triển khai thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp được ban hành năm 2013; gần đây UBND tỉnh Bắc Ninh ra Quyết định số 47/2016/QĐ-UBND Về quan điểm và nguyên tắc đầu tư xử lý ô nhiễm môi trường nông thôn và ô nhiễm môi trường làng nghề trên địa bàn tỉnh, giai đoạn 2016 – 2020 quy định cụ thể đối với các doanh nghiệp đầu tư mới,đối với làng nghề đã tồn tại từ lâu đời, đối với nước thải phát sinh tại các cơ sở, đối với công trình xử lý nước thải tập trung. Tuy nhiên cho đến nay, quy định này vẫn chưa phát huy được tại các làng nghề để giảm thiểu ô nhiễm. Mặc dù quy chế bảo vệ môi trường (BVMT) làng nghề, khu dân cư, cụm công nghiệp tỉnh Bắc Ninhđã quy định rõ: “các hộ gia đình, các cơ sở sản xuất, các cơ sở kinh doanh, các tổ chức dịch vụ trong làng nghề có trách nhiệm xử lý chất thải, đảm bảo tiêu chuẩn thải và đóng góp kinh phí xây dựng kết cấu hạ tầng bảo vệ môi trường” (Sở Tài nguyên và Môi trường Bắc Ninh, 2016). Tuy nhiên, hầu hết các 2 hộ sản xuất nghề vẫn xả trực tiếp nước thải sản xuất ra môi trường tự nhiên khiến ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng.

Các dự án xây dựng nhà máy xử lý nước thải tập trung tại các làng nghề còn ít được chú trọng và rất ít được triển khai hoặc triển khai không hiệu quả. Bên cạnh nhà máy xử lý nước thải Phong Khê do Nhà nước đầu tư bắt đầu đi vào hoạt động, có nhiều công trình xử lý nước thải tại làng nghề Khắc Niệm, Đại Bái bị bỏ hoang vì không có vốn để duy trì hoạt động thường xuyên. Việc trông chờ vào nguồn vốn từ Ngân sách nhà nước, hoặc từ các tổ chức nước ngoài để xây dựng và duy trì hoạt động của các nhà máy xử lý nước thải đã tồn tại nhiều năm nay và hiện tượngtrì hoãn đó dẫn tới chất lượng môi trường nước nước, không khí, tiếng ồn ngày càng trở nên nghiêm trọng. Các dự án khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường làng nghề tại làng nghề tái chế nhôm Mẫn Xá, làng nghề đúc đồng Đại Bái, làng nghề bún Khắc Niệm vẫn đang bỏ ngỏ và chờ vốn để thực hiện.

Mặc dù chính quyền các cấp cùng với các cơ quan chức năng liên quan đã có nhiều chính sách, hướng dẫn, các biện pháp nhằm cải thiện chất lượng môi trường nói chung và chất lượng môi trường nước của khu vực làng nghề của Bắc Ninh; nhưng đến nay các chính sách và biện pháp được thực thi chưa hiệu quả, thực tế thể hiện chất lượng môi trường nước vẫn ô nhiễm nghiêm trọng, mức ô nhiễm cao gấp nhiều lần tiêu chuẩn cho phép (Trung tâm Quan trắc Môi trường Bắc Ninh, 2016). Bên cạnh đó, hầu hết các nhà máy xử lý chất thải sau quá trình sản xuất, đặc biệt là chất thải nước ở Bắc Ninh lại đang hoạt động cầm chừng, hoặc không thể hoạt động do kỹ thuật lạc hậu, do thiếu kinh phí duy trì hoạt động hiệu quả. Xuất phát từ những vấn đề cấp thiết được nêu trên những câu hỏi cần được nghiên cứu và trả lời như sau: thứ nhất, những vấn đề lý luận, thực tiễn về thay đổi phúc lợi, sẵn lòng trả của người dân nhằm cải thiện môi trường là gì? Thứ hai, nhận thức của người dân về ô nhiễm môi trường và quan điểm của người dân như thế nào về vấn đề cải thiện chất lượng môi trường nước của khu vực? Thứ ba, mức sẵn lòng trả của người dân của khu vực nghiên cứu là như thế nào? Trong đó, mức trung bình, tổng lượng tiền thực tế và tiềm năng có thể thu được là bao nhiêu có người dân có thể đóng góp nhằm cải thiện chất lượng nước? Thứ tư, các yếu tố gì ảnh hưởng đến sẵn lòng chi trả của người dân nhằm cải thiện môi trường nước của người dân Bắc Ninh? Thứ năm, các giải pháp và biện pháp cụ thể nào nhằm nâng cao ý thức người dân, thu hút người dân đóng góp 3 cùng ngân sách địa phương, ngân sách nhà nước nhằm cải thiện môi trường nước? Nghiên cứu được tiến hành thực hiện để trả lời thoả đáng những câu hỏi đặt ra trên đây, sau đây là các mục tiêu nghiên cứu của luận án. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.

Mục tiêu chung Trên cơ sở đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng trả của người dân tỉnh Bắc Ninh nhằm cải thiện môi trường nước tại các làng nghề; từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao nhận thức và huy động người dân đóng góp tài chính nhằm cải thiện môi trường nước của các làng nghề tỉnh Bắc Ninh thời gian tới. Mục tiêu cụ thể - Góp phần làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn vềsẵn lòng chi trả của người dân nhằm cải thiện chất lượng môi trường nước bị ô nhiễm ở các làng nghề; - Đánh giá thực trạng nhận thức và quan điểm của người dân về tính nguy hại và vai trò của việc cải thiện chất lượng môi trường nước ở các làng nghề tỉnh Bắc Ninh; - Ước tính và phân tích mức sẵn lòng chi trả của người dân tại các làng nghề tỉnh Bắc Ninh nhằm cải thiện chất lượng môi trường nước; - Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới mức sẵn lòng chi trả của người dân nhằm cải thiện chất lượng môi trường nước ở các làng nghề của tỉnh Bắc Ninh; - Đề xuất các giải pháp nâng cao nhận thức của người dân và thu hút người dân đóng góp tài chính nhằm cải thiện môi trường nước của các làng nghề ở Bắc Ninh. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý luận và thực tiễn về sự thay đổi phúc lợi khi môi trường thay đổi, sẵn lòng chi trả và thực trạng mức sẵn lòng chi trả của người dân trong khu vực các làng nghề tỉnh Bắc Ninh để cải thiện chất lượng môi trường nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án "Nghiên cứu mức sẵn lòng chi trả của người dân Bắc Ninh để cải thiện chất lượng nước ô nhiễm" của tác giả Lê Thị Phương Dung và Lê Thị Thanh Thúy, được thực hiện tại Trường Đại học vào năm 2015, tập trung vào việc đánh giá khả năng chi trả của người dân Bắc Ninh nhằm nâng cao chất lượng nước trong bối cảnh ô nhiễm hiện nay. Nghiên cứu không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về nhận thức và thái độ của cộng đồng đối với vấn đề ô nhiễm nước mà còn đưa ra những khuyến nghị thiết thực cho các chính sách cải thiện môi trường sống. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về cách thức mà người dân có thể tham gia vào việc bảo vệ nguồn nước, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến đô thị hóa và quản lý tài nguyên nước, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: Luận án tiến sĩ về đô thị hóa và sử dụng đất đô thị tại tỉnh Bắc Ninh, nơi nghiên cứu tác động của đô thị hóa đến quản lý tài nguyên đất và nước. Bên cạnh đó, Đánh giá tác động của biến động nguồn nước đến phát triển kinh tế xã hội tỉnh Thái Bình cũng sẽ cung cấp cái nhìn về mối liên hệ giữa nguồn nước và phát triển kinh tế. Cuối cùng, Nâng cao công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các biện pháp quản lý môi trường tại địa phương. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề môi trường và phát triển bền vững tại Bắc Ninh và các khu vực lân cận.