Chương 1. NHÂN VẬT LỊCH SỬ NGUYỄN THỊ BÍCH CHÂU VÀ BẢN KÊ MINH THẬP SÁCH QUA NGUỒN TƯ LIỆU LỊCH SỬ - VĂN HÓA 1. Nhân vật lịch sử Dân tộc ta có lịch sử lâu đời, chứa đựng nhiều sự kiện ý nghĩa. Và cũng có nhiều nhân vật lịch sử có tầm ảnh hưởng lớn đến những bước thăng trầm trong lịch sử dân tộc.
Khi nghiên cứu lịch sử không chỉ nghiên cứu các sự kiện mà còn cần tìm hiểu những nhân vật lịch sử. Nhân vật lịch sử là những con người có ảnh hưởng đến một giai đoạn trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc, trong đó có những người đóng góp, xây dựng đất nước nhưng cũng có những người phá hoại, gây rối. Có những người được người đời sau ghi công, quý mến nhưng cũng có người bị người đời sau lên án, nêu tên như một hình tượng xấu xa. Theo tác giả luận văn, nhân vật lịch sử là những người có đóng góp cho những gì đã xảy ra trong quá khứ và đạt được những thành tựu có ý nghĩa trong lịch sử.
Một người được coi là nhân vật lịch sử phải là người có đóng góp tích cực trong lịch sử dân tộc, có những thành tựu đem lại lợi ích cho nhân dân và được lịch sử ghi nhận. Có thể được thể hiện bằng những câu chuyện truyền thuyết, lời kể dân gian, qua ca dao, hò vè. Nhưng không phải nhân vật có ảnh hưởng xấu, gây tổn hại đến dân tộc và nhân dân. Trong bài này, nhân vật Nguyễn Thị Bích Châu là một con người như vậy.
Nhân vật lịch sử thường được nghiên cứu về gốc tích, bối cảnh xã hội và những việc làm của nhân vật. Tư liệu lịch sử - văn hóa Theo Phan Ngọc Liên trong cuốn “Phương pháp luận sử học”, “tư liệu lịch sử là những di tích của quá khứ, xuất hiện như sản phẩm của quan hệ xã hội nhất định, mang trong mình nó những dấu vết của quan hệ ấy, phản ánh Luan van 7 trực tiếp và trừu tượng hóa một mặt hoạt động nào đấy của con người” (Phan Ngọc Liên, 2009). Như vậy, tư liệu lịch sử có tầm quan trọng đặc biệt với khoa học Lịch sử nói chung và đối với các công trình nghiên cứu lịch sử nói riêng. Không có tư liệu lịch sử thì không có khoa học Lịch sử.
Bất cứ một vấn đề nào đó mà khoa học Lịch sử đặt ra, có được giải quyết hay không phụ thuộc hoàn toàn vào một điều kiện tiên quyết là có tư liệu lịch sử của vấn đề ấy hay không. Tư liệu lịch sử không thể thiếu được với khoa học Lịch sử song nó hoàn toàn “bị động”. Nó được xem như “thứ nguyên liệu” để chế ra các sản phẩm khác trong nghiên cứu sử học. Tư liệu lịch sử là những sản phẩm của hoạt động của con người; nó xuất hiện như một hiện tượng xã hội, nhằm phục vụ cho một mục đích, nhu cầu nào đó của xã hội đương thời và tồn tại như những di tích, dấu vết của hoàn cảnh lịch sử cụ thể đã qua.
Trong tư liệu lịch sử có loại hình lịch sử văn hóa. Tư liệu lịch sử văn hóa là loại tư liệu bao gồm các loại hình văn bản hoặc thông tin có sự liên hệ giữa văn hóa và lịch sử (chuyện kể dân gian, thơ ca, hò vè, thần phả, thần tích, kí ức nhân dân, những sự tích được truyền khẩu qua các đời, được ghi chép, sưu tập,.) và thường mang tính chất địa phương, có nội dung phổ biến về các nhân vật lịch sử, các sự kiện lịch sử. Trong nguồn tư liệu lịch sử văn hóa, nguồn sử liệu truyền miệng dân gian là nguồn sử liệu có nhiều nhược điểm, nhất là sự thiếu chính xác cả về không gian, thời gian và những sự kiện được phản ánh trong đó. Tuy nhiên, nó lại chứa đựng những hạt nhân hợp lý mà người nghiên cứu có thể tìm thấy được nhiều sự kiện lịch sử có giá trị nếu biết “gạn đục, khơi trong”.
Đồng thời có thể tìm thấy những cốt lõi lịch sử chứa đựng trong những câu chuyện truyền miệng dân gian. Đây chính là hạt nhân hợp lý của sử liệu truyền miệng. Luan van 8 Thần phả và Thần tích là những tư liệu ghi lại sự tích, lịch sử, hành trạng các nhân vật lịch sử địa phương, vùng miền với những giai thoại, chuyện kể, lời đồn có liên quan đến họ qua những hình ảnh, hành vi đã được mọi người truyền tụng mang tính cách siêu nhiên, thần bí, tô điểm cho sự siêu phàm của nhân vật được nhắc tới. Thần phả được coi là truyền thuyết dân gian về các thần và Thành hoàng được thờ ở đình (nơi hội họp ở nông thôn), miếu, từ (nơi thờ cúng tổ tiên của dòng họ).
Trong đó không chỉ viết về thần của một làng mà còn viết nhiều về thần và các vị anh hùng có công với đất nước của cả một huyện. Khi nghiên cứu về nhân vật lịch sử Nguyễn Thị Bích Châu, người viết chủ yếu sử dụng nguồn tài liệu lịch sử - văn hóa, những câu chuyện thần thoại, ký ức dân gian, thần phả, thần tích tại đền thờ. Nhân vật lịch sử Nguyễn Thị Bích Châu qua tư liệu lịch sử - văn hóa 1. Quê hương, gia đình Theo nhiều tài liệu lịch sử văn hóa như “Truyền kỳ Tân phả”, “Anh thư nước Việt”, “Chế thắng phu nhân Nguyễn Thị Bích Châu và đền thiêng hải khẩu”, “Hải khẩu linh từ thần tích và lễ hội”,.
về quê hương và gia đình Nguyễn Thị Bích Châu có những chi tiết như sau: Nguyễn Thị Bích Châu là cung phi của vua Trần Duệ Tông, không rõ năm sinh, mất ngày 11 tháng 2 năm Đinh Tỵ (1377), quê ở xã Bảo Lộc, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Bà là con gái của đại thần Nguyễn tướng công, một ông quan rất mực thanh liêm thời Trần. Nguyễn tướng công là người khá thành danh trong sự nghiệp tuy nhiên đường con cái lại hiếm muộn. Năm 40 tuổi phu nhân của ông sinh được con gái đầu lòng, hai vợ chồng vui mừng xem như ngọc và đặt tên là Bích Châu.
Bích Châu sinh ra trong một gia đình có học nên được dạy dỗ săn sóc chu đáo. Bà giỏi về văn chương, âm nhạc và cung kiếm vì thế sớm trở thành người con gái vừa có hiểu biết văn chương vừa có tài về võ. “Bích Châu từ nhỏ đã bộc lộ tài năng thiên bẩm về thơ ca thi Luan van 9 họa. Đến tuổi cập kê, bà đã là bậc quốc sắc thiên hương, cộng thêm tài trí thông minh sắc sảo khó ai sánh bằng.
Tiếng lành đồn xa, Bích Châu trở thành một trong những giai nhân nổi tiếng nhất thời bấy giờ”. Không những giỏi giang mà Bích Châu còn là một thiếu nữ xinh đẹp. Năm 1373 bà được vua Trần Duệ Tông tuyển làm cung phi. Sách “Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam có đoạn viết Nguyễn Thị Bích Châu “Ái phi của Trần Duệ Tông có tiếng thơ văn, tài sắc, đức hạnh vẹn toàn” (Nguyễn Q Thắng và Nguyễn Bá Thế, 1997).
Vị trí của Nguyễn Thị Bích Châu trong triều Trần - Thời vua Trần Duệ Tông Sau một thời kì phát triển hưng thịnh, nhà Trần bước vào thời kì suy yếu. Đến thời vua Trần Duệ Tông trị vì, tình hình Trong bối cảnh đó, Nguyễn Thị Bích Châu đã có nhiều đóng góp quan trọng với mong muốn phục hưng triều đại này. Nhận định “Bậc Mẫu nghi đời Trần, vợ vua Trần Duệ Tông” (Phương Lan, 1968) đã cho thấy vị thế của Nguyễn Thị Bích Châu trong triều đại nhà Trần. Nhờ sự tài trí nên bà rất được vua sủng ái.
Tuy vậy, Bích Châu không hề cậy thế được vua quan tâm mà kiêu ngạo, bà luôn từ tốn và đối xử hòa nhã với mọi cung phi. Việc làm đáng ghi nhận của Nguyễn Thị Bích Châu là ngăn cản vua Trần Duệ Tông tiến đánh Chăm Pa. Khi biết được vua Duệ Tông quyết định thân chinh đi đánh Chăm Pa, mặc cho mọi lời khuyên ngăn của các đại thần. Bích Châu biết được ý định của vua bèn làm bài biểu văn nhờ người dâng lên vua: Thiếp trộm nghĩ rợ Hiểm Doãn1 ngang tàng quá lắm, từ trước quen thân; rợ Hung Nô2 kiệt hiệt gớm ghê, đến nay càng tệ.
Vì cướp bóc là thói 1 Một bộ tộc ở phía Bắc Trung Hoa xưa, ở rải rác các vùng Cam Túc, Thiểm Tây, Sơn Tây ngày nay. Luan van 10 thường của man di mà dùng binh không phải bản tâm của vương giả. Chiêm Thành nhỏ bé kia, ở chếch nơi hải đảo. Năm xưa kéo quân vào Nhị thủy bởi thấy nước ta bất hòa; khi ấy tiếng trống động ngoài biên, chỉ vì lòng dân chưa định.
Cho nên chúng dám tung đàn ruồi nhặng để múa cỏ mà không biết chỉ là bọ ngựa giương càng chắn xe. Nhưng thánh nhân rộng lượng bao dung; không thèm cùng với chó dê so sánh. Vả đạo trị bình phải trước gốc sau ngọn, xin nghỉ binh cho dân chúng yên nhàn. Lý sáng tỏ thì mềm có thể trị được rắn; chọn lời lấy đức thì có thể phục được người xa.
Ngu bệ múa can vũ, bẫy tuần tức khắc Miêu đến chầu3; Hạ cung gảy sắt cầm, chẵn tháng tự nhiên Hồ quy phục4. Đó thật là thượng sách, nguyện xin bệ hạ xét đoán cho minh (Nguyễn Khắc Mai và Trần Thị Băng Thanh, 2015). Tờ biểu cho thấy, Bích Châu rất khôn khéo trong việc can ngăn vua không nên dùng binh đao lúc này mà nên nghỉ binh để dân chúng được yên nhàn. Sở dĩ bà mong muốn như vậy là do dưới thời vua Trần Duệ Tông, nước ta đang rơi vào khủng hoảng, nhiều kẻ quyền thần lộng hành nên lòng dân không còn hướng về vua.
Trong hoàn cảnh đó, vua lại đem binh đao để đọ sức với Chiêm Thành thì quả thực không ổn. Đây không đơn giản chỉ là lời khuyên răn bình thường của một người vợ đối với chồng vì sợ chồng gặp chuyện chẳng hay khi ra chiến trận mà là tầm nhìn của một người phụ nữ am hiểu tình hình, biết cách giải quyết thế sự hợp lý. Tuy nhiên, do vua Trần Duệ Tông luôn giữ ý định chủ chiến trong đầu nên tờ biểu dâng lên vua không trả lời và hạ lệnh duyệt binh. Trong cuốn “Từ 2 Một bộ tộc ở phía Bắc Trung Hoa thời Tần Hán làm chủ vùng Nội – Ngoại Mông bây giờ.
3 Theo sách cổ, vua Thuấn (nhà Ngu) trị thiên hạ bằng văn đức, Hữu Miêu không theo, vua Thuấn múa nhạc 70 ngày dưới thềm, người Miêu tâm phục liền đến chầu. Hữu Miêu hay Tam Miêu ở vùng Tứ Xuyên, Vân Nam, Tây Tạng, Quý Châu, Quảng Tây ngày nay. 4 Vua Vũ nhà Hạ cũng dùng văn đức mà cảm hóa người xa, người Hồ do đó quy phục.