PHẦN MỞ ĐẦU A. Tính cấp thiết của đề tài Rừng đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống con ngƣời. Rừng không những là cơ sở phát triển kinh tế - xã hội mà còn giữ chức năng sinh thái cực kỳ quan trọng: rừng tham gia vào quá trình điều hoà khí hậu, đảm bảo chu chuyển ôxy và các nguyên tố cơ bản khác trên hành tinh, duy trì tính ổn định và độ màu mỡ của đất, hạn chế lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn xói mòn đất, làm giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của các thiên tai, bảo tồn nguồn nƣớc mặt và nƣớc ngầm và làm giảm mức ô nhiễm không khí và nƣớc. Trong những năm gần đây, nƣớc ta dần chú trọng vào giá trị của rừng và quan tâm hơn đến quản lý chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng (PFES).
Năm 2008, Quyết định số 380/QĐ‑TTg của Thủ tƣớng Chính phủ đã cho phép thí điểm Chính sách chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng tại tỉnh Sơn La và Lâm Đồng. Năm 2010, Nghị định số 99/2010/NĐ‑CP đã đƣợc ban hành nhằm triển khai Chính sách chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng trên phạm vi toàn quốc từ 1/1/2011. Có thể nói, Việt Nam đã trở thành quốc gia đầu tiên tại châu Á ban hành và triển khai chính sách PFES ở cấp quốc gia. Sau 12 năm tổ chức hoạt động Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng (2008-2020) gắn với 10 năm triển khai thực hiện Nghị định 99 về chính sách chi trả DVMTR và 2 năm triển khai thực hiện Luật Lâm nghiệp số 16/2017/QH14 có hiệu lực ngày 01/01/2019.
Đến nay, toàn quốc đã có 42 Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng từ Trung ƣơng đến địa phƣơng, ký kết đƣợc 613 hợp đồng ủy thác chi trả DVMTR; trong đó, thủy điện 387 hợp đồng, nƣớc sạch 150 hợp đồng, du lịch là 76 hợp đồng. Kết quả đạt đƣợc là Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam đã huy động ủy thác nguồn thu từ dịch vụ môi trƣờng rừng đạt hơn 10.000 tỷ đồng, bình quân trên 1. Đặc biệt, năm 2018, có thể thu đƣợc 2.500 tỷ đồng tiền dịch vụ môi trƣờng rừng. Tiền dịch vụ môi trƣờng rừng hàng năm đã góp phần quản lý bảo vệ hơn 5 triệu ha rừng, chiếm khoảng 42% tổng diện tích rừng toàn quốc; góp phần hỗ trợ cho chủ rừng có kinh phí quản lý, bảo vệ rừng.
Đồng thời, hỗ trợ các Công ty Lâm nghiệp khi dừng khai thác gỗ rừng tự nhiên và hỗ trợ kịp thời cho hơn 410.000 hộ gia đình, cộng đồng với 86% là đồng bào dân tộc có điều kiện nâng cao đời sống, cải thiện sinh kế trong bối cảnh ngân sách nhà nƣớc đang khó khăn [1]. Bên cạnh những thành tựu đạt đƣợc, còn có những thách thức phải đối mặt nhƣ: phá rừng, cháy rừng và suy thoái chất lƣợng rừng…Điển hình ở Lâm Đồng, để đáp ứng vấn đề về đất canh tác nông nghiệp do sự gia tăng dân số và phục vụ nhu cầu đời sống ngày càng cao đã gây ra sự chuyển đổi đất rừng sang các dạng đất khác, bao gồm nông nghiệp, đất chăn thả và đô thị, thủy điện. Tỷ lệ che phủ rừng Lâm Đồng từ 61,5% (Sở TN&MT Lâm Đồng, Báo cáo hiện trạng 1 môi trƣờng năm 2010) chỉ còn 54% năm 2019 theo quyết định số 911/QĐ-BNN- TCLN ngày 19/03/2019 của Bộ NN&PTNT, đây là tình trạng đáng báo động. Vấn đề đặt ra hiện nay là tìm ra giải pháp hỗ trợ chính sách DVMTR đạt hiệu quả tối đa, nhằm tăng thêm thu nhập cho các chủ rừng để phát triển kinh tế - xã hội cũng nhƣ nâng cao chất lƣợng môi trƣờng rừng góp phần phát triển rừng bền vững, giảm thiểu thiên tai do biến đổi khí hậu.
Hệ thống thông tin địa lý GIS (Geographical Information Systems) là công cụ hữu ích cho công tác thu thập, lƣu trữ thông tin, dữ liệu cũng nhƣ biễu diễn các dữ liệu không gian theo thời gian thực (Burrough, 1986). GIS đã tạo ra những công cụ hỗ trợ phân tích nhanh và đánh giá chính xác cho nhiều lĩnh vực ứng dụng. Các chức năng phân tích cho phép xử lý một cách linh động các lớp dữ liệu không gian riêng lẻ, hoặc phân tích mối tƣơng quan giữa các lớp dữ liệu (Bonham-Carter, 1996). Thay đổi độ che phủ rừng có thể liên quan đến các quá trình tự nhiên nhƣ hạn hán, cháy rừng, lũ lụt,.
Viễn thám và kỹ thuật xử lý ảnh vệ tinh cho phép giám sát, lập bản đồ và đánh giá sự biến động rừng theo không gian và thời gian. Xuất phát từ lý do trên, đề tài “Giải pháp GIS và Viễn thám trong đánh giá và đề xuất hỗ trợ chính sách chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng lƣu vực sông Đồng Nai tỉnh Lâm Đồng” đƣợc thực hiện. Nghiên cứu này nhằm cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách những đánh giá và phân tích cụ thể về mặt kỹ thuật, để đề xuất các giải pháp hữu hiệu, thúc đẩy thực thi chính sách, đặc biệt là thúc đẩy việc nghiên cứu, đề xuất khai thác hết các tiềm năng của DVMTR cũng nhƣ tăng tính hiệu quả, hiệu ích và công bằng của PFES góp phần thực hiện thành công Chƣơng trình mục tiêu phát triển Lâm nghiệp bền vững. Mục tiêu nghiên cứu Hệ thống hóa cơ sở khoa học trong ứng dụng GIS và Ảnh viễn thám trong xây dựng bản đồ phân loại rừng và phân tích biến động theo thời gian.
Hệ thống hoá đƣợc cơ sở lý luận và thực tiễn về cơ sở thực hiện chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng PFES nhằm quản lý rừng bền vững. * Mục tiêu cụ thể: Hệ thống hóa giải pháp thành lập bản đồ hiện trạng rừng và phân loại rừng bằng công nghệ tích hợp GIS và Viễn thám. Xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ đánh giá mức độ biến động rừng theo thời gian. Đánh giá biến động rừng lƣu vực sông Đồng Nai - địa bàn tỉnh Lâm Đồng.
Đánh giá đƣợc thực trạng về công tác thực hiện chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng, tình hình quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. 2 Đề xuất giải pháp nâng cao chất lƣợng thực thi của chính sách nhằm góp phần bảo vệ môi trƣờng, quản lý rừng bền vững, cải thiện sinh kế cộng đồng tại tỉnh Lâm Đồng. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu: Rừng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng Phạm vi nghiên cứu: giới hạn trong phạm vi là diện tích rừng thuộc lƣu vực thƣợng nguồn sông Đồng Nai, tỉnh Lâm Đồng. Nội dung nghiên cứu (1) Điều tra, thu thập các bản đồ (địa hình, thủy văn, giao thông, bản đồ hiện trạng rừng, bản đồ quy hoạch 3 loại rừng, bản đồ giao đất, giao rừng.) các tài liệu liên quan đến dân cƣ, xây dựng, quy hoạch, số liệu khí tƣợng thủy văn, loại rừng, đánh giá tổng quan về lƣu vực sông.
(2) Xây dựng bản đồ hiện trạng và phân loại rừng dựa trên ảnh viễn thám Landsat. (3) Sử dụng GIS trong phân tích, đánh giá mức độ biến động hiện trạng và phân loại rừng. (4) Nghiên cứu và đánh giá kết quả chính sách chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng tỉnh Lâm Đồng. (5) Đề xuất các giải pháp để định hƣớng bảo vệ và phát triển rừng lƣu vực sông Đồng Nai trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng theo hƣớng phát triển rừng bền vững.
Ý nghĩa thực tiễn và ý nghĩa khoa học của luận văn Ý nghĩa khoa học của luận văn Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần hệ thống hóa cơ sở khoa học trong việc ứng dụng công nghệ GIS và viễn thám giám sát biến động lớp phủ rừng và xác định hệ số phù hợp phục vụ hiệu quả dịch vụ chi trả môi trƣờng rừng, góp phần phát triển rừng bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn Góp phần tạo giải pháp quản lý rừng thuộc lƣu vực thƣợng nguồn sông Đồng Nai hiệu quả dựa trên công nghệ GIS và viễn thám. Tạo công cụ đánh giá mức độ xâm hại của con ngƣời đối với rừng đầu nguồn, nhằm cung cấp thông tin cần thiết để bảo vệ rừng địa bàn tỉnh Lâm Đồng. Góp phần đánh giá và phân tích cụ thể về mặt kỹ thuật, cũng nhƣ đề xuất các giải pháp hữu hiệu, thúc đẩy thực thi chính sách DVMTR công bằng.
Kết quả nghiên cứu này sẽ góp phần làm tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo, nhằm khai thác hết các tiềm năng của DVMTR cũng nhƣ tăng tính hiệu quả, góp phần thực hiện thành công DVMTR để bảo vệ và phát triển rừng bền vững.1 Tổng quan về chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng Chi trả dịch vụ hệ sinh thái (Payment for Ecosystem Services - PES) hay còn đƣợc gọi là chi trả cho dịch vụ môi trƣờng (Payment for Environmental Services) đƣợc xem là cơ chế nhằm thúc đẩy việc tạo ra và sử dụng các dịch vụ sinh thái bằng cách kết nối ngƣời cung cấp dịch vụ và ngƣời sử dụng dịch vụ hệ sinh thái. Trong quyết định 380/QĐ-TTg của Thủ tƣớng Chính phủ có quy định chi tiết hơn về khái niệm chi trả dịch vụ môi trƣờng đƣợc áp dụng cho hoạt động trồng rừng. Theo đó, chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng là quan hệ kinh tế giữa ngƣời sử dụng các dịch vụ môi trƣờng rừng trả tiền cho ngƣời cung ứng dịch vụ môi trƣờng rừng. “Chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng” (PFES) là quan hệ tài chính tƣơng đối mới trên thế giới, bắt nguồn từ quan điểm chính sách về “dịch vụ môi trƣờng”.
Theo quan điểm này, các hệ sinh thái, trong đó có hệ sinh thái rừng, có vai trò cung cấp các dịch vụ có tác dụng không chỉ đảm bảo sự trong lành về môi trƣờng mà còn đảm bảo sản xuất và sức khỏe của con ngƣời, thông qua các tác động tích cực và đa dạng nhƣ bảo vệ nguồn nƣớc, phòng hộ đầu nguồn, điều hòa khí hậu, phòng chống dịch bệnh, tạo điều kiện phát triển du lịch, văn hóa và cải tạo đất…Ngày nay, trong khi nhu cầu về các dịch vụ này tăng, thì khả năng để cung cấp các dịch vụ đó của các hệ sinh thái ngày càng đứng trƣớc nguy cơ bị suy giảm vì môi trƣờng rừng đang dần bị suy thoái và ô nhiễm quá mức. Một trong những nguyên nhân chính dẫn tới điều đó là tăng nhu cầu phát triển kinh tế, sự gia tăng dân số, sự thiếu hiểu biết về chu kỳ và chức năng của các hệ sinh thái và cả sự thiếu trách nhiệm của một số doanh nghiệp và cá nhân khi chỉ nghĩ tới việc tối đa hóa lợi nhuận trƣớc mắt mà quên đi lợi ích lâu dài về bảo vệ môi trƣờng.