Chương 1: Những vấn đề chung về cơ chế tài chính dịch vụ môi trường rừng. Chương 2: Thực trạng cơ chế tài chính dịch vụ môi trường rừng tại tỉnh Lâm Đồng. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện cơ chế tài chính dịch vụ môi trường rừng tại tỉnh Lâm Đồng. 8 z CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CƠ CHẾ TÀI CHÍNH DỊCH VỤ MÔI TRƢỜNG RỪNG 1.
Khái niệm cơ chế tài chính Theo Thạc sĩ Võ Khắc Thường (2012), khái niệm ”Cơ chế tài chính” và ”Cơ chế quản lý tài chính” đến nay vẫn còn những cách nhìn nhận khác nhau. Có quan điểm cho rằng trên khía cạnh nào đó thì hai khái niệm này có thể được xem là đồng nhất. Điều này được giải thích rằng, khi dùng khái niệm cơ chế tài chính là hàm ý các bộ phận cấu thành, tác động của tài chính là một thể thống nhất, được định hướng theo mục tiêu nhất định và tài chính lúc này mới chỉ ”có khả năng ” trở thành một công cụ để quản lý kinh tế. Khi sử dụng khái niệm ”Cơ chế quản lý tài chính” thì ngoài nội dung của ”Cơ chế tài chính ” như đã nêu trên, tài chính được khẳng định rõ nét là một công cụ để quản lý kinh tế.
Cách nhìn nhận như trên chưa phải là một lý giải thỏa đáng, bởi hai khái niệm này, nếu qua một thuật ngữ được sử dụng thì rõ ràng giữa chúng có một nguồn gốc kinh tế và có mối quan hệ hữu cơ, song không thể đồng nhất hoàn toàn về nội dung, cơ cấu, vai trò cũng như phương thức tồn tại và vận động Để làm sáng tỏ thuật ngữ ”Cơ chế tài chính” và ”Cơ chế quản lý tài chính ” cần phải thông qua khái niệm về ”Cơ chế kinh tế ” và ”Cơ chế quản lý kinh tế ”, bởi lẽ kinh tế quyết định tài chính hay nói cách khác, tài chính phản ánh các quan hệ kinh tế. Trong các mối quan hệ này kinh tế là gốc. Song cũng cần nhấn mạnh rằng tài chính không thụ động phản ánh các quan hệ kinh tế, ngay cả điều chỉnh các quan hệ kinh tế đồng hành .Phạm Quang Trung (2003), Thuật ngữ ”Cơ chế quản lý tài chính” đã được sử dụng rộng rãi trong nhiều văn bản, tài liệu, sách báo và trong đời sống hàng ngày. Tuy nhiên, trong thực tế cụm từ ”Cơ chế tài chính” cũng được một số tác giả sử dụng để hàm ý cơ chế quản lý tài chính.
Sự phân biệt không rõ ràng giữa hai khái niệm ”Cơ chế quản lý tài chính” và ”Cơ chế tài chính” thể hiện khá rõ trong thực tế, qua các tài liệu, các văn bản, các quy định,v. Xét về phương diện thực tiễn, việc sử dụng lẫn lộn như vậy không gây ra những hậu quả gì đáng kể và có thể chấp nhận được theo thói quen trong ngôn ngữ. Tuy nhiên, dưới góc độ học thuật việc hiểu chính xác khái niệm ”Cơ chế quản lý tài chính” là cần thiết, nhằm hạn chế những nhầm lẫn, sai sót trong trong quá trình nghiên cứu, xây dựng chính sách và ứng dụng trong thực tiễn. Tuy nhiên, hầu như có rất ít tài liệu nghiên cứu và luận giải về bản thân khái niệm ”Cơ chế quản lý tài chính”.
Khi đề cập đến vấn đề quản lý tài chính hoặc có liên quan đến quản lý tài chính, hầu hết các tác giả ngầm định rằng không cần giải thích về thuật ngữ ”Cơ chế quản lý tài chính” và coi như đã thống nhất cách hiểu về nó. Để xem xét đầy đủ nội dung ý nghĩa của thuật ngữ ”Cơ chế quản lý tài chính”, cần nghiên cứu khái niệm bao trùm trực tiếp của nó, đó là khái niệm ” Cơ chế quản lý kinh tế” cho nên việc tiếp cận khái niệm ”Cơ chế quản lý kinh tế ” sẽ giúp chúng ta hiểu đầy đủ hơn khái niệm ”Cơ chế quản lý tài chính”. Khi nghiên cứu về hai khái niệm ”Cơ chế quản lý kinh tế” và ”Cơ chế kinh tế ” cho thấy rằng: Trong thực tế hai thuật ngữ này có thể được sử dụng thay thế cho nhau, ranh giới giữa chúng tương đối mờ nhạt, do đó có sự lẫn lộn ở một chừng mức nào đó. 10 z Như vậy ”Cơ chế tài chính” có thể hiểu là một phạm trù kinh tế khách quan phản ánh sự hình thành tồn tại và vận động của một phương thức sản xuất tương ứng, trong đó chịu sự chi phối trực tiếp bởi quan hệ sản xuất mà cốt lõi là quan hệ hoặc chế độ sở hữu cấu thành của quan hệ sản xuất đó.
Chính sách dịch vụ môi trƣờng rừng 1. Khái niệm Chi trả dịch vụ môi trường rừng Chi trả dich ̣ vu ̣ hê ̣ sinh thái (Payment for ecosysterm servieces - PES) hay còn go ̣i là chi trả dich ̣ vu ̣ môi trường (Payments for Environment Services - PES) là một lĩnh vự c hoàn toàn mới nhưng đã thu hút đươ ̣c sự quan tâm của các quốc gia và các nhà khoa học trên toàn thế giới. PES triể n khai sớm nhấ t ở Mỹ la tinh , châu Âu , châu Phi. PES cũng đươ ̣c phát triể n và thực hiê ̣n thí điể m ta ̣i châu Á n hư Indonesia , Philippiness , Trung Quố c , Ấn Độ và Việt Nam.
Costa Rica, Mexico và Trung Quố c đã xây dựng các chương triǹ h PES quy mô lớn , chi trả trực tiế p cho các chủ rừng để thực hiê ̣n các biê ̣n pháp bảo vê ̣ rừng nhằ m tăng cường cung cấ p các dich ̣ vu ̣ thủy văn , bảo tồn đa dạng sinh ho ̣c, chố ng xói mòn , hấ p thu ̣ cacbon và ta ̣o cảnh quan đe ̣p… Các nghiên cứu về chi trả dịch vụ môi trường của tổ chức For est Trends, The katoomba group (2011); Đánh giá giá tri ̣ kinh tế của công tác bảo tồ n hê ̣ sinh thái của Pagiola , S., K vonRitter , (2004) đã xác đinh ̣ các dich ̣ vu ̣ hê ̣ sinh thái cơ bản , cơ hô ̣i và thách thức khi tham gia thi ̣trường chi trả dich ̣ vụ môi trường. Mô ̣t số nghiên cứu khác tâ ̣p trung vào viê ̣c phát triể n thi ̣trường cacbon như: Cái nhìn từ tương lai : Hiê ̣n tra ̣ng của thi ̣trường các bon tự nguyê ̣n 2011 (Forestrends, 2011); Hiê ̣n tra ̣ng và xu thế thi ̣trường Cacbon 2011 (World Bank, 2011) hoă ̣c các công triǹ h nghi ên cứu về cách đo đa ̣c , thẩ m tra và xác 11 z đinh ̣ chấ t lươ ̣ng dich ̣ vu ̣ hê ̣ sinh thái rừng như : Hướng dẫn đo cacbon rừng (Timothy R. Pearson and Sandra L .Brown, 1997); Điề u tra rừng và sổ tay các phương pháp phân tích đất (Amacher, M.P, 2003); Những nghiên cứu này đã đóng góp phầ n không nhỏ trong quá trình xây dựng hê ̣ phương pháp luâ ̣n về cách đo đa ̣c , giám sát , thẩ m tra chấ t lươ ̣ng rừng và dich ̣ vụ môi trường rừng. Nghiên cứu đầ u tiên về chi trả di c̣ h vu ̣ môi trường (PES) ở Việt Nam do các nhà khoa học tại Trung tâm nghiên cứu sinh thái và môi trường rừng (RCFEE) và các đối tác nước ngoài như tổ chức Winrock Quốc tế , trung tâm lâm nghiê ̣p thế giới , thực hiê ̣n và xuấ t bản ấn phẩm “Chi trả dịch vụ môi trường cho người dân vùng cao về dich ̣ vu ̣ môi trường mà ho ̣ cung cấ p”.
Nghiên cứu này đã góp phầ n lồ ng nghép PES vào Luâ ̣t đa da ̣ng sinh ho ̣c , xây dựng các chin ́ h sách hỗ trơ ̣ cho PES và đă ̣c biê ̣t tâ ̣ p trung xác đinh ̣ mức chi trả của những người sử dụng điện cho những người bảo bệ rừng đầu nguồn. Tiế p đó là nghiên cứu về PES thông qua quyế t đinh ̣ 380/2008/QĐ – TTg về chin ́ h sách thí điể m chi trả dich ̣ vu ̣ môi trường rừng ở Viê ̣t Nam. Mục đić h của nghiên cứu này là ta ̣o ra cơ sở cho viê ̣c xây dựng khung pháp lý về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Điạ điể m thực hiê ̣n là Tin̉ h Sơn La và tin ̉ h Lâm Đồ ng.
Kế t quả nghiên cứu đã xác đinh ̣ đố i tươ ̣ng sử du ̣ng dich ̣ vụ, xác định được xuất phí phải chi trả cho mỗi đơn vị dịch vụ môi trường và thành lập được Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng với số tiền chi trả ở tỉnh Sơn La và Lâm Đồng. Trên cơ sở thành công của 2 dự án nghiên cứu thí điể m , năm 2010 chính phủ đã ban hành nghị định 99/2010/ NĐ – CP quy đinh ̣ về viê ̣c chi trả dịch vụ môi trường rừng. Đế n thời điể m hiê ̣n nay đã có mô ̣t số tỉnh triể n khai thực hiê ̣n nghi ̣đinh ̣ 99/2010/NĐ-CP như: Ninh Thuâ ̣n , Lạng Sơn , Quảng 12 z Nam… Tuy nhiên , phầ n lớn các hoa ̣t đô ̣ng triể n khai ta ̣i các tin̉ h này mới dừng ở viê ̣c lâ ̣p kế hoa ̣ch thành lâ ̣p Ban chỉ đa ̣o thực hiê ̣n nghi ̣đinh ̣ 99; thành lâ ̣p tổ kỹ thuâ ̣t, thành lập Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh. Môi trường rừng: Môi trường rừng bao gồm các hợp phần của hệ sinh thái rừng : thực vật, động vật, vi sinh vật, nước, đất, không khí, cảnh quan thiên nhiên.
Môi trường rừng có giá trị sử dụng đối với nhu cầu của xã hội và con người, gọi là giá trị sử dụng của của môi trường rừng, gồm : bảo vệ đất, điều tiết nguồn nước, phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển, phòng chống thiên tai, đa dạng sinh học, hấp thụ và lưu giữ các bon, du lịch, nơi cư trú và sinh sản của các loài sinh vật, gỗ và lâm sản khác .