Chương 1 ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC GIANG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG ĐỊA PHƯƠNG TRONG NHỮNG NĂM 1945 ĐẾN NĂM 1950 1.Vài nét về tỉnh Bắc Giang.Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Bắc Giang là vùng đất cổ, có bề dầy lịch sử gắn bó hữu cơ với cả nước. Trong quá trình dựng nước và giữ nước, trải qua các thời kì lịch sử, tỉnh Bắc Giang ngày nay đã qua nhiều tên gọi khác nhau. Bộ Vũ Ninh trong thời kì dựng nước, lộ Bắc Giang Thiên Đức Giang ở thời Lý. Thời Trần đổi thành trấn Kinh Bắc.
Thời Nguyễn đời Minh, trấn Kinh Bắc đổi thành trấn Bắc Ninh. Năm 1831, trấn Bắc Ninh đổi thành tỉnh Bắc Ninh. Từ khi thực dân Pháp xâm lược, địa giới hành chính tỉnh có sự thay đổi lớn. Ngày 5 – 1 – 1889, thực dân Pháp thành lập tỉnh Lục Nam bao gồm các huyện Lục Ngạn, Đông Triều, Chí Linh.
Tỉnh lị đóng ở thị trấn Lục Nam ngày nay. Năm 1891 tỉnh Lục Nam giải thể. Ngày 10 – 1 – 1893, thực dân Pháp cắt phần phía Bắc sông Cầu cùng với phủ Đa Phúc và huyện Kim Anh của tỉnh Bắc Ninh thành lập Tỉnh Bắc Giang, tỉnh lị đóng tại phủ Lạng Thương. Ngày 08-1-1896, phủ Đa Phúc và huyện Kinh Anh về tỉnh Bắc Ninh.
Tỉnh Bắc Giang có các đơn vị hành chính là thị xã phủ Lạng Thương, ba phủ (Lạng Giang, Yên Thế, Lục Ngạn), ba huyện (Hiệp Hoà, Việt Yên, Yên Dũng) và hai châu (Hữu Lũng; Sơn Động). Tháng 3 – 1897 một số xã của Sơn Động và Lục Ngạn nhập với một phần đất của tỉnh Hải Ninh thành huyện Lục Sơn Hải đặt dưới sự chỉ đạo của liên tỉnh Quảng Hồng. Năm 1955, huyện Lục Sơn Hải giải thể, Sơn Động trở thành một huyện của tỉnh Bắc Giang. Cuối năm 1957, Yên Thế chia thành hai huyện Yên Thế và Tân Yên.
Năm 1960, Hữu Lũng cắt về tỉnh Lạng Sơn. Ngày 10 – 10 – 1959 , thị xã Phủ Lạng 12 z Thương đổi thành thị xã Bắc Giang. Ngày 27 – 10 – 1962, hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang sát nhập thành tỉnh Hà Bắc. Đến ngày 6 – 01 – 1996, Hà Bắc tách thành hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang.
Tỉnh Bắc Giang ngày nay bao gồm 9 huyện là Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Tân Yên, Yên Thế, Lạng Giang, Hiệp Hoà, Việt Yên, Yên Dũng và thị xã Bắc Giang (nay là thành phố Bắc Giang) [21, tr. Bắc Giang là tỉnh trung du, diện tích rộng 39.089 Km2, phía Đông giáp tỉnh Hải Ninh, Quảng Yên; phía Tây giáp tỉnh Thái Nguyên, tỉnh Vĩnh Phúc; phía Nam giáp tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương; phía Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn. Bắc Giang có ba tuyến đường sắt Hà Nội – Lạng Sơn; Kép – Hạ Long; Kép – Lưu Xá và đường 1A góp phần quan trọng trong giao lưu kinh tế và công tác quân sự. Đường 13 nay là đường 31 từ thị xã Phủ Lạng Thương đến thị trấn Lục Ngạn, Chũ, Biến Động, An Châu nối với đường số 4.
Đó là tuyến đường quan trọng, thực dân Pháp đặc biệt chú ý chiếm đóng tuyến đường này để khống chế các huyện miền núi [22, tr. Bắc Giang có 3 con sông lớn: sông Thương, sông Cầu, sông Lục Nam chảy qua địa phận Bắc Giang, hạ lưu tập trung ở Phả Lại, một mặt chia ranh giới Bắc Giang và Thái Nguyên, Bắc Ninh; một mặt chia địa phận Bắc Giang thành 3 khu vực ảnh hưởng đến giao thông thuỷ bộ và liên lạc, dễ bị chia cắt, khó khăn khí có chiến sự. Các sông trên đều thuận tiện cho việc vận tải giao thông thuỷ bộ. Thực dân Pháp đã từng lợi dụng các con sông đó để tấn công ta từ những ngày đầu xâm lược và uy hiếp ta trong quá trình bình định khủng bố, càn quét vùng tạm chiếm.
Về địa hình, Bắc Giang là một tỉnh đất đai rộng chia thành hai miền rõ rệt. Miền núi có 4 huyện gồm Sơn Động, Lục Ngạn, Yên Thế, Hữu Lũng địa hình hiểm trở, nhiều rừng rậm, núi cao, có các dãy núi (Cao Minh, Bảo Đài, Yên Tử) thuận lợi cho việc trú quân, xây dựng căn cứ địa, xây dựng kho tàng 13 z và thực hiện chiến tranh du kích. Miền trung du, ở các huyện còn lại đa số là đồi trọc nhưng nổi lên là một số điểm cao như dãy Nham Biền (Yên Dũng), núi Mỏ Thổ, núi Nhẩm (Việt Yên), núi Dành, núi Đót (Yên Thế) [22, tr. Làng mạc ở miền xuôi tỉnh Bắc Giang có nét đặc biệt là ít làng đông dân, trung bình từ 80 đến 100 gia đình giải giác cách nhau từ 500 đến 1000m.
Trong tỉnh có một số làng to như Đại Đồng, Nội Hoàng (Yên Dũng), Tiên Lục, Đào Quán, Hoàng Hạ, Thọ Xương (Lạng Giang), Dương Lâm, Dương Sơn (Yên Thế) xung quanh có lũy tre xanh bọc kín, rất thuận lợi cho việc xây dựng làng chiến đấu vững chắc. Tóm lại, với địa hình trung bình, lại ở vào cửa ngõ Việt Bắc, Bắc Giang là một địa bàn có nhiều thuận lợi cho xây dựng lực vũ trang. Bắc Giang gồm nhiều dân tộc cùng chung sống, trình độ giác ngộ không đều nhau. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, dân số tỉnh Bắc Giang có trên 34 vạn người.
Người kinh đông nhất cư trú lâu đời chủ yếu ở vùng trung du, 7 dân tộc ít người gồm: Nùng, Tày, Sán, Dìu, Hoa, Cao Lan, Sán Chỉ, Dao sống xen kẽ với người kinh chủ yếu ở 4 huyện miền núi: Sơn Động, Lục Ngạn, Yên Thế, Hữu Lũng. Do trình độ dân trí thấp, các dân tộc này đều bị đế quốc thực dân mê hoặc, chia rẽ giữa dân tộc này với dân tộc khác để cai trị [22, tr 11]. Tuy vậy, nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Giang có truyền thống đoàn kết, đùm bọc lấy nhau, cần cù lao động sáng tạo, ham học hỏi đặc biệt là truyền thống chống giặc ngoại xâm góp phần bảo vệ quê hương đất nước. Từ ngày có Đảng lãnh đạo quân và dân đã đánh đuổi được quân xâm lược và xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.
Qua phát động giảm tô, phát động thành lập khu tự tri, thực hiện cải cách dân chủ kết hợp với cải tạo xã hội chủ nghĩa ở địa bàn miền núi. Dưới ánh sáng của các chính sách dân tộc của Đảng các địa phương cơ bản đã giải quyết được những vấn đề dân tộc. 14 z Vấn đề đồng bào người Hoa: Tổng số trên 6.530 người sống tập trung ở khắp các xã Phú Nhuận, Phú Qúy, Đồng Cốc, Tân Hoa, Thanh Sơn (huyện Lục Nam) [22, tr. Những Hoa kiều này ở Quảng Đông, Quảng Tây sang làm ăn sinh sống đã lâu đời.
Sau cách mạng tháng Tám, trừ một số ít tham gia công tác, còn nói chung là có biểu hiện muốn làm ăn yên ổn. Vấn đề giáo dân: Trước cách mạng tháng Tám, tỉnh Bắc Giang có 2.600 người, ở 45 xã, tập trung chủ yếu ở Việt Yên. Khi quân Pháp trở lại xâm chiếm, công tác vận động tôn giáo của ta yếu, thực dân Pháp và bè lũ tay sai đã tăng cường các hoạt động lừa bịp và dùng vũ lực cưỡng bức nên đa số các dân vùng Thiên chúa giáo hoang mang sợ hãi, một bộ phận buộc phải ngả theo địch, hoặc giữ thái độ lưng chừng. Về kinh tế, Bắc giang là tỉnh trung du sản xuất nhiều thóc lúa và đó là sản phẩm chủ yếu của địa phương.
Đại bộ phận nông dân sống bằng nghề nông nghiệp (94%), là tỉnh cung cấp nhiều thóc lúa cho các tỉnh bạn trong kháng chiến. Bắc Giang là tỉnh có nhiều đồn điền của đế quốc và phong kiến. Đại bộ phận đất đai màu mỡ đều nằm trong tay địa chủ. Đến 1945, Bắc Giang có trên 100 đồn điền, nhiều đồn điền lớn như Đơ Mông Pê Pa (10.080 ha), Sếch-nay và Boa-da-dam (7.025 ha), Tác-Ta-Ranh (6.655 ha)…Thành phần địa chủ, phú nông chiếm 4,9% dân số nhưng chiếm tới 47,5% diện tích ruộng đất.
Nông dân đa số là tá điền, phải nai lưng ra làm cho bọn chúng vơ vét bóc lột. Vì vậy, nhân dân đói rách, túng thiếu, căm thù bọn thực dân phong kiến, sẵn sàng đứng lên đấu tranh giải phóng quê hương [8, tr. Về mặt tài nguyên: Bắc giang có nhiều tài nguyên khoáng sản quý. Những nguồn lợi thiên nhiên đó đã góp phần quan trọng trong việc cải thiện đời sống cho nhân dân, đóng góp một phần quan trọng cho nhu cầu kháng chiến.
Về cơ sở công nghiệp: Không có gì đáng kể, ngoài một số cơ sở khai thác tại chỗ như mỏ Cốt Phát (Hữu Lũng), nhà máy đúc gang ở Bảo Sơn (Việt 15 z Yên), nhà máy say gạo, nhà máy ép dầu ở thị xã Phủ Lạng Thương với số lượng vài chục công nhân. Tỉnh Bắc giang có một số làng nghề thủ công, nghề phụ truyền thống ở rải rác các nơi như: dệt vải, ươm tơ ở Đại Đồng, Nội Hoàng, Chí Minh, Cẩm Xuyên (Yên Dũng), đồ gốm ở Thổ Hà (Việt Yên), ép dầu làm mật, làm đường (Lục Ngạn, Sơn Động), nấu rượu ở Vân Hà (Việt Yên). Với điều kiện đất đai màu mỡ, tài nguyên phong phú, nhân dân lao động cần cù, Bắc Giang có nhiều khả năng cung cấp nhân tài, vật lực cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và xây dựng quê hương đất nước.Truyền thống lịch sử. Nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Giang có truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm kiên cường, bất khuất.
Trong suốt hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, vùng đất Bắc Giang đã trở thành chiến trường của quân và dân ta chống lại các cuộc xâm lược của các triều đại phong kiến phương Bắc. Tháng 03 năm 04, Hai Bà Trưng phất cờ chống lại ách thống trị tàn bạo của nhà Hán. Nhân dân các vùng Hiệp Hòa, Yên Dũng, Việt Yên, Yên Thế dưới sự chỉ huy của các lạc hầu, lạc tướng đã nổi lên chống lại tên thái thú Tô Định, hưởng ứng cờ khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, tiêu biểu là nữ tướng Thánh Thiên và nữ tướng Dương Thị Gia. Dưới triều nhà Lý, quân và dân lộ Bắc Giang đã phối hợp cùng quân và dân cả nước dựng phòng tuyến sông Cầu, đánh tan 10 vạn quân Tống.
Trong cuộc khánh chiến chống quân Minh, dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi, Nguyễn Trãi, cùng với quân triều đình, quân dân Bắc Giang đã tiêu diệt hoàn toàn 9 vạn viện binh địch ở Cần Trạm, Hố Cát, Xương Giang góp phần cùng quân dân cả nước chấm dứt 20 năm đô hộ của nhà Minh [39, tr. Ngay từ khi thực dân Pháp đặt chân lên đất Bắc Giang, nhân dân các dân tộc Bắc Giang cùng nhân dân cả nước đã liên tục đứng lên chống thực dân 16 z Pháp xâm lược.