Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1. Một số khái niệm và thuật ngữ cơ bản dùng trong luận án Đàng Trong Vùng đất do các chúa Nguyễn cai trị được gọi với nhiều tên gọi khác nhau. Người Phương Tây khi qua lại truyền đạo buôn bán với vùng đất này thường gọi với nhiều tên như: Cochinchine, Cochinchina, Cauchy China, Quảng Nam quốc, An Nam Quốc, Cảng Khẩu quốc,. để chỉ vùng đất này.
Chúa Nguyễn trong các văn bản ngoại giao thương xưng là Quốc vương An Nam hoặc lấy tước hiệu của vua Lê phong (Đô nguyên soái, Quốc công). Các sử gia thường dùng thuật ngữ Đàng Trong để chỉ vùng đất thuộc quản lí của các chúa Nguyễn nhằm phân biệt với vùng đất Đàng Ngoài do vua Lê – chúa Trịnh cai quản trong giai đoạn từ khi bắt đầu cuộc chiến Trịnh – Nguyễn diễn ra, vùng đất của các chúa Nguyễn quản lý trở thành một thực thể độc lập, đến khi chính quyền của các chúa Nguyễn chạy khỏi kinh đo Phú Xuân (1627 - 1775). Thực tế từ năm 1558, họ Nguyễn đã vào đất Thuận – Quảng dựng nghiệp. Mặt khác, mặc dù sau năm 1775 họ Nguyễn bị đánh khỏi kinh đô Phú Xuân, Nguyễn Phúc Thuần (Định Vương) phải chạy vào Gia Định và chưa bị sụp đổ hoàn toàn.
Đến năm 1776, Nguyễn Phúc Thuần nhường ngôi cho hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương (Tân Chính Vương) thì chính quyền Đàng Trong vẫn còn tồn tại. Sau khi Nguyễn Phúc Thuần và Nguyễn Phúc Dương đều bị quân Tây Sơn bắt giết (1777), Nguyễn Phúc Ánh tiếp tục duy trì sự nghiệp, dùng ấn “Đại Việt quốc Nguyễn chúa Vĩnh trấn chi bảo” để hiệu triệu lực lượng kháng cự lại Tây Sơn. Cuối thế kỉ XVIII, Nguyễn Phúc Ánh từ vùng Nam Bộ ngày nay từng bước củng cố lực lượng, tiến ra Bắc lật đổ triều đại Cảnh Thịnh và lập nên vương triều Nguyễn vào năm 1802. Vua Gia Long đã kế thừa và tiếp nối chính sách tôn giáo của các chúa Nguyễn trước đó.
Vì vậy, trong luận án này tác giả dùng thuật ngữ “Đàng Trong” với chủ ý nhằm nhấn mạnh phạm vi thời gian chủ yếu ở giai đoạn lịch sử từ khi họ Nguyễn tách khỏi chính quyền Lê – Trịnh, thống trị vùng đất từ sông Gianh trở vào phía nam cho đến khi chính quyền của họ Nguyễn chạy khỏi kinh đô Phú Xuân. Luan van 8 Tôn giáo Cho đến nay có nhiều cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau về tôn giáo, phụ thuộc vào quan niệm của từng quốc gia, từng vùng, từng cộng đồng người cụ thể về các hoạt động tôn giáo. Theo nghĩa hẹp, nhiều người thường hiểu tôn giáo là sự sùng bái của con người với các đấng thần linh, là hệ thống niềm tin với thánh thần, Chúa (God) và những lời răn dạy của các đấng linh thiêng. Dựa trên thế giới quan duy vật biện chứng, trong bài Góp phần phê phán triết học của Hê-ghen, C.
Ăng-ghen (2004) nhấn mạnh về nguồn gốc và bản chất của tôn giáo như sau: Con người làm ra tôn giáo chứ tôn giáo không làm ra con người. Cụ thể là: tôn giáo là sự tự ý thức và tự cảm giác của con người chưa tìm thấy bản thân mình hoặc đã lại đánh mất mình một lần nữa. Nhưng con người không phải là một sinh vật trừu tượng, ẩn náu đâu đó ở ngoài thế giới. Con người chính là thế giới con người, là nhà nước, là xã hội.
Nhà nước ấy, xã hội ấy sản sinh ra tôn giáo, từ thế giới quan lộn ngược vì bản thân chúng là thế giới quan lộn ngược. Tôn giáo là lý luận của thế giới ấy, cương yếu bách khoa của nó, là logic dưới hình thức phổ cập của nó, là point d’honneur duy linh luận của nó, là nhiệt tình của nó, là chuẩn y về mặt đạo đức của nó, là bổ sung trang nghiêm của nó, là căn cứ phổ biến mà nó dựa vào để an ủi và biện hộ. Tôn giáo biến bản chất con người thành tính hiện thực ảo tưởng, vì bản chất con người không có tính hiện thực thật sự. Do đó, đấu tranh chống tôn giáo là gián tiếp đấu tranh chống thế giới mà lạc thú tinh thần của nó là tôn giáo.
Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy. Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân (tr. Ở Việt Nam nhiều người thường dùng chữ “đạo” để chỉ một tôn giáo hoặc một tập đoàn người có cùng một tín ngưỡng, tôn giáo.
Theo Lê Thanh Bình – Đỗ Thanh Hải (2012), “tôn giáo là một hệ thống những niềm tin, nghi lễ và biểu tượng dẫn dắt lời nói, suy nghĩ và hành động của những cá nhân chấp nhận giáo lý của tôn giáo” (tr. Luan van 9 Pháp lệnh Tín ngưỡng tôn giáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XI nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành năm 2004 công nhận một tổ chức tôn giáo khi có đủ 5 điều kiện sau: a) Là tổ chức của những người có cùng tín ngưỡng, có giáo lý, giáo luật, lễ nghi không trái với thuần phong, mỹ tục, lợi ích của dân tộc; b) Có hiến chương, điều lệ thể hiện tôn chỉ, mục đích, đường hướng hành đạo gắn bó với dân tộc và không trái với quy định của pháp luật; c) Có đăng ký hoạt động tôn giáo và hoạt động tôn giáo ổn định; d) Có trụ sở, tổ chức và người đại diện hợp pháp; đ) Có tên gọi không trùng với tên gọi của tổ chức tôn giáo đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận. Luật tín ngưỡng, tôn giáo được Quốc hội khóa XIV thông qua ngày 18/11/2016 định nghĩa: “Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức” (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2017). Theo một số quan điểm và định nghĩa nêu trên, khi được coi là một tôn giáo ít nhất nó phải hội tụ 3 yếu tố cơ bản: Thứ nhất, có ý thức tôn giáo (gồm tâm lý, tình cảm, niềm tin và hệ tư tưởng tôn giáo).
Đây là yếu tố quan trọng nhất của một tôn giáo; Thứ hai, có giáo thuyết (tức hệ thống giáo lý, giáo luật, nghi lễ,…); Thứ ba, có tổ chức giáo hội, tăng đoàn và những người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp. Trong luận án này, tác giả sử dụng khái niệm Tôn giáo theo Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 để làm phương tiện và công cụ nghiên cứu về các chính sách tôn giáo của chính quyền các chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Chính sách tôn giáo Chính sách tôn giáo bao gồm những quy chế, quy phạm pháp luật, quan điểm, chủ trương, đường lối tôn giáo của tổ chức nhà nước, của những người đứng đầu nhà nước đề ra trong việc quản lý và điều hành quốc gia. Khái niệm “Chính sách tôn giáo” trong luận án này được dùng để chỉ những quy định của nhà nước đối với Luan van 10 tôn giáo nhằm điều chỉnh, hướng dẫn các hành vi, hoạt động tôn giáo của tổ chức hoặc cá nhân diễn ra theo quy định của chính quyền nhà nước.
Chính sách tôn giáo của các chúa Nguyễn là những quan điểm, chủ trương, đường lối, quy định về tôn giáo của từng vị chúa trên cương vị nắm quyền của mình nhằm điều chỉnh, hướng dẫn các hành vi, hoạt động tôn giáo của tổ chức hoặc cá nhân diễn ra theo quy định của phủ chúa Nguyễn. Chính sách tôn giáo của chính quyền Đàng Trong được thể hiện chủ yếu thông qua các chiếu, chỉ, lệnh, sắc,… do các chúa Nguyễn ban hành và thực thi, biểu hiện thái độ ứng xử của các chúa Nguyễn đối với các tôn giáo. Ba-la-mon giáo Ba-la-mon giáo được hình thành ở Ấn Độ thời cổ đại. Ba-la-mon là từ phiên âm theo tiếng Phạn của thuật ngữ Brahma.
Ba-la-mon giáo được hình thành trên cơ sở của Veda giáo. Kinh điển của Ba-la-mon giáo chủ yếu được thể hiện trong các bộ kinh Veda (gồm Rig Veda, Yajur Veda, Atharva Veda), Brahmanas (kinh Ba-la- mon), Upannishad,. Đạo Ba-la-mon thờ 3 vị thần tối thượng: Brahma là thần sáng tạo, được gọi là Đấng Tối Cao, linh hồn của vũ trụ; Vishnu là thần bảo tồn; Shiva là thần hủy diệt, tranh đấu. Bên cạnh đó, Ba-la-mon giáo còn thờ các vị thần khác như thần Sấm (Indra), thần Mặt Trời (Surya), thần Mặt Trăng (Mosa), thần Lửa (Agni), thần Gió (Vayu), thần Không Trung (Varuna),… Theo lịch sử phát triển, Ba-la-mon giáo phân thành nhiều chi phái, trong đó có những phái lớn như Vishnu giáo, Shiva giáo, Vedanta giáo, Yoga giáo.
Ở Việt Nam, người Champa tiếp thu chủ yếu là Shiva giáo. Đạo giáo Đạo giáo còn được gọi là Lão giáo, Đạo Lão, Đạo Hoàng Lão hay Đạo Lão Trang, ra đời từ thời cổ đại ở Trung Quốc. Hiểu theo chiết tự, chữ Đạo là một danh từ triết học nguyên nghĩa là “con đường”. Nhưng khi ở trong Đạo giáo nó được mang nghĩa là “phương tiện”, “nguyên lí”.
Nếu Đạo là bản chất của vũ trụ thì Đức là sự cấu tạo và tồn tại của vũ trụ. Đạo giáo là tôn giáo thờ “Đạo” và tôn Lão Tử làm giáo chủ, coi ông là hóa thân của “Đạo”. Đạo giáo là tôn giáo đa thần, thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế, kế đến Luan van 11 là Thái Thượng Lão Quân và một hệ thống thần tiên nhiều ít tùy theo quy định của từng hệ phái khác nhau. Mục đích chủ yếu của tôn giáo giáo này hướng tới “vô vi”, tìm cách để trường sinh, diệt tà ma.
Kinh sách của Đạo giáo cơ bản gồm Đạo Đức kinh của Lão Tử và Nam Hoa kinh của Trang Tử. Đạo giáo có hệ thống Đạo pháp chỉ tất cả các pháp thuật, thường khái quát thành 3 lĩnh vực gồm các phương thuật luyện dưỡng, tịch cốc, thủ quyết để đạt đến trường sinh bất tử, thành tiên; các phương thuật trừ tà ma, phù chú chữa bệnh; các phương thuật chiêm nghiệm dự trắc như tướng địa, tướng trạch,. Nơi hành lễ của Lão giáo gọi là Thiên đình đạo giáo hoặc Đạo quán. Trong hệ thống tổ chức có các chức danh như nguyên sĩ, cao sĩ, cư sĩ, ẩn sĩ,.
Người theo Đạo giáo thường tự xưng là đạo sĩ, cư sĩ, chân nhân, đạo nhân. Những tín đồ Đạo giáo thường dùng danh xưng Thiên Tôn để biểu thị sự uy linh tối thượng.