TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Hiện nay, trong toàn quốc có khoảng 5.096 làng nghề và làng có nghề, trong đó số làng nghề truyền thống được công nhận theo tiêu chí làng nghề hiện nay của Chính phủ là 1. Các cơ sở sản xuất trong các làng nghề đã thu hút lực lượng lao động lớn ở nông thôn, tạo ra một lượng hàng hóa đáng kể đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, cũng như xuất khẩu và góp phần quan trọng nâng cao thu nhập cho người dân ở khu vực nông thôn của Việt Nam. Tuy nhiên, sự phát triển của các làng nghề kéo theo những hệ lụy về môi trường nghiêm trọng. Hầu hết các thông số môi trường như: tiếng ồn, ánh sáng, nhiệt độ, áp suất… tại các cơ sở sản xuất của các làng nghề đều vượt ngưỡng cho phép.
Tại các làng nghề có tới 95% lao động tiếp xúc với bụi, 85,9% tiếp xúc với nhiệt và 59,6% tiếp xúc với các hóa chất (INEST, 2002). Báo cáo 17/BC-UBND của Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Bắc Ninh, ngày 09 tháng 04 năm 2015, cho thấy tính đến cuối tháng 4 năm 2015, toàn tỉnh Bắc Ninh có 62 làng nghề; trong đó có 31 làng nghề truyền thống và được phân theo các nhóm như sau: nhóm chế biến bảo quản nông sản, nhóm sản xuất đồ gỗ, nhóm sản xuất mây tre đan, nhóm sản xuất thép, nhóm đúc đồng nhôm, nhóm sản xuất đồ gốm, nhóm thêu dệt, nhóm sản xuất giấy, nhóm xây dựng và ngành nghề khác (UBND Bắc Ninh, 2015a). Mặc dù làng nghề đem lại thu nhập tương đối cao cho người dân trong và xung quanh khu vực, nhưng hiện tượng ô nhiễm môi trường ở các làng nghề đang rất nghiêm trọng. Kết quả phân tích chất lượng nước, không khí của Trung tâm quan trắc môi trường cho thấy mức ô nhiễm đangvượt quy chuẩn cho phép nhiều lần.
Tại các làng nghề sản xuất sắt thép, giấy: nồng độ bụi, khí độc cao hơn mức cho phép đối với khu dân cư; nhiệt độ ở các xưởng cao hơn nhiệt độ trung bình hàng ngày từ 8-100C. Chất lượng nước ở các làng nghề Từ Sơn, Phong Khê, Khắc Niệm, Phú Lâm bị ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng. Các mẫu nước mặt, nước thải, nước ngầm đều có dấu hiệu bị ô nhiễm với mức độ cao, có những mẫu vượt quy chuẩn cho phép hàng chục lần(Hoàng An, 2014). Tại làng nghề sản xuất giấy Dương Ổ (Phong Khê – Bắc Ninh): nồng độ CO cao hơn 5mg/l so với Tiêu chuẩn cho phép (TCCP) (28 – 36 mg/l), bụi ở khu vực dân cư sống trong làng nghề có nồng độ cao hơn Tiêu chuẩn 1 cho phép (TCCP) từ 1,3 đến 3 lần, CO tại khu vực sản xuất cao gấp 2 lần TCCP, tiếng ồn cao hơn TCCP từ 3 – 10 dbA.
Tại làng nghề tái chế sắt thép Đa Hội: ô nhiễm không khí xung quanh khu vực hộ gia đình sản xuất cao lớn hơn TCCP 12 lần, tiếng ồn lớn hơn 28 lần TCCP, bụi hơn 6 lần, nhiệt độ lớn hơn nhiệt độ không khí từ 4 - 50C. Làng nghề tái chế nhựa Minh Khai: nồng độ bụi lớn hơn TCCP 3 - 6 lần, nồng độ HCl cao hơn TCCP 1,6 lần (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2009). Ô nhiễm môi trường đất, môi trường nước, môi trường không khí đã, đang là rất nghiêm trọng tại các làng nghề của tỉnh Bắc Ninh và gây ảnh hưởng lớn tới sức khỏe của người dân. Tỉ lệ số người mắc 8 loại bệnh thông thường của người dân sống ở khu vực làng nghề cao hơn từ 1,5 tới 3 lần so với người dân sống ở khu vực thuần nông.
Ước tính chi phí sức khỏe của người dân sống trong khu vực làng nghề là 303 triệu đồng/làng nghề/năm so với chỉ 93 triệu đồng/làng thuần nông/năm. Nếu Bắc Ninh có 62 làng nghề như vậy hàng năm riêng người dân sống trong các làng nghề này phải bỏ ra khoảng 19 tỷ đồng để khám và chữa bệnh so với 6 tỷ (gấp 3 lần) của những người dân sống ở khu vực không có làng nghề (Lê Thị Phương Dung và Lê Thị Thanh Thúy, 2015). Những giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước tại các làng nghề từ trước tới nay thường tập trung chủ yếu vào các giải pháp về kỹ thuật. Có một số quy định, luật của Nhà nước về quản lý môi trường có sử dụng các công cụ kinh tế nhằm điều tiết các cơ sở sản xuất giảm thiểu lượng nước thải.
Quyết định số 404/QĐ-UBND tỉnh Bắc Ninh về việc triển khai thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp được ban hành năm 2013; gần đây UBND tỉnh Bắc Ninh ra Quyết định số 47/2016/QĐ-UBND Về quan điểm và nguyên tắc đầu tư xử lý ô nhiễm môi trường nông thôn và ô nhiễm môi trường làng nghề trên địa bàn tỉnh, giai đoạn 2016 – 2020 quy định cụ thể đối với các doanh nghiệp đầu tư mới,đối với làng nghề đã tồn tại từ lâu đời, đối với nước thải phát sinh tại các cơ sở, đối với công trình xử lý nước thải tập trung. Tuy nhiên cho đến nay, quy định này vẫn chưa phát huy được tại các làng nghề để giảm thiểu ô nhiễm. Mặc dù quy chế bảo vệ môi trường (BVMT) làng nghề, khu dân cư, cụm công nghiệp tỉnh Bắc Ninhđã quy định rõ: “các hộ gia đình, các cơ sở sản xuất, các cơ sở kinh doanh, các tổ chức dịch vụ trong làng nghề có trách nhiệm xử lý chất thải, đảm bảo tiêu chuẩn thải và đóng góp kinh phí xây dựng kết cấu hạ tầng bảo vệ môi trường” (Sở Tài nguyên và Môi trường Bắc Ninh, 2016). Tuy nhiên, hầu hết các 2 hộ sản xuất nghề vẫn xả trực tiếp nước thải sản xuất ra môi trường tự nhiên khiến ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng.
Các dự án xây dựng nhà máy xử lý nước thải tập trung tại các làng nghề còn ít được chú trọng và rất ít được triển khai hoặc triển khai không hiệu quả. Bên cạnh nhà máy xử lý nước thải Phong Khê do Nhà nước đầu tư bắt đầu đi vào hoạt động, có nhiều công trình xử lý nước thải tại làng nghề Khắc Niệm, Đại Bái bị bỏ hoang vì không có vốn để duy trì hoạt động thường xuyên. Việc trông chờ vào nguồn vốn từ Ngân sách nhà nước, hoặc từ các tổ chức nước ngoài để xây dựng và duy trì hoạt động của các nhà máy xử lý nước thải đã tồn tại nhiều năm nay và hiện tượngtrì hoãn đó dẫn tới chất lượng môi trường nước nước, không khí, tiếng ồn ngày càng trở nên nghiêm trọng. Các dự án khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường làng nghề tại làng nghề tái chế nhôm Mẫn Xá, làng nghề đúc đồng Đại Bái, làng nghề bún Khắc Niệm vẫn đang bỏ ngỏ và chờ vốn để thực hiện.
Mặc dù chính quyền các cấp cùng với các cơ quan chức năng liên quan đã có nhiều chính sách, hướng dẫn, các biện pháp nhằm cải thiện chất lượng môi trường nói chung và chất lượng môi trường nước của khu vực làng nghề của Bắc Ninh; nhưng đến nay các chính sách và biện pháp được thực thi chưa hiệu quả, thực tế thể hiện chất lượng môi trường nước vẫn ô nhiễm nghiêm trọng, mức ô nhiễm cao gấp nhiều lần tiêu chuẩn cho phép (Trung tâm Quan trắc Môi trường Bắc Ninh, 2016). Bên cạnh đó, hầu hết các nhà máy xử lý chất thải sau quá trình sản xuất, đặc biệt là chất thải nước ở Bắc Ninh lại đang hoạt động cầm chừng, hoặc không thể hoạt động do kỹ thuật lạc hậu, do thiếu kinh phí duy trì hoạt động hiệu quả. Xuất phát từ những vấn đề cấp thiết được nêu trên những câu hỏi cần được nghiên cứu và trả lời như sau: thứ nhất, những vấn đề lý luận, thực tiễn về thay đổi phúc lợi, sẵn lòng trả của người dân nhằm cải thiện môi trường là gì? Thứ hai, nhận thức của người dân về ô nhiễm môi trường và quan điểm của người dân như thế nào về vấn đề cải thiện chất lượng môi trường nước của khu vực? Thứ ba, mức sẵn lòng trả của người dân của khu vực nghiên cứu là như thế nào? Trong đó, mức trung bình, tổng lượng tiền thực tế và tiềm năng có thể thu được là bao nhiêu có người dân có thể đóng góp nhằm cải thiện chất lượng nước? Thứ tư, các yếu tố gì ảnh hưởng đến sẵn lòng chi trả của người dân nhằm cải thiện môi trường nước của người dân Bắc Ninh? Thứ năm, các giải pháp và biện pháp cụ thể nào nhằm nâng cao ý thức người dân, thu hút người dân đóng góp 3 cùng ngân sách địa phương, ngân sách nhà nước nhằm cải thiện môi trường nước? Nghiên cứu được tiến hành thực hiện để trả lời thoả đáng những câu hỏi đặt ra trên đây, sau đây là các mục tiêu nghiên cứu của luận án. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mục tiêu chung Trên cơ sở đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng trả của người dân tỉnh Bắc Ninh nhằm cải thiện môi trường nước tại các làng nghề; từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao nhận thức và huy động người dân đóng góp tài chính nhằm cải thiện môi trường nước của các làng nghề tỉnh Bắc Ninh thời gian tới. Mục tiêu cụ thể - Góp phần làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn vềsẵn lòng chi trả của người dân nhằm cải thiện chất lượng môi trường nước bị ô nhiễm ở các làng nghề; - Đánh giá thực trạng nhận thức và quan điểm của người dân về tính nguy hại và vai trò của việc cải thiện chất lượng môi trường nước ở các làng nghề tỉnh Bắc Ninh; - Ước tính và phân tích mức sẵn lòng chi trả của người dân tại các làng nghề tỉnh Bắc Ninh nhằm cải thiện chất lượng môi trường nước; - Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới mức sẵn lòng chi trả của người dân nhằm cải thiện chất lượng môi trường nước ở các làng nghề của tỉnh Bắc Ninh; - Đề xuất các giải pháp nâng cao nhận thức của người dân và thu hút người dân đóng góp tài chính nhằm cải thiện môi trường nước của các làng nghề ở Bắc Ninh. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý luận và thực tiễn về sự thay đổi phúc lợi khi môi trường thay đổi, sẵn lòng chi trả và thực trạng mức sẵn lòng chi trả của người dân trong khu vực các làng nghề tỉnh Bắc Ninh để cải thiện chất lượng môi trường nước.