đặt vấn đề nghiên cứu trong phạm vi địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1954). Vì vậy, phạm vi nghiên cứu bao gồm địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay và hai huyện Sóc Sơn, Đông Anh thuộc thành phố Hà Nội. Vĩnh Phúc là một tỉnh trung du ở Bắc Bộ nằm bên tả ngạn sông Hồng, là cửa ngõ nối liền các tỉnh đồng bằng Bắc bộ với Việt Bắc. Phía bắc giáp Thái Nguyên, Tuyên Quang.
Phía đông giáp Bắc Ninh, Bắc Giang. Phía Nam giáp Sơn Tây, Hà Đông (nay thuộc Hà Tây), Hà Nội. Phía tây giáp Phú Thọ. Tổng diện tích của Vĩnh Phúc khi sáp nhập hai tỉnh Vĩnh Yên, Phúc Yên (2/1950) là 1.
Phía bắc của Vĩnh Phúc là một vùng rừng núi từ tây bắc Đa Phúc qua bắc Kim Anh, Bình Xuyên, Tam Dương tới tây bắc huyện Lập Thạch, hình thành một tam giác lệch. Đặc biệt phía đông bắc có dãy núi Tam Đảo chạy từ tây bắc Đa Phúc lên đông bắc Lập Thạch dài 32 km, như bức thành ngăn Vĩnh Phúc với Tuyên Quang, Thái Nguyên. Trong kháng chiến, ở đây là vùng căn cứ địa của Vĩnh Phúc, nơi tập trung cơ quan chỉ đạo, kho tàng, công xưởng, đồng thời cũng là nơi cho bộ đội tập kết, huấn luyện, làm công tác chuẩn bị rất tốt. z 11 Sau lưng rừng núi là một dãy đồi núi cao thấp xen lẫn với làng mạc thành một dải nằm giữa tỉnh chạy từ đông sang tây dài chừng 42 km, rộng chừng 10 km, diện tích chung chừng 452 km2 ngăn cách vùng rừng núi phía bắc với vùng đồng bằng phía nam.
Đặc điểm của nó hầu hết là đồi núi trọc, ở giữa có các đỉnh núi cao, phía nam thấp dần thành một dộ thoai thoải, đất pha lẫn đá sỏi, cấu trúc công sự hoặc nguỵ trang khó khăn. Trên các mỏm đồi cao đều có một tầm kiểm soát được xa và rộng, có nhiều điều kiện tốt phát huy được hiệu lực của vũ khí kỹ thuật. Vì vậy trong kháng chiến, địch đã chiếm dải đồi trọc này thiết lập thành tuyến phòng ngự vững chắc ngăn cách vùng tự do với vùng địch hậu [89, 8]. Trên địa bàn tỉnh có 2 đường quốc lộ chạy qua.
Quốc lộ 2 (Hà Nội - Hà Giang) chạy qua Vĩnh Phúc hơn 50 km. Đường này chạy song song với đường sắt Hà Nội - Lào Cai qua Vĩnh Phúc dài hơn 40 km. Quốc lộ số 3 (Hà Nội đi Cao Bằng) qua Vĩnh Phúc dài 16 km. Đường này chạy song song với đường sắt Hà Nội - Thái Nguyên qua Vĩnh Phúc dài 16 km.
Ngoài ra còn có các tỉnh lộ như: đường 12, 129,23, 40, 35, 131,.[12, 23] Phí nam và tây nam còn có hai con sông lớn là sông Hồng (trên địa phận tỉnh dài 57 km), sông Lô (dài 37 km), một phần sông Đuống bao bọc. Ngoài ra còn có các sông nhỏ như sông Cầu (dài 24 km), sông Phó Đáy (dài 38 km), sông Cà Lồ (dài 28 km). Riêng sông Hồng và sông Lô, các mùa đều có thể lưu thông rất thuận tiện. Còn các sông khác, chỉ có thể vận chuyển vào mùa nước, nhưng khúc khuỷu, nước chảy xiết, mùa khô có chỗ lại cạn, thuyền bè không qua lại được.
Riêng sông Đáy, từ Tuyên Quang chảy qua huyện Lập Thạch, bắc huyện Vĩnh Tường, ra Việt trì, cắt đôi huyện Tam Dương, Vĩnh Tường, Lập Thạch. Do vậy cũng tạo thêm cho xăn cứ huyện Lập Thạch có thế vững chắc. Sông Cà Lồ từ cống Lồ (Yên Lạc) chạy qua tây Yên Lãng, nam Kim Anh ra sông Cầu, cho nên đã chia cắt địa hình giữa nam Bình Xuyên với tây Yên Lãng; z 12 giữa nam Kim Anh với tây Đông Anh. Mùa nước, gây nên khó khăn trong khi vận động tác chiến.
Ngoài ra, còn có nhiều đầm lạch rải rác trên địa bàn tỉnh, đặc biệt là ở phía nam. Có đầm lạch rất rộng và sâu như: đầm Đồng Mật rộng 536 mẫu, đầm Vạc rộng 437 mẫu. Chạy dọc theo sông Hồng là một con đê lớn dài 63 km ôm lấy toàn bộ địa hình phía nam trong tỉnh. Trong kháng chiến, địch đã lợi dụng chiếm con đê này tổ chức thành tuyến chiếm đóng.
Ven sông Hồng còn có bãi sậy tự nhiên phía đông nam huyện Yên Lãng dài 13 km, rộng 2 km. Đây là địa hình thuận lợi để cho ta trú quân và làm căn cứ trong địch hậu. Về đặc điểm dân cư, do địa hình chia thành 2 miền của một tỉnh trung du, nên hình thái làng mạc mỗi miền cũng có những đặc điểm khác nhau: Vùng đồng bằng, làng mạc đông đúc, hình thành từng tuyến, từng khu vực, tập trung nhiều trên dọc sông, dọc đường giao thông và xung quanh các khu đầu mối giao thông. Làng ở ven sông Hồng thường dài, bờ tre xung quanh làng xen lẫn nhiều soan, chuối bao bọc.
Trong làng ít tường ngăn cách, có nhiều cây cối kín đáo, hầu hết là nhà lá vách đất. Xung quanh là cánh đồng ruộng đất bãi pha cát phù sa, mùa trồng màu có nhiều bãi ngô, mía kín đáo thuận tiện cho hoạt động du kích chiến tranh. Nhưng mùa nước, đất lở, nhiều cánh đồng bị ngập nước, đi lại khó khăn. Làng mạc trong đồng đến quốc lộ 2, 3, hình thái dài - rộng cân đối, xung quanh làng có bờ luỹ đắp đất và hào từng đoạn kiên cố.
Trong làng có nhiều tường ngăn cách, chia thành nhiều ngõ nhỏ, ngoài làng thường là những cánh đồng bằng phẳng, thuận lợi cho hoạt động du kích chiến tranh. z 13 Vùng rừng núi, làng mạc thường ở rải rác ven đồi, ven rừng, đại bộ phận là làng nhỏ, ở phân tán. Cũng có những nơi tương đối tập trung như ven sông Lô, sông Đáy và một số khu vực tiếp giáp với đồng bằng.[89, 9,10] Như vậy, xét toàn bộ vị trí địa lý trên đây, chúng ta thấy được Vĩnh Phúc giữ một vị trí chiến lược quan trọng, là cầu nối giữa đồng bằng Bắc bộ với căn cứ địa Việt Bắc. Vì vậy, trong kháng chiến, Vĩnh Phúc là địa bàn giành giật rất quyết liệt giữa ta và địch, là nơi phải đương đầu với nhiều trận càn quét ác liệt của thực dân Pháp nhằm củng cố và mở rộng vùng chiếm đóng.
Dân số của Vĩnh Phúc tính đến 1950 khoảng 47 vạn người, bao gồm 14 dân tộc anh em, đông nhất là người Kinh (chiếm 98,4%). Đồng bào các dân tộc thiểu số sống rải rác ở 17 xã dọc dãy Tam Đảo, Sáng Sơn của 5 huyện Tam Dương, Bình Xuyên, Lập Thạch, Kim Anh và Đa Phúc. Đại bộ phận nhân dân theo đạo Phật, có gần 2 vạn người theo đạo Thiên Chúa sống rải rác ở 72 xã, 2 thị xã, trong đó có 26 thôn công giáo toàn tòng [12, 19]. Nhân dân Vĩnh Phúc chủ yếu sống bằng nghề làm ruộng.
Ngay từ thời đế quốc Pháp cai trị, toàn tỉnh không có một cơ sở công nghiệp nào. Ngoài khu nhà máy hoả xa Đông Anh với vài trăm công nhân chuyên sửa chữa các bộ phận của đầu máy xe lửa, nhưng không trực thuộc vào tỉnh Phúc Yên lúc đó mà là một bộ phận của nhà máy hoả xa Gia Lâm. Thủ công nghiệp cũng có một số cơ sở nhưng không tập trung vào một khu vực nào mà rải rác ở một số huyện như: ép dầu ở Yên Lạc; 7 xưởng làm giấy ở Vĩnh Tường, Lập Thạch; một số lò kéo mật làm đường ở Yên Lạc, Bình Xuyên, Vĩnh Tường; đúc lưỡi cày, cang chĩnh, nồi đất ở Bình Xuyên, Tam Dương; một số khung cửi dệt vỉa ở Yên Lạc, Vĩnh Tường và một số nghề phụ như: làm nón, áo tơi, đan lát.rải rác ở một số nơi. Nhưng dưới ách thống trị của đế quốc Pháp, thuế má nặng nề, nguyên liệu thiếu thốn, nên những nghề đó không được phát triển.
z 14 Như vậy, nông nghiệp ở Vĩnh Phúc đã giữ một địa vị chủ yếu nhất. Với diện tích toàn tỉnh là 1.792 km2 bao gồm có 246.130 mẫu rừng cây, 133.242 mẫu đồi trọc, 18.445 mẫu thổ cư và 11.759 mẫu hồ ao (mẫu Bắc Bộ). Số đất còn lại là sông ngòi, đường giao thông, bãi hoang, đền chùa (theo số liệu thông kê năm 1958). Nếu tính ruộng cày cấy và trồng trọt được, bình quân nhân khẩu toàn tỉnh mỗi người được trên 4 sào (sào Bắc Bộ).
Nhưng do sự phân bố dân cư và ruộng đất không đều nên có vùng mỗi người có tới trên dưới một mẫu [89, 14]. Dưới ách thống trị của đế quốc, phong kiến, ruộng đất phần lớn nằm trong tay bọn chúng. Có địa chủ như: Trần Viết Soạn, Đỗ Đình Đạo, Vương Văn Mão, dương Đức Hợi.mỗi tên chiếm đoạt hàng ngàn mẫu. Theo thống ke sửa sai cải cách ruộng đất 1957 thì địa chủ, nhà chung và ngoại kiều chiếm mất gần 50% ruộng đất trong toàn tỉnh [89, 14].
Trong kháng chiến, Vĩnh Phúc bị chia cắt làm hai vùng là vùng tạm chiếm và vùng tự do. Hầu hết vùng đồng bằng, nơi đông người nhiều của, ruộng đất tốt lại là nơi bị địch chiếm đóng, làm cho Vĩnh Phúc gặp rất nhiều khó khăn cho nền kinh tế tự túc. Song dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Vĩnh Phúc vẫn bám chặt lấy đồng ruộng, ra sức sản xuất, bảo vệ sản xuất, đồng thời ra sức vỡ hoang biến đồi núi thành những nương sắn, ngô, khoai và các hoa màu khác, phát triển các nghề phụ. Do đó đã đảm bảo được một nền kinh tế tự cung tự cấp suốt trong những năm kháng chiến.
Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, dưới bất kỳ ách thống trị nào của bè lũ phong kiến, thực dân, đế quốc, nhân dân các dân tộc Vĩnh Phúc cũng đoàn kết một lòng, đấu tranh kiên cường bất khuất để dựng nước và giữ nước. Ngay từ thế kỷ thứ III trước Công nguyên, Thục Phán An Dương Vương đã chọn đất Cổ Loa (Đông Anh) để xây dựng kinh đô của nước Âu Lạc. Tại đây, ông cha ta đã xây dựng một căn cứ quân sự nổi tiếng mà dấu vết còn đến ngày z 15 nay đó là thành Cổ Loa. Trên địa bàn của tỉnh, vào những năm 40 sau Công nguyên, cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng đã thu hút hàng vạn dân binh từ khắp mọi miền quê về đây tụ nghĩa và đã làm nên thắng lợi vẻ vang.
Thế kỷ thứ VI, nhân dân Vĩnh Phúc đã nổi dậy theo Lý Bí chiến đấu chống quân xâm lược nhà Lương mà dấu tích là Hồ Điển Triệt vẫn còn đến ngày nay ở vùng Tứ Yên (Lập Thạch).