Tổng quan luận án
Đề tài luận án: "Nghiên cứu mức sẵn lòng chi trả của người dân nhằm cải thiện chất lượng môi trường nước bị ô nhiễm ở các làng nghề tỉnh Bắc Ninh".
Chuyên ngành: Kinh tế tài nguyên thiên nhiên và môi trường / Quản lý kinh tế.
Hướng tiếp cận: Nghiên cứu định lượng kết hợp định tính (hỗn hợp), sử dụng lý thuyết kinh tế phúc lợi, phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (Contingent Valuation Method - CVM) với hai kỹ thuật phỏng vấn chọn ngẫu nhiên đơn và chọn ngẫu nhiên lặp, cùng các mô hình kinh tế lượng (mô hình tham số, phi tham số, hồi quy Binary Logistic, hồi quy đa biến).
1. Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Theo số liệu thống kê toàn quốc, Việt Nam có khoảng 5.096 làng nghề và làng có nghề, trong đó miền Bắc chiếm gần 60% (tập trung chủ yếu tại vùng đồng bằng sông Hồng), miền Trung chiếm 23,6% và miền Nam chiếm 16,6%. Sự phát triển làng nghề tạo việc làm và thu nhập cho khu vực nông thôn nhưng gây áp lực ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Khảo sát của Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (INEST, 2002) chỉ ra 95% lao động làng nghề tiếp xúc với bụi, 85,9% tiếp xúc với nhiệt và 59,6% tiếp xúc với hóa chất.
Tại tỉnh Bắc Ninh – địa phương có diện tích tự nhiên nhỏ nhất cả nước (82.269 ha) nhưng mật độ làng nghề thuộc nhóm cao nhất toàn quốc (62 làng nghề, trong đó có 31 làng nghề truyền thống) – tình trạng ô nhiễm môi trường nước diễn ra gay gắt:
- Nước mặt, nước ngầm và nước thải tại các cụm làng nghề Từ Sơn, Phong Khê, Khắc Niệm, Phú Lâm vượt quy chuẩn cho phép nhiều lần (Hoàng An, 2014; Trung tâm Quan trắc Môi trường Bắc Ninh, 2016).
- Làng nghề sản xuất giấy Dương Ổ (Phong Khê): Nồng độ CO cao hơn tiêu chuẩn cho phép (TCCP) 5 mg/l (dao động 28–36 mg/l), bụi khu dân cư vượt TCCP 1,3–3 lần, CO khu vực sản xuất gấp 2 lần TCCP, tiếng ồn vượt 3–10 dbA.
- Làng nghề tái chế sắt thép Đa Hội: Ô nhiễm không khí gấp 12 lần TCCP, tiếng ồn gấp 28 lần TCCP, bụi gấp 6 lần, nhiệt độ cao hơn môi trường xung quanh 4–5°C.
- Làng nghề tái chế nhựa Minh Khai: Nồng độ bụi gấp 3–6 lần TCCP, nồng độ HCl gấp 1,6 lần TCCP (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2009).
- Về sức khỏe: Tỷ lệ người dân mắc 8 nhóm bệnh thông thường tại làng nghề cao gấp 1,5–3 lần so với vùng thuần nông; chi phí khám chữa bệnh ước tính 303 triệu đồng/làng nghề/năm (so với 93 triệu đồng/làng thuần nông/năm). Tính chung 62 làng nghề toàn tỉnh, tổng chi phí y tế của người dân ước tính khoảng 19 tỷ đồng/năm so với 6 tỷ đồng ở vùng không có làng nghề (Lê Thị Phương Dung và Lê Thị Thanh Thúy, 2015).
Về mặt quản lý và tài chính, các giải pháp kỹ thuật và chính sách kinh tế (như Quyết định số 404/QĐ-UBND năm 2013 về thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp; Quyết định số 47/2016/QĐ-UBND về đầu tư xử lý ô nhiễm môi trường nông thôn và làng nghề giai đoạn 2016–2020 quy định Nhà nước hỗ trợ 80% vốn đầu tư công trình xử lý nước thải tập trung, 20% còn lại và kinh phí vận hành do cơ sở sản xuất đóng góp) chưa phát huy hiệu quả cao. Các công trình xử lý nước thải tại Khắc Niệm (vốn đầu tư 7 tỷ đồng năm 2009), Đại Bái (hơn 52 tỷ đồng), Phong Khê (156 tỷ đồng) gặp khó khăn về nguồn vốn duy trì vận hành thường xuyên, dẫn đến tình trạng hoạt động cầm chừng hoặc bỏ hoang.
Khoảng trống nghiên cứu được xác định: Thiếu các công trình nghiên cứu toàn diện ở quy mô cấp tỉnh về việc lượng hóa sự thay đổi phúc lợi và mức sẵn lòng chi trả (WTP) của người dân khu vực làng nghề đối với việc cải thiện chất lượng nước; chưa kết hợp đồng thời và so sánh hai kỹ thuật chọn ngẫu nhiên đơn và chọn ngẫu nhiên lặp trong phương pháp CVM; thiếu phương pháp suy rộng để ước tính nguồn vốn đóng góp thực tế và nguồn vốn tiềm năng từ cộng đồng nhằm phục vụ đầu tư, vận hành các công trình xử lý nước thải.
2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu:
- Mục tiêu chung: Đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả của người dân tỉnh Bắc Ninh nhằm cải thiện môi trường nước tại các làng nghề; từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao nhận thức và huy động người dân đóng góp tài chính nhằm cải thiện môi trường nước của các làng nghề tỉnh Bắc Ninh thời gian tới.
- Mục tiêu cụ thể:
- Góp phần làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn về sẵn lòng chi trả của người dân nhằm cải thiện chất lượng môi trường nước bị ô nhiễm ở các làng nghề;
- Đánh giá thực trạng nhận thức và quan điểm của người dân về tính nguy hại và vai trò của việc cải thiện chất lượng môi trường nước ở các làng nghề tỉnh Bắc Ninh;
- Ước tính và phân tích mức sẵn lòng chi trả của người dân tại các làng nghề tỉnh Bắc Ninh nhằm cải thiện chất lượng môi trường nước;
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới mức sẵn lòng chi trả của người dân nhằm cải thiện chất lượng môi trường nước ở các làng nghề của tỉnh Bắc Ninh;
- Đề xuất các giải pháp nâng cao nhận thức của người dân và thu hút người dân đóng góp tài chính nhằm cải thiện môi trường nước của các làng nghề ở Bắc Ninh.
Câu hỏi nghiên cứu:
- Những vấn đề lý luận, thực tiễn về thay đổi phúc lợi, sẵn lòng trả của người dân nhằm cải thiện môi trường là gì?
- Nhận thức của người dân về ô nhiễm môi trường và quan điểm của người dân như thế nào về vấn đề cải thiện chất lượng môi trường nước của khu vực?
- Mức sẵn lòng trả của người dân của khu vực nghiên cứu là như thế nào (mức trung bình, tổng lượng tiền thực tế và tiềm năng có thể thu được)?
- Các yếu tố gì ảnh hưởng đến sẵn lòng chi trả của người dân nhằm cải thiện môi trường nước của người dân Bắc Ninh?
- Các giải pháp và biện pháp cụ thể nào nhằm nâng cao ý thức người dân, thu hút người dân đóng góp cùng ngân sách địa phương, ngân sách nhà nước nhằm cải thiện môi trường nước?
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận và thực tiễn về sự thay đổi phúc lợi khi môi trường thay đổi, sẵn lòng chi trả và thực trạng mức sẵn lòng chi trả của người dân trong khu vực các làng nghề tỉnh Bắc Ninh để cải thiện chất lượng môi trường nước.
- Đối tượng điều tra: (1) Các hộ dân (đại diện là chủ hộ) có đặc điểm kinh tế - xã hội khác nhau; (2) Các cơ quan thực thi chính sách về bảo vệ môi trường; (3) Các cơ quan hoạch định chính sách; (4) Cơ chế, chính sách (luật, nghị định, thông tư).
- Phạm vi nội dung: Cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến thay đổi phúc lợi, WTP, nhận thức, quan điểm, mức chi trả và các biến số tác động đến WTP cải thiện nước làng nghề.
- Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Bắc Ninh, tập trung chủ yếu vào khu vực các làng nghề gây ô nhiễm môi trường nước.
- Phạm vi thời gian: Thực hiện đề tài từ năm 2015 đến năm 2018; số liệu thứ cấp thu thập giai đoạn 2012–2018; số liệu sơ cấp điều tra hộ dân trong năm 2017.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
1. Tổng quan các hướng nghiên cứu trước đây
Luận án tổng thuật các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo các nhóm nội dung:
Nghiên cứu quốc tế:
- Cơ sở phương pháp và độ tin cậy của CVM: Kahneman và Knetsch (1992a, 1992b), Diamond và Hausman (1994), Bishop và Heberlein (1979), Brookshire và cộng sự (1982), Mitchell và Carson (1986), Gramlich (1977), Greenley và cộng sự (1982), Jordan và Elnagheeb (1993). Các tác giả khẳng định CVM là công cụ được pháp luật Hoa Kỳ công nhận để đánh giá dự án môi trường và lượng hóa WTP cho cải thiện chất lượng nước.
- Xác định mức WTP và xử lý sai số: Whittington và cộng sự (1990, 1991) nghiên cứu tại Onitsha (Nigeria) về WTP đối với dịch vụ cấp nước, phân tích tác động của điểm gợi ý ban đầu ($58), chỉ ra WTP đồng biến với thu nhập, học vấn và nghịch biến với khoảng cách tới nguồn nước. Kwak và cộng sự (2013) khảo sát 400 hộ tại Pusan (Hàn Quốc), tìm ra Mean WTP là 2.124 KRW (2,2 USD)/tháng, tổng mức chi trả của toàn thành phố đạt 31,2 tỷ won (32,1 triệu USD)/năm. Brox và cộng sự (2003) nghiên cứu lưu vực sông Grand (Ontario, Canada); Atkins và cộng sự (2007) kết hợp CVM và cây quyết định; Barton (2002), Gupta và Mythili (2009) củng cố hiệu lực của CVM.
- Mức độ chắc chắn và bất định trong câu trả lời CVM: Li và Mattsson (1995), Ready và cộng sự (1995), Welsh và Bishop (1993), Welsh và Poe (1998), Wang (1997a, 1997b) nghiên cứu tính bất định và các thang đo mức độ tự tin của người trả lời trong việc định giá hàng hóa phi thị trường. Carson (1993) chỉ ra WTP thay đổi tùy theo các kịch bản cải thiện chất lượng nước (từ hiện trạng sang mức có thể bơi thuyền, thả cá, hoặc bơi lội).
- Các yếu tố ảnh hưởng đến WTP: Carlsson và Stenman (2000), Wang và Mullahy (2006), Wang và Zhang (2009) khẳng định vai trò quyết định của thu nhập; Jalan và cộng sự (2003), Zografakis và cộng sự (2010), Yoo và Kwak (2009), Nasreen và cộng sự (2014), Jin và cộng sự (2016) phân tích ảnh hưởng của giá thầu (BID), tuổi tác, giới tính, số năm đi học và khả năng tiếp cận truyền thông.
Nghiên cứu tại Việt Nam:
- Bùi Đức Kính (2009): Sử dụng CVM định giá cấp nước nông thôn vùng đồng bằng sông Cửu Long, chỉ ra Mean WTP và kết luận các sai số của CVM có thể kiểm soát qua thiết kế nghiên cứu.
- Đào Văn Khiêm (2009): Khảo sát lưu vực sông Nhuệ - Đáy, xác định 83% số hộ chịu thiệt hại với tổng mức thiệt hại hàng năm khoảng 4.315 tỷ đồng (chiếm trên 2% GDP toàn vùng).
- Hoàng Thị Thùy Linh và Đào Duy Minh (2011): Nghiên cứu tại khu du lịch Hồ Núi Cốc, WTP của du khách nội địa đạt 9.572,98 đồng/người, du khách quốc tế đạt 0,9469 USD/người, tổng quỹ thu được trên 2,9 tỷ đồng.
- Nguyễn Hoàng Thanh và cộng sự (2015): Nghiên cứu tại huyện Kim Bảng (Hà Nam), mức WTP trung vị của hộ dân để xây dựng hệ thống xử lý nước thải là 1.800 đồng (chiếm 4% thu nhập năm), tổng mức sẵn sàng đóng góp đạt trên 3,18 tỷ đồng.
- Ngô Thị Thủy (2015): Khảo sát 120 hộ tại làng nghề dệt lụa Vạn Phúc (Hà Đông), Mean WTP đạt 150.000 đồng/năm.
- Nguyễn Văn Song và cộng sự: Nghiên cứu tại làng nghề đúc cơ khí Mỹ Đồng (Hải Phòng) với 154 hộ, Mean WTP đạt 36,69 nghìn đồng/hộ/tháng, tổng quỹ ước tính 715 triệu đồng/năm.
- Võ Thành Danh (2008): Ước lượng tổn thất kinh tế do ô nhiễm nước sông tại đồng bằng sông Cửu Long là 29.345 đồng/hộ/tháng, tổng thiệt hại 1,454 tỷ đồng/năm.
2. Bảng tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm tiêu biểu
| Tác giả / Năm |
Địa bàn nghiên cứu |
Phương pháp / Kỹ thuật |
Kết quả chính (WTP / Thiệt hại / Biến ảnh hưởng) |
| Whittington và cs (1991) |
Onitsha, Nigeria |
CVM, câu hỏi mở đóng (open-ended) |
WTP đủ bù đắp chi phí cấp nước; thu nhập tăng 10% làm WTP tăng 5–6%; học vấn đồng biến, tuổi và khoảng cách nghịch biến với WTP |
| Kwak và cs (2013) |
Pusan, Hàn Quốc |
CVM, 400 hộ gia đình |
Mean WTP = 2.124 KRW (2,2 USD)/tháng; tổng quỹ toàn dân cư = 31,2 tỷ KRW (32,1 triệu USD)/năm |
| Đào Văn Khiêm (2009) |
Lưu vực sông Nhuệ - Đáy |
CVM, điều tra hộ dân |
83% hộ chịu thiệt hại; tổng thiệt hại bình quân = 4.315 tỷ đồng/năm (>2% GDP toàn vùng) |
| Hoàng Thị Thùy Linh, Đào Duy Minh (2011) |
Hồ Núi Cốc, Thái Nguyên |
CVM, khách du lịch |
Khách nội địa: 9.572,98 đ/người; quốc tế: 0,9469 USD/người; tổng quỹ >2,9 tỷ đồng |
| Nguyễn Hoàng Thanh và cs (2015) |
Huyện Kim Bảng, Hà Nam |
CVM, hộ gia đình |
Trung vị WTP = 1.800 đ (4% thu nhập năm); tổng quỹ >3,18 tỷ đồng; học vấn, kinh tế, tuổi tác đồng biến với WTP |
| Ngô Thị Thủy (2015) |
Làng nghề Vạn Phúc, Hà Nội |
CVM, 120 hộ |
Mean WTP = 150.000 đ/năm; hộ làm nghề, thu nhập cao, người lớn tuổi có WTP cao hơn |
| Nguyễn Văn Song và cs (2016) |
Làng nghề Mỹ Đồng, Hải Phòng |
CVM, 154 hộ |
Mean WTP = 36,69 nghìn đ/hộ/tháng; tổng quỹ = 715 triệu đ/năm; thu nhập, quy mô nhân khẩu tác động thuận chiều |
3. Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết
- Chưa có nghiên cứu nào trong nước đánh giá toàn diện sự thay đổi phúc lợi và WTP cho việc cải thiện môi trường nước tại các làng nghề truyền thống trên phạm vi toàn bộ một tỉnh.
- Các nghiên cứu trước phần lớn đánh giá đơn lẻ mức WTP mà chưa kết hợp phân tích sâu nhận thức, quan điểm của người dân về mức độ nguy hại của ô nhiễm và lợi ích của việc cải thiện chất lượng nước.
- Hầu hết các nghiên cứu CVM trước đây chỉ áp dụng đơn lẻ hoặc câu hỏi chọn ngẫu nhiên một lần (single-bounded) hoặc câu hỏi lặp (double-bounded); chưa thực hiện đồng thời cả hai cách tiếp cận để so sánh kết quả.
- Thiếu việc ứng dụng phương pháp suy rộng để ước tính cụ thể tổng nguồn vốn thực tế và nguồn vốn tiềm năng từ cộng đồng dân cư phục vụ vận hành, duy trì hạ tầng xử lý nước thải làng nghề.
- Chưa có nghiên cứu chuyên biệt đặt trong bối cảnh tỉnh Bắc Ninh – địa bàn có mật độ làng nghề dày đặc nhất, cơ cấu ngành nghề đa dạng nhưng diện tích nhỏ nhất cả nước, đang gặp bế tắc về kinh phí duy trì các nhà máy xử lý nước thải.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
1. Cơ sở lý luận và các khái niệm
-
Ô nhiễm môi trường nước: Theo Luật Bảo vệ môi trường (Quốc hội, 2014), ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật. Olaniran (1995) định nghĩa ô nhiễm nước là sự hiện diện của quá nhiều mối nguy hại khiến nước không thể sử dụng cho sinh hoạt, ăn uống hoặc các mục đích khác.
-
Làng nghề và tiêu chí công nhận: Theo Thông tư số 116/2006/TT-BNN và Nghị định số 66/2006/NĐ-CP, làng nghề cần đáp ứng: tối thiểu 30% tổng số hộ tham gia sản xuất ngành nghề nông thôn; hoạt động ổn định tối thiểu 2 năm; chấp hành tốt pháp luật. Làng nghề truyền thống yêu cầu thêm: nghề xuất hiện trên 50 năm; tạo sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc; gắn với nghệ nhân hoặc tên tuổi làng nghề.
-
Lý thuyết cầu và Khái niệm Sẵn lòng chi trả (WTP): WTP là số tiền tối đa một cá nhân chấp nhận trả cho một lượng hàng hóa hoặc dịch vụ nhất định (Reservation price). Theo Kalish và Nelson (1991), người tiêu dùng tối đa hóa thỏa dụng theo hàm:
$$U(z, P) = R(z) - P$$
Trong đó: $P$ là mức giá thị trường, $R(z)$ là mức giá người tiêu dùng sẵn lòng trả cho hàng hóa có thuộc tính $z$, $U(z, P)$ là độ thỏa dụng nhận được.
-
Bản chất kinh tế của WTP theo quyền sở hữu tài nguyên: Vận dụng mô hình của Pearce và Turner (1990):
- Đường $MNPB$ biểu thị lợi ích ròng biên của cơ sở gây ô nhiễm (có xu hướng giảm dần).
- Đường $MEC$ biểu thị chi phí ngoại ứng biên (tăng dần theo sản lượng $Q$ và lượng phát thải $W$).
- Khi quyền xả thải thuộc về doanh nghiệp hoặc tài nguyên nước là sở hữu chung/vô chủ, doanh nghiệp sẽ sản xuất tại mức $Q_p$ (phát thải $W_p$) để tối đa hóa lợi nhuận ($S + A + B + C$), gây chi phí ô nhiễm cho xã hội là $B + C + D$.
- Để đưa mức phát thải từ $W_p$ về mức tối ưu xã hội $W^$ (sản lượng $Q^$), phần lợi ích doanh nghiệp mất đi là diện tích $C$, trong khi chi phí ngoại ứng giảm đi là $C + D$. Cộng đồng bị ô nhiễm sẵn lòng chi trả khoản tiền tương đương diện tích $C$ để "mua" sự trong sạch của môi trường.
Mức giá / Chi phí
^
K | / MEC
| /
| E /
| /\ /
| / \ /
| / \ /
| / \ D /
| / S \ /
| / \ /
| / A \ B / C
0 +----+--------------+---+-----+--------> Sản lượng Q, Lượng thải W
0 Q* Q1 Qp
W* W1 Wp
- Thước đo biến động phúc lợi (Freeman III, 1993):
- Sự thay đổi bổ sung (Compensating Variation - CV): Đo mức thay đổi thu nhập cần thiết để người tiêu dùng duy trì mức thỏa dụng ban đầu ($U_{11}$) khi chất lượng môi trường được cải thiện (tương đương giá giảm từ $P_{11}$ xuống $P_{12}$):
$$CV = I_j - E(P_{12}, U_{11})$$
- Sự thay đổi tương đương (Equivalent Variation - EV): Đo mức thay đổi thu nhập cần thiết để người tiêu dùng đạt mức thỏa dụng mới ($U_{22}$) tại mức giá cũ ($P_{11}$) khi môi trường suy thoái:
$$EV = E(P_{11}, U_{22}) - I_j$$
2. Khung phân loại phương pháp đo lường WTP (Breidert và cs)
| Cách tiếp cận chính |
Nhóm phương pháp |
Kỹ thuật cụ thể |
| Sự ưa thích thực tế (Revealed Preference) |
Dữ liệu thị trường (Market Data) |
Mô hình hóa đường cầu từ dữ liệu giao dịch lịch sử |
|
Thí nghiệm (Experiments) |
Thí nghiệm phòng thí nghiệm, Thí nghiệm thực địa, Đấu giá Vickrey (1961) |
| Sự ưa thích lý thuyết (Stated Preference) |
Điều tra trực tiếp (Direct Survey) |
Đánh giá của chuyên gia, Khảo sát trực tiếp người tiêu dùng |
|
Điều tra gián tiếp (Indirect Survey) |
Phân tích kết hợp (Conjoint Analysis), Phân tích lựa chọn rời rạc (Discrete Choice Analysis), Đánh giá ngẫu nhiên (CVM) |
3. Phương pháp nghiên cứu cụ thể của đề tài
- Kỹ thuật thu thập dữ liệu CVM: Thiết lập kịch bản thị trường giả định về dự án xử lý nước thải làng nghề; sử dụng câu hỏi chọn ngẫu nhiên nhị thức (Dichotomous Choice) theo hai hình thức:
- Chọn ngẫu nhiên đơn (Single-bounded dichotomous choice): Người trả lời chấp nhận hoặc từ chối một mức giá khởi điểm ($BID$).
- Chọn ngẫu nhiên lặp (Double-bounded dichotomous choice): Đưa ra mức giá thứ hai cao hơn ($BID^u$) nếu trả lời "Đồng ý", hoặc thấp hơn ($BID^d$) nếu trả lời "Không đồng ý".
- Mô hình ước tính WTP trung bình (Mean WTP):
- Mô hình tham số (Parametric Model): Ước lượng thông số hàm thỏa dụng và tính kỳ vọng toán của WTP.
- Mô hình phi tham số (Non-parametric Model): Tính toán WTP trung bình trực tiếp từ phân phối xác suất chấp nhận các mức giá thầu mà không giả định dạng hàm phân phối xác suất.
- Mô hình phân tích yếu tố ảnh hưởng:
- Mô hình hồi quy Binary Logistic: Phân tích xác suất sẵn lòng chi trả ($Y = 1$ nếu đồng ý, $Y = 0$ nếu từ chối) phụ thuộc vào các biến độc lập.
- Mô hình hồi quy đa biến (OLS): Phân tích mức chi trả tối đa.
- Các biến độc lập đưa vào mô hình: Giới tính chủ hộ, độ tuổi, trình độ học vấn (số năm đi học), quy mô nhân khẩu, thu nhập hộ gia đình (thu nhập từ làm nghề và thu nhập ngoài nghề), khoảng cách từ hộ gia đình đến nguồn nước ô nhiễm, mức giá đề xuất ($BID$), biến giả loại hộ (hộ sản xuất gây ô nhiễm so với hộ thuần sinh hoạt).
4. Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Dữ liệu thứ cấp: Báo cáo kinh tế - xã hội, báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2012–2018; Niên giám thống kê Cục Thống kê Bắc Ninh (2017); Báo cáo số 17/BC-UBND tỉnh Bắc Ninh (2015a, 2015b, 2015c, 2015d); Số liệu Sở Tài nguyên và Môi trường Bắc Ninh (2016, 2017a); Báo cáo của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh (2017); Tài liệu kỹ thuật từ Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009, 2015a, 2015b), Bộ Khoa học và Công nghệ (2005).
- Dữ liệu sơ cấp: Điều tra khảo sát trực tiếp đại diện các hộ gia đình (chủ hộ) tại các làng nghề ô nhiễm nước trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong năm 2017.
Nội dung chính theo từng chương
1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu tỉnh Bắc Ninh và hiện trạng làng nghề
Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh
- Vị trí và địa hình: Vị trí 20°58’ đến 21°16’ vĩ độ Bắc, 105°54’ đến 106°19’ kinh độ Đông. Địa hình bằng phẳng, dốc từ Bắc xuống Nam và Tây sang Đông; đồi núi chiếm 0,53% diện tích. Tổng diện tích tự nhiên là 82.269 ha (đất nông nghiệp 41.713 ha ~ 50,7%; đất lâm nghiệp 631 ha ~ 0,8%; đất chuyên dùng 18.249 ha ~ 22,2%; đất ở 10.000 ha).
- Thủy văn: Mật độ sông ngòi 1,0–1,2 km/km², gồm hệ thống sông Đuống, sông Cầu, sông Thái Bình, sông Cà Lồ cùng các sông nội địa (sông Ngũ Huyện Khê, sông Dâu, sông Bội, sông Tào Khê, sông Đồng Khởi, sông Đại Quảng Bình).
- Tăng trưởng kinh tế: Giai đoạn 1997–2016, tăng trưởng bình quân đạt 15,1%/năm. Năm 2016, GRDP (giá 1994) đạt 25.996 tỷ đồng (gấp 15,2 lần năm 1997); cơ cấu kinh tế: Công nghiệp - xây dựng chiếm 72,56%, Dịch vụ chiếm 23,51%, Nông - lâm - thủy sản chiếm 3,94%. Kim ngạch xuất khẩu năm 2016 đạt 22,8 tỷ USD. Tỉnh có 15 khu công nghiệp tập trung, 1 khu công nghệ thông tin và hơn 30 cụm công nghiệp.
Hiện trạng phân bố và hoạt động làng nghề Bắc Ninh
Toàn tỉnh có 62 làng nghề phân bố tại 8 đơn vị hành chính cấp huyện:
| STT |
Huyện / Thị xã / Thành phố |
Số làng nghề |
Tỷ lệ (%) |
| 1 |
Thị xã Từ Sơn |
18 |
29,03 |
| 2 |
Huyện Yên Phong |
13 |
20,97 |
| 3 |
Huyện Gia Bình |
8 |
12,90 |
| 4 |
Huyện Lương Tài |
6 |
9,68 |
| 5 |
Thành phố Bắc Ninh |
5 |
8,06 |
| 6 |
Huyện Thuận Thành |
5 |
8,06 |
| 7 |
Huyện Quế Võ |
4 |
6,45 |
| 8 |
Huyện Tiên Du |
3 |
4,84 |
| Tổng |
Toàn tỉnh Bắc Ninh |
62 |
100,00 |
Về quy mô và phân loại hoạt động:
- Năm 2016, toàn tỉnh có 13.171 hộ làm nghề (chiếm 3,87% số hộ toàn tỉnh), 43.094 lao động tham gia sản xuất làng nghề (chiếm 8,74% dân số tại làng nghề); tổng giá trị sản xuất đạt 7.629,4 tỷ đồng (chiếm 7,78% tổng thu nhập của tỉnh).
- Phân loại phát triển: 20 làng nghề phát triển tốt (chiếm 32%, gồm đồ gỗ Đồng Kỵ với 3.134 hộ tham gia ~ 86% số hộ; giấy Phong Khê với 4.853 lao động ~ 50,27% lao động phi nông nghiệp; đúc đồng Đại Bái có 1.046 hộ tiểu thủ công nghiệp trên tổng số 1.711 hộ); 26 làng nghề hoạt động cầm chừng (chế biến nông sản, rượu, mộc dân dụng); 16 làng nghề hoạt động kém, có nguy cơ mai một.
2. Đặc trưng ô nhiễm nguồn nước theo nhóm ngành làng nghề (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2005; Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2009)
| Loại hình sản xuất |
Thông số ô nhiễm đặc trưng trong nước thải |
Đặc điểm phát thải thực tế tại Bắc Ninh |
| Chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi, giết mổ |
BOD₅, COD, SS, Tổng N, Tổng P, Coliform |
Lượng nước thải lớn (có nơi tới 7.000 m³/ngày), xả thẳng ra kênh rạch; COD, BOD₅ vượt TCVN hàng chục lần, Coliform rất cao (Khắc Niệm, Phú Lâm) |
| Dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc da |
BOD₅, COD, Độ màu, Tổng N, Hóa chất, Thuốc tẩy, Cr⁶⁺ (thuộc da) |
Sử dụng nhiều nước; khoảng 30% thuốc nhuộm và 85–90% hóa chất tồn dư trong nước thải; pH, COD, TS, SS, độ màu rất cao |
| Thủ công, mỹ nghệ (Gốm sứ, sơn mài, mộc, mây tre) |
BOD₅, COD, SS, Độ màu, Dầu mỡ công nghiệp |
Lượng thải 2–5 m³/cơ sở/ngày; chứa bột mài mịn, dung môi, dầu bóng, polyme hữu cơ, phẩm màu nhuộm |
| Tái chế giấy |
pH, BOD₅, COD, SS, Độ màu, Tổng N, Tổng P |
Nước thải ngâm, tẩy, nghiền chiếm 50% lượng thải; chứa xút, Javen, phèn, phẩm màu, xơ sợi; cặn bột giấy đạt 300–600 mg/l (Phong Khê) |
| Tái chế kim loại, đúc đồng nhôm |
COD, SS, Dầu mỡ, CN⁻, Kim loại nặng (Hg, Pb, Cr, Zn, Cu) |
Nước thải chứa axit, muối kim loại, xyanua và kim loại nặng độc hại (Đa Hội, Mẫn Xá, Đại Bái) |
| Tái chế nhựa |
BOD₅, COD, Tổng N, Tổng P, Độ màu, Dầu mỡ |
Nước rửa, tạo hạt chứa nhiều cặn bẩn, hóa chất tẩy rửa (Minh Khai) |
| Vật liệu xây dựng, khai thác đá |
SS, Si, Cr |
Hàm lượng chất rắn lơ lửng (SS) rất cao |
3. Đánh giá nhận thức của người dân và thực trạng mức sẵn lòng chi trả
- Nhận thức của người dân: Phần lớn người dân tại các làng nghề ô nhiễm nhận thức rõ tác động tiêu cực của nước thải chưa qua xử lý đối với sức khỏe bản thân và cộng đồng (gia tăng các bệnh ngoài da, hô hấp, tiêu hóa); ghi nhận sự cần thiết phải đầu tư hạ tầng xử lý nước thải tập trung.
- Phản ứng với mức giá đề xuất (BID): Xác suất chấp nhận chi trả tuân theo quy luật cầu: mức giá thầu $BID$ càng cao thì tỷ lệ đồng ý chi trả càng giảm.
- Ước tính mức WTP trung bình (Mean WTP): Được xác định cụ thể thông qua mô hình tham số và phi tham số cho từng nhóm đối tượng (hộ có tham gia sản xuất làng nghề so với hộ không sản xuất; hộ ở gần nguồn xả thải so với hộ ở xa).
- Dự báo tổng quỹ tài chính: Kết hợp Mean WTP và tổng số 13.171 hộ làm nghề cùng toàn bộ hộ dân sinh sống tại các cụm làng nghề để ngoại suy tổng mức đóng góp thực tế và tổng quỹ tiềm năng hàng năm.
4. Các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả
Kết quả mô hình kinh tế lượng xác định chiều hướng tác động của các biến số:
- Mức giá đề xuất ($BID$): Tác động nghịch chiều có ý nghĩa thống kê đến xác suất đồng ý chi trả.
- Thu nhập của hộ gia đình: Tác động đồng biến mạnh mẽ; hộ có thu nhập cao (từ sản xuất làng nghề hoặc ngành nghề khác) có mức WTP cao hơn rõ rệt.
- Trình độ học vấn của chủ hộ: Số năm đi học tỷ lệ thuận với mức WTP; học vấn cao giúp nhận thức tốt hơn về rủi ro môi trường.
- Quy mô nhân khẩu và đặc điểm hộ: Hộ có đông thành viên, hộ trực tiếp tham gia sản xuất ngành nghề ô nhiễm có WTP cao hơn nhóm hộ thuần nông.
- Khoảng cách đến nguồn nước ô nhiễm: Khoảng cách tỷ lệ nghịch với WTP; những hộ sống sát kênh, cống, sông bị ô nhiễm chịu thiệt hại ngoại ứng trực tiếp nên có mức sẵn lòng trả cao hơn.
- Giới tính và tuổi tác: Tác động phân hóa theo từng nhóm mẫu điều tra (phù hợp với các nghiên cứu của Carlsson & Stenman, 2000; Jalan và cs, 2003).
Kết quả và những đóng góp mới
1. Đóng góp mới về mặt lý luận
- Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về biến động phúc lợi xã hội ($CV, EV$) và cơ chế hình thành mức sẵn lòng chi trả ($WTP$) trong điều kiện tài nguyên nước là tài sản công cộng không có quyền sở hữu xác định tại các làng nghề.
- Hoàn thiện khung phân tích và quy trình thực hiện phương pháp CVM kết hợp song song hai kỹ thuật hỏi chọn ngẫu nhiên đơn (single-bounded) và chọn ngẫu nhiên lặp (double-bounded), cung cấp cơ sở đối chiếu độ chệch giữa hai kỹ thuật.
- Trình bày cơ sở toán kinh tế lượng của cả hai mô hình ước tính WTP trung bình: mô hình tham số (parametric) và phi tham số (non-parametric).
2. Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Cung cấp bộ cơ sở dữ liệu chi tiết về thực trạng ô nhiễm nguồn nước, cơ cấu sản xuất làng nghề và nhận thức môi trường của người dân tại tỉnh Bắc Ninh năm 2017.
- Lượng hóa cụ thể mức sẵn lòng chi trả trung bình (Mean WTP) và xác định hàm cầu về chất lượng nước sạch tại các làng nghề tỉnh Bắc Ninh.
- Ước tính tổng quỹ tài chính thực tế và tiềm năng có thể huy động từ cộng đồng dân cư làng nghề, cung cấp luận cứ thực chứng phục vụ xây dựng chính sách thu phí thoát nước, phí bảo vệ môi trường.
3. Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Giải pháp truyền thông: Tăng cường giáo dục môi trường, công khai số liệu quan trắc chất lượng nước định kỳ để nâng cao nhận thức cộng đồng.
- Giải pháp tài chính và thu phí: Thực thi cơ chế thu phí bảo vệ môi trường theo nguyên tắc "người gây ô nhiễm phải trả tiền"; áp dụng mức phí phân định giữa hộ sản xuất và hộ sinh hoạt; triển khai mô hình đối ứng vốn đầu tư công trình xử lý nước thải (Nhà nước hỗ trợ 80%, cơ sở làng nghề đóng góp 20% vốn xây dựng và 100% kinh phí vận hành theo Quyết định 47/2016/QĐ-UBND).
- Chính sách tín dụng và khuyến khích: Giảm lãi suất vay vốn, hỗ trợ tiếp cận thị trường và chuyển giao công nghệ sạch cho các cơ sở sản xuất có đầu tư hệ thống xử lý nước thải nội bộ.
- Giải pháp quản lý và thể chế: Lồng ghép quy chế bảo vệ môi trường nước vào hương ước, quy ước của làng, xã; quy hoạch di dời các cơ sở tái chế ô nhiễm nặng (giấy Phong Khê, thép Đa Hội, nhôm Mẫn Xá) ra các cụm công nghiệp tập trung có hạ tầng xử lý nước thải đồng bộ.
- Định hướng nghiên cứu: Xác định mức phát thải và mức ô nhiễm tối ưu kinh tế đối với từng nhóm ngành làng nghề.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
1. Hạn chế của nghiên cứu
- Phạm vi không gian giới hạn trên địa bàn các làng nghề thuộc tỉnh Bắc Ninh; dữ liệu sơ cấp tập trung thu thập trong năm 2017 nên chưa phản ánh được biến động chuỗi thời gian dài hạn.
- Do bản chất phương pháp CVM sử dụng thị trường giả định, kết quả khảo sát có thể chịu ảnh hưởng từ các sai số chiến lược (người trả lời nói mức WTP thấp hơn để tránh nghĩa vụ tài chính thực tế) hoặc sai số do điểm gợi ý ban đầu ($BID$).
- Nghiên cứu tập trung chủ yếu vào môi trường nước, chưa lượng hóa đồng thời WTP cho việc giảm thiểu ô nhiễm không khí, chất thải rắn và tiếng ồn tại các làng nghề.
2. Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Nghiên cứu mở rộng xác định mức ô nhiễm tối ưu ($W^$) và sản lượng tối ưu ($Q^$) tại các làng nghề thông qua việc cân bằng hàm lợi ích ròng biên ($MNPB$) và hàm chi phí ngoại ứng biên ($MEC$).
- Ứng dụng CVM và các phương pháp định giá phi thị trường khác (như Chi phí du lịch - TCM, Định giá theo giá nhà đất - HPM) để đánh giá tổng hợp đa thành phần môi trường (nước, không khí, đất) tại các vùng kinh tế trọng điểm.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Cung cấp khung lý thuyết chuẩn mực về kinh tế tài nguyên môi trường, kinh tế phúc lợi ($CV, EV$), cùng tài liệu tham khảo chi tiết về quy trình thiết kế bảng hỏi CVM, xử lý câu hỏi chọn ngẫu nhiên lặp và ước lượng mô hình kinh tế lượng (Logistic, OLS, tham số/phi tham số).
- Đối với các cơ quan quản lý nhà nước (UBND tỉnh Bắc Ninh, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài chính): Cung cấp số liệu thực chứng về khả năng đóng góp tài chính của người dân, làm căn cứ định mức thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, phê duyệt phương án tài chính cho các dự án nhà máy xử lý nước thải tập trung tại Phong Khê, Đại Bái, Khắc Niệm, Mẫn Xá.
- Đối với các nhà hoạch định chính sách môi trường nông thôn: Tài liệu tham khảo về phương thức kết hợp công cụ kinh tế với thể chế cộng đồng (hương ước, quy ước làng xã) trong quản lý ô nhiễm môi trường làng nghề.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ phân bố làng nghề tại các đơn vị hành chính của tỉnh Bắc Ninh như thế nào?
Theo báo cáo của Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Ninh, 62 làng nghề toàn tỉnh phân bố tại 8 đơn vị hành chính: Thị xã Từ Sơn có 18 làng nghề (chiếm 29,03%); Huyện Yên Phong có 13 làng nghề (chiếm 20,97%); Huyện Gia Bình có 8 làng nghề (chiếm 12,90%); Huyện Lương Tài có 6 làng nghề (chiếm 9,68%); Thành phố Bắc Ninh có 5 làng nghề (chiếm 8,06%); Huyện Thuận Thành có 5 làng nghề (chiếm 8,06%); Huyện Quế Võ có 4 làng nghề (chiếm 6,45%); Huyện Tiên Du có 3 làng nghề (chiếm 4,84%).
2. Ô nhiễm môi trường tại các làng nghề Bắc Ninh gây ra thiệt hại sức khỏe và chi phí y tế cụ thể là bao nhiêu?
Nghiên cứu của Lê Thị Phương Dung và Lê Thị Thanh Thúy (2015) ghi nhận: Tỷ lệ mắc 8 nhóm bệnh thông thường của người dân khu vực làng nghề cao hơn từ 1,5 đến 3 lần so với vùng thuần nông. Chi phí sức khỏe bình quân của người dân làng nghề là 303 triệu đồng/làng nghề/năm (so với 93 triệu đồng/làng thuần nông/năm). Tính trên toàn bộ 62 làng nghề của tỉnh Bắc Ninh, người dân phải chi trả khoảng 19 tỷ đồng/năm để khám chữa bệnh, cao gấp 3 lần so với mức 6 tỷ đồng của khu vực thuần nông.
3. Cơ chế góp vốn đầu tư công trình xử lý nước thải tập trung làng nghề tại Bắc Ninh theo Quyết định 47/2016/QĐ-UBND được quy định ra sao?
Theo Quyết định số 47/2016/QĐ-UBND của UBND tỉnh Bắc Ninh, đối với các công trình xử lý nước thải tập trung tại làng nghề: Ngân sách Nhà nước hỗ trợ 80% tổng kinh phí đầu tư xây dựng; 20% kinh phí đầu tư còn lại và toàn bộ kinh phí quản lý, vận hành công trình do các doanh nghiệp, cơ sở phát sinh chất thải trong làng nghề có trách nhiệm đóng góp chi trả.
4. Những thông số ô nhiễm nước thải đặc trưng nào xuất hiện tại các nhóm làng nghề chế biến nông sản và tái chế kim loại?
Theo Bộ Khoa học và Công nghệ (2005) và Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009):
- Nhóm chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi, giết mổ (Khắc Niệm, Phú Lâm): Nước thải chứa BOD₅, COD, SS, Tổng Nitơ, Tổng Phốt pho và vi khuẩn Coliform vượt chuẩn hàng chục đến hàng trăm lần; lưu lượng xả thải có nơi lên tới 7.000 m³/ngày.
- Nhóm tái chế kim loại, đúc đồng nhôm (Đa Hội, Đại Bái, Mẫn Xá): Nước thải chứa COD, SS, dầu mỡ, hợp chất Cyanua (CN⁻), axit và các kim loại nặng độc hại như Thủy ngân (Hg), Chì (Pb), Crom (Cr), Kẽm (Zn), Đồng (Cu).
5. Những biến số kinh tế - xã hội chính nào được đưa vào mô hình để phân tích mức sẵn lòng chi trả của người dân?
Mô hình nghiên cứu đưa vào các biến số độc lập bao gồm: Mức giá thầu đề xuất ($BID$), thu nhập bình quân của hộ gia đình (từ sản xuất làng nghề và thu nhập ngoài nghề), trình độ học vấn (số năm đi học của chủ hộ), quy mô nhân khẩu trong hộ, độ tuổi của chủ hộ, giới tính của chủ hộ, khoảng cách từ nhà ở đến nguồn xả thải ô nhiễm, và biến giả phân loại hộ (hộ trực tiếp sản xuất làng nghề gây ô nhiễm hay hộ thuần sinh hoạt).
Kết luận
Luận án đã giải quyết toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn về đo lường sự thay đổi phúc lợi và mức sẵn lòng chi trả (WTP) của người dân đối với việc cải thiện chất lượng môi trường nước tại 62 làng nghề tỉnh Bắc Ninh. Thông qua việc kết hợp chặt chẽ khung phân tích CVM hai giai đoạn (chọn ngẫu nhiên đơn và lặp) cùng các mô hình kinh tế lượng tham số, phi tham số và hồi quy Binary Logistic, công trình đã lượng hóa chính xác mức WTP trung bình, phân tích các nhân tố chi phối hành vi chi trả và xác định tiềm năng huy động nguồn lực tài chính trong dân. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng và luận cứ khoa học quan trọng cho UBND tỉnh Bắc Ninh cùng các cơ quan quản lý trong việc hoạch định chính sách thu phí bảo vệ môi trường, thực thi Quyết định số 47/2016/QĐ-UBND và phát triển bền vững các làng nghề truyền thống.