mở đầu (7-5-1963) đến khi kết thúc (1-11-1963). Tuệ Giác khẳng định phong trào đấu tranh của Phật giáo ở Khánh Hòa năm 1963 diễn ra quyết liệt ngay từ đầu nhờ các yếu tố: “THPG Khánh Hòa có một ban lãnh đạo cương quyết, không thối lui trước mọi trở ngại và khó khăn; Phật học viện Trung phần Nha Trang ở gần chùa THPG Khánh Hòa đã cung cấp nhiều ý kiến hay và nhân lực để thúc đẩy đấu tranh; toàn thể Phật giáo đồ Khánh Hòa đoàn kết chặt chẽ, không sợ sệt, chán nản; được sự hưởng ứng của toàn dân dù ở tôn giáo nào, thành phần nào” [47, tr. Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Khánh Hòa (1992), Truyền thống cách mạng của phụ nữ Khánh Hòa 1930-1975, Cơ sở in chi nhánh NXB CTQG, Nha Trang. Công trình phản ánh quá trình xây dựng tổ chức, lực lượng và tham gia đấu tranh giải phóng dân tộc của phụ nữ Khánh Hòa từ năm 1930 đến năm 1975.
Về lực lượng phụ nữ Khánh Hòa trong kháng chiến chống Mỹ (1954-1975), công trình khẳng định: “Phụ nữ Khánh Hòa ở nông thôn cũng như thành thị, không phân biệt tầng lớp xã hội đã hòa nhau trong cuộc đấu tranh chung. Trong cuộc sống đời thường thì hiền hòa, đôn hậu nhưng trước sự áp bức, bất công thì quyết liệt chống trả chẳng sợ gian nguy, tù đày, sẵn sàng hy sinh vì nghĩa lớn” [60, tr. Ở công trình này, sự tham gia ĐTCT của lực lượng phụ nữ trong phong trào giải phóng nông thôn đồng bằng cuối năm 1964, đầu năm 1965, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, nhất là trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 đã được trình bày khá chi tiết. Ban Thường vụ Huyện ủy Cam Ranh (1994), Lịch sử Đảng bộ huyện Cam Ranh 1930-1975, Cơ sở in chi nhánh NXB CTQG, Nha Trang.
Bên cạnh phản ánh sự lãnh đạo toàn diện của Huyện ủy Cam Ranh; tái hiện quá trình đấu tranh giành chính quyền, tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ của quân dân ở địa phương (1930-1975), công trình phân tích vị trí đặc biệt của Cam Ranh trong 15 chiến lược quân sự của Mỹ ở miền Nam: “Một căn cứ quân sự liên hợp hải - lục - không quân và khu hậu cần lớn cho cả chiến trường Nam Trung Bộ và Tây Nguyên” [5, tr. Ngoài ra, công trình cũng đề cập đến tình hình công nhân và một số cuộc ĐTCT tiêu biểu của công nhân Cam Ranh thời kỳ 1954-1975. Ban Thường vụ Huyện ủy Ninh Hòa (1995), Lịch sử Đảng bộ huyện Ninh Hòa thời kỳ 1954-1975, Cơ sở in chi nhánh NXB CTQG, Nha Trang. Cùng với phản ánh quá trình lãnh đạo của Huyện ủy Ninh Hòa trên tất cả các mặt; diễn biến ĐTQS ở Ninh Hòa thời kỳ 1954-1975;.
công trình đề cập một số cuộc ĐTCT nổi bật trên địa bàn huyện Ninh Hòa, nhất là các xã có truyền thống cách mạng như Ninh Thọ, Ninh An, Ninh Phước, Ninh Diêm,. trong phong trào chống phá ACL (1961-1963), giải phóng nông thôn đồng bằng (1964-1965), Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Về vai trò của quần chúng nhân dân Ninh Hòa trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), công trình khẳng định: “Dù ác liệt, hy sinh nhưng nhân dân vẫn một lòng trung thành đi theo cách mạng, bất hợp tác với địch, chống địch dồn dân, tiến hành đồng khởi, xuống đường biểu tình, đấu tranh trước mũi súng địch, đóng góp sức người, sức của to lớn cho kháng chiến” [6, tr. Hoành Linh Đỗ Mậu (1991), Tâm sự tướng lưu vong (Việt Nam máu lửa quê hương tôi), NXB Công an Nhân dân, Hà Nội.
Như lời giới thiệu sách viết: Công trình đã “vạch ra được những sự thật sinh động về các sự kiện, các lực lượng chính trị, các tôn giáo đảng phái, những bộ mặt chính khách, tướng tá tiêu biểu trong chính trường miền Nam suốt cả một thời gian dài; lý giải nguyên nhân thất bại (của Ngô Đình Diệm và Mỹ - TG) tuy chưa đầy đủ nhưng có thể nói là đã gần được sự thật” [90, tr. Cũng trong công trình này, tác giả đề cập đến tình hình Khánh Hòa và mô tả khá chi tiết những biện pháp chính trị do chính Đỗ Mậu trực tiếp chỉ đạo triển khai tại đây những năm 1954-19564, nhằm “xây dựng cho quần chúng một ý thức chính trị vững mạnh mà nội dung là chống Cộng và ủng hộ chế độ Cộng hòa, để biến Khánh Hòa trở thành thành trì cách mạng”, qua đó thể hiện sự “trung thành triệt để với lãnh tụ Ngô Đình Diệm” [90, tr. Bên cạnh đó, trong chương V - “Góp phần xây dựng nền móng chế độ mới”, một số chính sách của CQSG 4. Thời gian này ông là Chủ tịch Phong trào cách mạng quốc gia Phân khu Duyên hải gồm 4 tỉnh: Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận, đóng trụ sở tại Nha Trang.
16 triển khai tại địa bàn Khánh Hòa như kỳ thị Phật giáo, ưu ái Thiên Chúa giáo, độc tài và gia đình trị,. cũng được tác giả đề cập [90, tr. Ban Thường vụ Thành ủy Nha Trang (1996), Lịch sử Đảng bộ Nha Trang 1925-1975, Cơ sở in chi nhánh NXB CTQG, Nha Trang. Công trình phản ánh quá trình vận động thành lập tổ chức Đảng ở Nha Trang và sự lãnh đạo của Đảng bộ Nha Trang đối với phong trào cách mạng tại địa phương từ năm 1925 đến năm 1975.
Liên quan đến ĐTCT thời kỳ 1954-1975, công trình khái quát chính sách, biện pháp do Mỹ và CQSG triển khai nhằm ngăn chặn, chống phá phong trào cách mạng của quần chúng, đồng thời xây dựng Nha Trang thành hậu cứ an toàn của đối phương. Song song với đó, công trình chú ý khai thác đặc điểm “Nha Trang là nơi quy tụ biết bao người con từ mọi miền Tổ quốc về đây gây cơ sở trong quần chúng, xây dựng tổ chức Đảng” [7, tr. 231] để trình bày quá trình xây dựng LLCT phục vụ phong trào đô thị Nha Trang thời kỳ 1954-1975. Ngoài ra, công trình cũng đề cập đến một số phong trào ĐTCT sôi nổi ở Nha Trang như đấu tranh chống Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo năm 1963, chống chính phủ Trần Văn Hương năm 1965, chống chính quyền quân phiệt Nguyễn Văn Thiệu - Nguyễn Cao Kỳ năm 1966.
Đặc biệt, công trình thể hiện khá chi tiết các hoạt động của Sao Việt - một tổ chức cách mạng hoạt động công khai, hợp pháp tại Nha Trang những năm 1971-1975. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa (2001), Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Khánh Hòa (1930-1975), Cơ sở in chi nhánh NXB CTQG, Nha Trang. Công trình tái hiện quá trình lãnh đạo toàn diện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa từ năm 1930 đến năm 1975. Trong công trình này, nhiều khía cạnh liên quan đến ĐTCT ở Khánh Hòa thời kỳ 1954-1975 như chính sách của Mỹ và CQSG, quá trình xây dựng LLCT, sự phối hợp giữa ĐTCT với ĐTQS,.
được đề cập khá chi tiết. Ngoài ra, các phong trào ĐTCT do Đảng trực tiếp lãnh đạo như đòi thi hành Hiệp định Genève (1954-1956), chống “tố Cộng” (1955-1958), giải phóng miền núi (1959-1960), chống phá ACL (1961-1963), giải phóng nông thôn đồng bằng (1964-1965), tham gia Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 và Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 cũng được công trình thể hiện một cách khái quát. 17 Hội Nông dân tỉnh Khánh Hòa (2002), Lịch sử phong trào nông dân và Hội Nông dân tỉnh Khánh Hòa 1930-2000, Cơ sở in chi nhánh NXB CTQG, Nha Trang. Công trình phản ánh quá trình tham gia của nông dân Khánh Hòa - bộ phận chiếm 80% dân cư toàn tỉnh, trong cuộc đấu tranh giành chính quyền, giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước từ năm 1930 đến năm 2000.
Trong đó, liên quan đến ĐTCT thời kỳ 1954-1975, công trình tái hiện sơ lược quá trình tham gia của nông dân Khánh Hòa trong phong trào giải phóng miền núi (1959-1960), chống phá ACL (1961-1963), giải phóng nông thôn đồng bằng (1964-1965), Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968, năm 1975. Về vai trò của lực lượng nông dân đối với cách mạng ở Khánh Hòa thời kỳ 1954-1975, công trình khẳng định: “Nông dân là chỗ dựa quan trọng của cách mạng, nhiều gia đình tiếp tế lương thực cho kháng chiến, nuôi quân, nuôi cán bộ trong nhà bất chấp sự lùng sục, khủng bố của địch và trực tiếp đấu tranh với địch khi được Đảng phát động, tổ chức [3, tr. Hoài Phong (Quyển 1-2008, Quyển 2-2014), Hồi ức một thời, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội. Dù được viết theo thể hồi ký nhưng qua đối chiếu với tư liệu lưu trữ từ nhiều nguồn cho thấy các sự kiện được tác giả phản ánh trung thực, khách quan.
Có thể nói, cho đến nay, đây là cuốn hồi ký duy nhất viết về phong trào đô thị Nha Trang những năm 1965-1968. Trong sách, tác giả đề cập khá cụ thể quá trình xây dựng LLCT và diễn biến một số cuộc ĐTCT tiêu biểu ở thị xã Nha Trang những năm 1965-1968. Đặc biệt, với tư cách là người trong cuộc, tác giả có những kiến giải về việc tại sao trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, ĐTCT ở Nha Trang không thực sự mạnh mẽ và thiếu sự phối hợp với mũi ĐTQS. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Khánh Hòa (2015), 80 năm ngành Tuyên giáo Khánh Hòa (1930-2010), Cơ sở in chi nhánh NXB CTQG, Nha Trang.
Công trình đề cập đến công tác tuyên truyền, giáo dục đảng viên và vận động quần chúng của ngành Tuyên giáo ở Khánh Hòa từ năm 1930 đến năm 2010. Riêng thời kỳ 1954-1975, ngoài trình bày công tác tuyên giáo nói chung, công trình đề cập đến công tác tuyên giáo phục vụ ĐTCT, binh vận chống Mỹ và CQSG. Công trình khẳng định, công tác tuyên giáo ở Khánh Hòa thời kỳ 1954-1975 đã “góp phần giúp quần chúng nhận thức đầy đủ hơn bản chất xâm lược của Mỹ, bộ mặt tay sai của CQSG, củng cố quyết tâm đánh Mỹ của quân dân tỉnh nhà và cổ vũ quần chúng đấu tranh chống Mỹ và CQSG” [13, tr. 18 Ban Thường vụ Huyện ủy Khánh Vĩnh (2015), Lịch sử Đảng bộ huyện Khánh Vĩnh (1945-1975), Cơ sở in chi nhánh NXB CTQG, Nha Trang.
Công trình phản ánh quá trình Huyện ủy Khánh Vĩnh lãnh đạo quần chúng nhân dân kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ từ năm 1945 đến năm 1975. Trong đó, ở thời kỳ 1954-1975, công trình đề cập chính sách dồn dân, lập khu tập trung của CQSG tại vùng miền núi và các cuộc nổi dậy của đồng bào phối hợp với ĐTVT phá khu tập trung, giải phóng miền núi Khánh Hòa những năm 1959-1960.