Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ Sử học với đề tài "Đấu tranh chính trị ở Khánh Hòa trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975)" do nghiên cứu sinh Nguyễn Trung Triều thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế (năm 2018), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Cung và TS. Chu Đình Lộc, thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số: 62 22 03 13).
Trong tiến trình kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Đảng Lao động Việt Nam xác định đấu tranh chính trị là một hình thức đấu tranh cơ bản, giữ vai trò quyết định trong các giai đoạn phát triển của cách mạng miền Nam, hợp thành thế chiến lược "hai chân, ba mũi". Mặc dù thực tiễn đã khẳng định vai trò của đấu tranh chính trị, các công trình nghiên cứu lịch sử trước đây chủ yếu tập trung vào đấu tranh quân sự hoặc phong tràu chính trị tại các đô thị lớn như Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Tây Nguyên. Tại tỉnh Khánh Hòa, đấu tranh chính trị thời kỳ 1954 - 1975 chỉ mới được phản ánh vắn tắt, tản mạn trong các tập lịch sử Đảng bộ hoặc lịch sử của các đoàn thể địa phương mà chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, độc lập và có hệ thống.
Khánh Hòa là địa bàn có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về quân sự và chính trị tại miền Nam: nơi đây đặt khu liên hợp căn cứ hải - lục - không quân Cam Ranh, các cơ quan chỉ huy cấp vùng (Bộ Tư lệnh Vùng II Chiến thuật, Bộ Tư lệnh Vùng II Duyên hải, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 2 Không quân, Bộ Chỉ huy Tiếp vận 5), các trung tâm huấn luyện (Biệt động quân Dục Mỹ - Ninh Hòa, Trung tâm Huấn luyện Hải quân Cam Ranh, Trung tâm Huấn luyện Không quân Nha Trang) và các quân trường đào tạo sĩ quan (Quân trường Đồng Đế, Trường Sĩ quan Hải quân Nha Trang). Để bảo vệ hệ thống này, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã thiết lập bộ máy kìm kẹp, an ninh dày đặc. Việc nghiên cứu quá trình quần chúng nhân dân Khánh Hòa liên tục nổi dậy đấu tranh chính trị trong điều kiện bị kiểm soát gắt gao là khoảng trống lịch sử cần được luận giải khoa học.
Mục đích nghiên cứu của luận án là tái hiện có hệ thống quá trình đấu tranh chính trị của quân và dân Khánh Hòa giai đoạn 1954 - 1975, làm rõ các nhân tố tác động, tính chất, đặc điểm và ý nghĩa lịch sử; qua đó bổ sung tư liệu cho nghiên cứu và giảng dạy lịch sử địa phương, cung cấp luận cứ khoa học cho công tác giáo dục truyền thống cách mạng và vận động quần chúng.
Để thực hiện mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Làm rõ điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Khánh Hòa, nhất là chính sách của Mỹ và chính quyền Sài Gòn đối với Khánh Hòa từ năm 1954 đến năm 1975 có ảnh hưởng đến đấu tranh chính trị.
- Trình bày đường lối, chủ trương của Trung ương Đảng, Liên Khu ủy V và Tỉnh ủy Khánh Hòa chỉ đạo đấu tranh chính trị trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975).
- Trình bày diễn biến đấu tranh chính trị ở Khánh Hòa trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975) qua các phong trào tiêu biểu dựa theo mục tiêu và đối tượng đấu tranh.
- Làm rõ tính chất, đặc điểm và ý nghĩa lịch sử của đấu tranh chính trị ở Khánh Hòa trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975).
Đối tượng nghiên cứu của luận án là phong trào đấu tranh chính trị ở Khánh Hòa trong giai đoạn 1954 - 1975, tập trung vào nguyên nhân, diễn biến, mục tiêu, lực lượng, hình thức, biện pháp, kết quả các phong trào tiêu biểu cùng tính chất, đặc điểm và ý nghĩa lịch sử. Phạm vi nội dung giới hạn ở các hoạt động đấu tranh của quần chúng nhân dân không sử dụng vũ khí quân dụng nhằm đòi các mục tiêu dân tộc, dân chủ và dân sinh. Phạm vi không gian bao gồm địa bàn tỉnh Khánh Hòa (các huyện, thị, thành phố: Vạn Ninh, Ninh Hòa, Nha Trang, Diên Khánh, Cam Lâm, Cam Ranh, Khánh Vĩnh, Khánh Sơn; trọng tâm là thị xã Nha Trang). Phạm vi thời gian xác định từ ngày ký Hiệp định Genève (21-7-1954) đến ngày tỉnh Khánh Hòa được hoàn toàn giải phóng (2-4-1975), có lùi về giai đoạn trước năm 1954 khi phân tích yếu tố truyền thống lịch sử.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và phân chia thành hai nhóm công trình chính:
Nhóm các công trình nghiên cứu về đấu tranh chính trị ở miền Nam (1954 - 1975)
- Về lý luận và tổng kết chiến tranh: Công trình của Lê Duẩn (1976), Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành thắng lợi mới; Khoa Lịch sử Đảng - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (1993), Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (2 tập); Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (1995), Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ - Thắng lợi và bài học; Võ Nguyên Giáp (2006), Tổng tập luận văn; Trần Văn Giàu (2006), Tổng tập. Các công trình này phân tích cơ sở lý luận của chiến tranh nhân dân, định nghĩa khái niệm đấu tranh chính trị và khẳng định nguyên lý kết hợp hai lực lượng (chính trị, quân sự) cùng hai hình thức đấu tranh (đấu tranh chính trị, đấu tranh quân sự).
- Về địa bàn liên khu và các đô thị miền Nam: Bộ Tư lệnh Quân Khu V - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1999), Một số kinh nghiệm chỉ đạo chiến tranh nhân dân địa phương ở Khu V trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975); Viện Lịch sử Đảng (2002), Khu VI kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975); Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2013), Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) (9 tập); Viện Sử học (2017), Lịch sử Việt Nam (Tập 12 và Tập 13).
- Về phong trào Phật giáo và phong trào đô thị: Hệ thống công trình của Lê Cung gồm Phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam năm 1963 (2008), 50 năm nhìn lại phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam (1963-2013) (2013), Phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam (1964-1968) (2014), Về phong trào đô thị miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ (1954-1975) (2015); giáo trình của Trần Bá Đệ (Chủ biên) - Lê Cung (2010), Lịch sử Việt Nam tập VII, từ 1954 đến 1975; công trình của Trần Hoài, Lê Cung, Lê Văn Thuyên, Nguyễn Duy Hiền, Nguyễn Xuân Hoa (2015), Lịch sử phong trào đô thị Huế 1954-1975.
- Các luận án tiến sĩ và bài báo khoa học: Luận án của Trần Thị Lan (2014) về đấu tranh chính trị ở Tây Nguyên (1961 - 1968); luận án của Nguyễn Thị Thanh Huyền (2016) về phong trào công nhân đô thị miền Nam (1954 - 1965); các bài báo của Quỳnh Cư (1980), Nguyễn Thị Định (1985), Vũ Thị Thúy Hiền (2000), Trần Bạch Đằng (2005), Trịnh Thị Hồng Hạnh (2010).
- Các công trình của học giả nước ngoài: Gabriel Kolko (1991), Giải phẫu một cuộc chiến tranh; Robert S. McNamara (1995), Nhìn lại quá khứ - tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam; Douglas Ramit (2004), Làn gió mát từ thành phố Hồ Chí Minh.
Nhóm các công trình nghiên cứu về đấu tranh chính trị ở Khánh Hòa (1954 - 1975)
- Tài liệu lịch sử địa phương và các đoàn thể: Ban Thường vụ Huyện ủy Cam Ranh (1994), Lịch sử Đảng bộ huyện Cam Ranh 1930-1975; Ban Thường vụ Huyện ủy Ninh Hòa (1995), Lịch sử Đảng bộ huyện Ninh Hòa thời kỳ 1954-1975; Ban Thường vụ Thành ủy Nha Trang (1996), Lịch sử Đảng bộ Nha Trang 1925-1975; Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa (2001), Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Khánh Hòa (1930-1975); Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Khánh Hòa (1992), Truyền thống cách mạng của phụ nữ Khánh Hòa 1930-1975; Hội Nông dân tỉnh Khánh Hòa (2002), Lịch sử phong trào nông dân và Hội Nông dân tỉnh Khánh Hòa 1930-2000; Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Khánh Hòa (2015), 80 năm ngành Tuyên giáo Khánh Hòa (1930-2010); Ban Thường vụ Huyện ủy Khánh Vĩnh (2015), Lịch sử Đảng bộ huyện Khánh Vĩnh (1945-1975); Ban Thường vụ Tỉnh đoàn Khánh Hòa (2017), Lịch sử Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và phong trào thanh thiếu nhi tỉnh Khánh Hòa 1925-1975.
- Chuyên khảo tôn giáo, hồi ký và bài nghiên cứu chuyên đề: Tuệ Giác (1964), Việt Nam Phật giáo đấu tranh sử; Hoành Linh Đỗ Mậu (1991), Tâm sự tướng lưu vong (Việt Nam máu lửa quê hương tôi); Hoài Phong (2008, 2014), Hồi ức một thời (Quyển 1 và Quyển 2); Lê Cung (Chủ biên) (2016), 60 năm Phật học viện Hải Đức Nha Trang (1956-2016); Chu Đình Lộc (2009, 2014) với các nghiên cứu về đồng khởi và đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Genève ở cực Nam Trung Bộ; Kỷ yếu hội thảo của Sở Giáo dục Đào tạo Khánh Hòa (2015); bài báo của Lê Cung - Nguyễn Trung Triều (2016) trên Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình lịch sử Đảng bộ và đoàn thể tại Khánh Hòa trước đây chỉ phản ánh từng sự kiện riêng lẻ, các phong trào do tổ chức Đảng lãnh đạo trực tiếp, hoặc phong trào của từng giới riêng biệt, đồng thời còn hạn chế trong việc tiếp cận và đối chứng nguồn tài liệu lưu trữ từ phía chính quyền Sài Gòn. Các chuyên khảo tôn giáo hay hồi ký chỉ đề cập một giai đoạn hoặc một sự kiện cụ thể. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách dựng lại bức tranh toàn diện, liên tục về đấu tranh chính trị tại Khánh Hòa trong suốt giai đoạn 1954 - 1975, đặt trong sự tương tác đa chiều giữa chính sách của đối phương, chủ trương chỉ đạo của Đảng và diễn biến thực tế của phong trào quần chúng ở cả đô thị, nông thôn đồng bằng và miền núi.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung khái niệm
- Luận án dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân, bạo lực cách mạng và vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử.
- Luận án tiếp thu định nghĩa về đấu tranh chính trị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Đấu tranh chính trị được hiểu theo nghĩa hẹp để phân biệt với đấu tranh vũ trang, là hình thức đấu tranh của đông đảo quần chúng nhân dân không cầm vũ khí quân dụng (bãi công, bãi thị, bãi khóa, mít tinh, biểu tình, thị uy...), được tiến hành trong điều kiện hợp pháp, nửa hợp pháp hoặc biến thế bất hợp pháp thành hợp pháp nhằm đạt các mục đích chính trị, kinh tế, văn hóa hoặc hỗ trợ quân sự.
- Khung phân tích vận dụng đường lối phương pháp cách mạng miền Nam của Đảng: nguyên lý kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị, thực hiện phương châm "hai chân, ba mũi" (quân sự, chính trị, binh vận) trên cả ba vùng chiến lược (đô thị, nông thôn đồng bằng, rừng núi).
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp chủ đạo: Luận án sử dụng kết hợp phương pháp lịch sử (phản ánh các sự kiện theo đúng trình tự thời gian và hoàn cảnh cụ thể) và phương pháp logic (phân tích bản chất, quy luật, rút ra tính chất, đặc điểm và ý nghĩa lịch sử).
- Phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành:
- Sưu tầm, thẩm định, xử lý và phê phán tư liệu lịch sử.
- Phân tích văn bản, tài liệu lưu trữ hành chính và quân sự.
- Phương pháp điền dã lịch sử, khảo sát di tích lịch sử và phỏng vấn các nhân chứng trực tiếp tham gia phong trào.
- Phương pháp thống kê, tổng hợp số liệu và so sánh lịch sử.
Nguồn tư liệu nghiên cứu
- Nguồn văn kiện đã công bố: Các nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Bộ Chính trị, Liên Khu ủy V và Tỉnh ủy Khánh Hòa; các tác phẩm của các lãnh đạo Đảng và Nhà nước; các bộ lịch sử Đảng bộ và lịch sử đoàn thể các cấp tỉnh Khánh Hòa.
- Nguồn tài liệu lưu trữ:
- Kho lưu trữ của Văn phòng và Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Khánh Hòa.
- Trung tâm Lưu trữ Lịch sử thuộc Chi cục Văn thư Lưu trữ - Sở Nội vụ tỉnh Khánh Hòa.
- Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (Thành phố Hồ Chí Minh) và Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV (Đà Lạt) (các phông tư liệu của Phủ Thủ tướng, Bộ Nội vụ, Nha Cảnh sát Quốc gia, Tòa Đại biểu Chính phủ Trung Nguyên Trung Phần, Tòa Hành chính tỉnh Khánh Hòa thuộc chính quyền Sài Gòn).
- Nguồn tư liệu thực địa và nhân chứng: Tư liệu thu thập qua phỏng vấn nhân chứng lịch sử (cán bộ cách mạng hoạt động nội thành, tăng ni Phật tử, nhân sĩ trí thức) và khảo sát các di tích trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa.
Nội dung chính theo từng chương
Bố cục của luận án gồm phần Mở đầu (5 trang), 4 chương nội dung chính (150 trang), Kết luận (4 trang), Tài liệu tham khảo (27 trang) và Phụ lục (41 trang).
Chương 1. Tổng quan nghiên cứu
Chương này dành 19 trang để phân tích có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đấu tranh chính trị ở miền Nam và tỉnh Khánh Hòa thời kỳ 1954 - 1975. Tác giả chỉ rõ các kết quả kế thừa về mặt lý luận, tư liệu diễn biến phong trào đô thị và nông thôn, đồng thời xác định 4 vấn đề trọng tâm cần tập trung giải quyết: phân tích nhân tố tác động; làm rõ đường lối lãnh đạo của các cấp ủy Đảng; tái hiện khách quan, toàn diện diễn biến phong trào dựa trên nguồn tư liệu hai phía; đúc kết tính chất, đặc điểm, ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm.
Chương 2. Đấu tranh chính trị ở Khánh Hòa từ năm 1954 đến năm 1965
Chương 2 có dung lượng 58 trang, tập trung làm rõ các điều kiện tiền đề, chính sách của đối phương, chủ trương chỉ đạo của Đảng và các phong trào đấu tranh chính trị tiêu biểu:
-
Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và truyền thống trước 1954:
- Tỉnh có diện tích 5.197 km2, rừng núi chiếm 70%, đồng bằng nhỏ hẹp khoảng 400 km2 (đồng bằng Nha Trang - Diên Khánh 135 km2, đồng bằng Ninh Hòa 100 km2), bờ biển dài 385 km với vịnh Cam Ranh có vị trí địa chiến lược. Sông Cái Nha Trang dài 79 km chia cắt tự nhiên khu vực tỉnh lỵ.
- Dân số năm 1955 là 203.000 người; đồng bào thiểu số (Raglai, Êđê, T’ring, K’ho, Nùng, Chăm) chiếm 5,5% dân số năm 1969. Tín đồ Phật giáo chiếm gần 80% dân số (khoảng 300.000 tín đồ năm 1969), với sự hiện diện của Phật học viện Hải Đức thành lập năm 1956 tại Nha Trang.
- Truyền thống cách mạng địa phương: Cuộc biểu tình ngày 16-7-1930 tại Tân Định (Ninh Hòa) quy tụ 1.000 người; khởi nghĩa giành chính quyền ngày 19-8-1945 tại sân vận động Nha Trang; Mặt trận Nha Trang - Khánh Hòa kéo dài 101 ngày đêm (23-10-1945 đến 2-2-1946).
-
Chính sách của Mỹ và chính quyền Sài Gòn (1954 - 1965):
- Chính trị - quân sự: Thiết lập bộ máy tay sai (Tỉnh trưởng Nguyễn Trân, Đỗ Mậu); phá hoại hoạt động của Ủy hội Quốc tế kiểm soát đình chiến (vụ việc ngày 1-4-1955, ngày 6-4-1955 tấn công trụ sở tại khách sạn Beau Rivage làm bị thương 2 cán bộ phái đoàn QĐNDVN Lê Trọng Thuân và Phan Ngọc, ngày 22-2-1956 ngăn cản thanh sát); mở chiến dịch "tố Cộng" (bắt 1.475 người tính đến 12-9-1956 giam tại Cải hối thất Nha Trang; thành lập Tòa án Quân sự Nha Trang ngày 13-5-1955, chuyến tàu đày Côn Đảo ngày 30-4-1957 chở 80 cán bộ); kìm kẹp nghiệp đoàn; gom dân lập khu tập trung miền núi (Bốt Cây Dầu, Bàu Hùng, Thạch Trại); lập 281 ấp chiến lược trên tổng số 326 ấp (ấp kiểu mẫu Phú Thọ ở Ninh Diêm do Đại sứ Mỹ Nolting đỡ đầu). Về quân sự, tổ chức càn quét căn cứ Tô Hạp (1960), mở cuộc hành quân "Thiềm đầu thủy" (1-6 đến 25-8-1963) huy động 2.600 quân, 23 trực thăng, 2 máy bay trinh sát, 5 máy bay khu trục, 1 đại đội pháo 105 ly đánh vào căn cứ Khánh Sơn.
- Kinh tế - xã hội: Thực hiện cải cách điền địa (Dụ số 2 và Dụ số 7 năm 1955); bao vây kinh tế cách mạng (gạo, muối); tay chân Ngô Đình Cẩn độc quyền thầu khoán, khách sạn, lập Công ty CATRACO khai thác cát trắng; tạo "Vụ án gián điệp miền Trung" (1958) bức hại thương gia Phật giáo. Đưa 6.660 người di cư miền Bắc năm 1954 vào Khánh Hòa, đến cuối 1956 tăng lên 8.648 người bố trí tại 6 trại:
| TT |
Tên trại định cư |
Địa điểm bố trí |
Số gia đình |
Số nhân khẩu |
| 1 |
Ba Làng |
Vĩnh Hải - Vĩnh Xương |
172 |
848 |
| 2 |
Văn Đăng |
Vĩnh Lương - Vĩnh Xương |
61 |
380 |
| 3 |
Văn Tứ |
Suối Vĩnh - Cam Lâm |
417 |
2.051 |
| 4 |
Xuân Ninh |
Cam Phúc - Cam Lâm |
134 |
1.292 |
| 5 |
Văn Thủy |
Cam Lương - Cam Lâm |
555 |
2.577 |
| 6 |
Phước Hải |
Nha Trang Tây |
300 |
1.648 |
- Văn hóa - giáo dục: Ưu đãi Công giáo, kỳ thị Phật giáo (cấm trại hè Gia đình Phật tử năm 1960); kiểm soát mạng lưới 94 trường tiểu học (gần 20.000 học sinh năm 1960) và các trường trung học (Võ Tánh, Ninh Hòa, Nữ trung học Nha Trang, Diên Khánh, Vạn Ninh, Cam Ranh).
- Nội dung các phong trào đấu tranh chính trị (1954 - 1965):
- Đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Genève (1954 - 1956).
- Đấu tranh chống chính sách "tố Cộng" và đàn áp của chính quyền Ngô Đình Diệm.
- Phối hợp với lực lượng vũ trang tiến hành đồng khởi phá kìm kẹp, giải phóng vùng rừng núi Khánh Vĩnh, Khánh Sơn (1959 - 1960).
- Phong trào chống và phá ấp chiến lược (1961 - 1963).
- Phong trào Phật giáo đòi tự do tín ngưỡng, bình đẳng tôn giáo năm 1963 (trọng điểm tại Nha Trang, gắn liền với vai trò của Tỉnh hội Phật giáo và Phật học viện Hải Đức).
- Phong trào chống độc tài, quân phiệt, đòi tự do dân chủ (1964 - 1965).
- Phối hợp với lực lượng vũ trang tiến hành đồng khởi giải phóng nông thôn đồng bằng (cuối 1964 - đầu 1965).
Chương 3. Đấu tranh chính trị ở Khánh Hòa từ năm 1965 đến năm 1975
Chương 3 có dung lượng 43 trang, trình bày phong trào đấu tranh chính trị trong giai đoạn Mỹ trực tiếp đưa quân viễn chinh vào miền Nam và triển khai các chiến lược "Chiến tranh cục bộ", "Việt Nam hóa chiến tranh":
-
Bối cảnh và sự chỉ đạo của Đảng:
- Khánh Hòa trở thành căn cứ quân sự khổng lồ của Mỹ và đồng minh (đặc biệt là căn cứ Cam Ranh và sân bay Nha Trang), tác động sâu sắc đến cơ cấu kinh tế - xã hội đô thị.
- Tỉnh ủy Khánh Hòa và Khu ủy V chủ trương phát triển lực lượng chính trị nội thành, xây dựng các tổ chức cơ sở hợp pháp và nửa hợp pháp (tiêu biểu như tổ chức Sao Việt hoạt động công khai giai đoạn 1971 - 1975).
-
Các phong trào đấu tranh chính trị tiêu biểu (1965 - 1975):
- Phong trào chống chính quyền quân phiệt Nguyễn Văn Thiệu - Nguyễn Cao Kỳ, đòi thành lập chính phủ dân sự và Quốc hội lập hiến (cao trào năm 1966).
- Phong trào phối hợp với lực lượng vũ trang tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Luận án phân tích cả những hạn chế về sự phối hợp giữa hai mũi tiến công tại thị xã Nha Trang trong đợt này.
- Phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, chống tăng thuế, chống bắt lính, chống văn hóa nô dịch tại các đô thị Nha Trang, Cam Ranh, Ninh Hòa (1969 - 1972).
- Phong trào đòi thi hành Hiệp định Paris năm 1973, đòi thả tù chính trị, lập lại hòa bình (1973 - 1974).
- Phong trào nổi dậy của quần chúng kết hợp với đòn tiến công quân sự trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn tỉnh Khánh Hòa (kết thúc ngày 2-4-1975).
Chương 4. Tính chất, đặc điểm và ý nghĩa lịch sử
Chương 4 có dung lượng 30 trang, khái quát các vấn đề lý luận và bài học lịch sử rút ra từ thực tiễn:
-
Tính chất của phong trào:
- Tính chất dân tộc: Mục tiêu đấu tranh luôn hướng về độc lập dân tộc, đánh đuổi quân xâm lược Mỹ, phản đối sự hiện diện của quân đội ngoại bang.
- Tính chất dân chủ, dân sinh: Gắn liền với quyền lợi thiết thực hàng ngày của các tầng lớp nhân dân (chống đuổi nhà, giành quyền tự do nghiệp đoàn, chống nạn tham nhũng, đòi bình đẳng tôn giáo, đòi dân quyền).
-
Đặc điểm nổi bật:
- Phong trào thu hút hầu hết các giai tầng xã hội tham gia (công nhân, nông dân, ngư dân, trí thức, thanh niên, học sinh - sinh viên, tăng ni Phật tử, tiểu thương, một bộ phận công chức và binh lính chính quyền Sài Gòn).
- Hình thức và biện pháp đấu tranh phong phú, linh hoạt, từ hợp pháp, nửa hợp pháp đến bất hợp pháp; kết hợp giữa đấu tranh pháp lý, nghị trường, bãi công, bãi khóa, tuyệt thực, biểu tình đến việc phối hợp nổi dậy phá ấp chiến lược và căn cứ địch.
- Tinh thần chủ động, tích cực hưởng ứng và phối hợp nhịp nhàng với phong trào đấu tranh tại các đô thị lớn miền Nam (Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn, Đà Lạt).
-
Ý nghĩa lịch sử:
- Góp phần nâng cao giác ngộ chính trị, củng cố niềm tin cách mạng cho các tầng lớp quần chúng ngay trong vùng đối phương kiểm soát gắt gao.
- Làm rối loạn hậu phương an toàn của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, làm suy giảm thế lực kìm kẹp của địch, tạo bàn đạp cho lực lượng vũ trang tấn công.
- Làm phong phú thêm kho tàng nghệ thuật chiến tranh nhân dân, đúc kết các bài học kinh nghiệm về xây dựng thế trận lòng dân, nghệ thuật chớp thời cơ và kết hợp hai lực lượng chính trị - quân sự.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận
- Luận án làm rõ một cách toàn diện các nhân tố tác động đến đấu tranh chính trị tại Khánh Hòa (điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội, vị trí căn cứ quân sự hỗn hợp, chính sách thực dân mới của Mỹ - chính quyền Sài Gòn và đường lối chỉ đạo của Trung ương Đảng, Khu ủy V, Tỉnh ủy Khánh Hòa).
- Luận án tái hiện bức tranh lịch sử chân thực, khách quan và có hệ thống về diễn biến phong trào đấu tranh chính trị tại Khánh Hòa suốt 21 năm (1954 - 1975), làm rõ mục tiêu, lực lượng tham gia, hình thức biểu hiện và kết quả của từng cao trào.
- Luận án đúc kết sâu sắc tính chất dân tộc, dân chủ - dân sinh cùng ba đặc điểm nổi bật của phong trào đấu tranh chính trị tại một địa bàn hậu cứ chiến lược; khẳng định vị trí của đấu tranh chính trị trong thế trận "hai chân, ba mũi" tại cực Nam Trung Bộ.
- Luận án khai thác, xử lý khối lượng lớn tư liệu gốc, trong đó có nhiều tài liệu lưu trữ của chính quyền Sài Gòn (tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV và Lưu trữ tỉnh Khánh Hòa) lần đầu tiên được khảo sát và công bố có hệ thống.
Đề xuất và bài học kinh nghiệm thực tiễn
Từ việc nghiên cứu lịch sử đấu tranh chính trị giai đoạn 1954 - 1975, luận án rút ra các bài học kinh nghiệm phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ an ninh Tổ quốc tại tỉnh Khánh Hòa hiện nay:
- Bài học về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nhạy bén nắm bắt diễn biến tình hình để đề ra chủ trương, phương pháp vận động quần chúng phù hợp trong từng thời điểm.
- Bài học về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy vai trò của các tầng lớp nhân dân, đồng bào các dân tộc thiểu số và các tôn giáo (đặc biệt là Phật giáo).
- Bài học về phát huy sức mạnh tổng hợp của quần chúng, kết hợp nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng - an ninh trên địa bàn ven biển và hải đảo chiến lược.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do giới hạn phạm vi đề tài, luận án tập trung nghiên cứu đấu tranh chính trị trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa (trọng tâm là thị xã Nha Trang), chưa thể so sánh đối chiếu chi tiết toàn bộ các chỉ số phong trào với tất cả các tỉnh duyên hải miền Trung khác. Nguồn tư liệu của đối phương chủ yếu khai thác từ các phông lưu trữ trong nước, chưa tiếp cận trực tiếp các tài liệu mật lưu trữ tại Hoa Kỳ hoặc Pháp.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng nghiên cứu so sánh đối sánh phong trào đô thị Khánh Hòa với các trung tâm đô thị khác như Quy Nhơn, Phan Thiết, Đà Lạt; nghiên cứu chuyên sâu về mạng lưới tổ chức hợp pháp nội thành (như tổ chức Sao Việt) và vai trò của các tầng lớp xã hội chuyên biệt (giáo giới, trí thức) trong giai đoạn 1969 - 1975.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên và giảng viên lịch sử: Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo quan trọng về lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước, lịch sử Đảng bộ địa phương và lịch sử phong trào đô thị miền Nam; cung cấp nguồn cứ liệu phong phú về các sự kiện chính trị tại Khánh Hòa giai đoạn 1954 - 1975.
- Đối với các nhà hoạch định chính sách, cán bộ tuyên giáo, dân vận: Công trình cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn để nghiên cứu phương thức vận động quần chúng, giải quyết các vấn đề liên quan đến tôn giáo, dân tộc và xây dựng "thế trận lòng dân" trong chiến lược bảo vệ an ninh khu vực duyên hải miền Trung hiện nay.
Câu hỏi thường gặp
1. Khái niệm đấu tranh chính trị được luận án xác định dựa trên cơ sở khoa học nào?
Luận án vận dụng định nghĩa của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Đấu tranh chính trị được hiểu theo nghĩa hẹp nhằm phân biệt với đấu tranh vũ trang, là các hình thức đấu tranh của quần chúng nhân dân không sử dụng vũ khí quân dụng (mít tinh, biểu tình, bãi công, bãi thị, bãi khóa, đấu tranh nghị trường, đưa đơn khiếu nại...), được tổ chức hợp pháp, nửa hợp pháp hoặc bất hợp pháp nhằm đòi các quyền lợi về dân tộc, dân chủ và dân sinh.
2. Vị trí chiến lược của Khánh Hòa tác động như thế nào đến phong trào đấu tranh chính trị của địa phương?
Khánh Hòa là đầu mối giao thông thủy - bộ - không quan trọng, nơi Mỹ và chính quyền Sài Gòn đặt các căn cứ quân sự chiến lược (Cam Ranh, Nha Trang) cùng nhiều cơ quan chỉ huy, trường sĩ quan và trung tâm huấn luyện. Mạng lưới kìm kẹp, an ninh dày đặc tại đây khiến phong trào cách mạng gặp nhiều khó khăn, song mâu thuẫn xã hội gay gắt do chính sách quân sự hóa, sự hiện diện của quân đội Mỹ và sự phân biệt đối xử tôn giáo đã tạo điều kiện để quần chúng nhân dân liên tục nổi dậy đấu tranh ngay sát cơ quan đầu não của đối phương.
3. Chính quyền Ngô Đình Diệm đã triển khai những chính sách phân biệt tôn giáo và kiểm soát dân cư cụ thể nào tại Khánh Hòa?
Chính quyền Sài Gòn ưu đãi Công giáo (xây dựng thánh đường trong doanh trại Quân trường Đồng Đế, đặt linh mục đứng đầu ủy ban định cư tại các trại Ba Làng, Văn Đăng...), trong khi kỳ thị Phật giáo (hơn 3.000 quân nhân Phật tử tại Đồng Đế không được chăm lo đời sống tâm linh, cấm tổ chức trại hè Gia đình Phật tử năm 1960). Về dân cư, chính quyền đưa 6.660 dân di cư miền Bắc năm 1954 bố trí vào 6 trại định cư tại các cửa ngõ giao thông trọng yếu, đồng thời đưa giáo dân vào trại Văn Thủy nhằm mục đích kiểm soát đồng bào Nùng theo đạo Phật.
4. Vai trò của Phật học viện Hải Đức Nha Trang trong cuộc vận động Phật giáo năm 1963 được luận án đánh giá ra sao?
Phật học viện Hải Đức Nha Trang (thành lập năm 1956) là nơi quy tụ nhiều bậc cao tăng thạch trụ của Phật giáo miền Nam. Trong phong trào năm 1963, ban lãnh đạo Tỉnh hội Phật giáo và các học tăng Phật học viện Hải Đức đóng vai trò nòng cốt về tư tưởng và tổ chức, cung cấp nhân lực và định hướng đấu tranh bất bạo động kiên quyết, phối hợp chặt chẽ với các tầng lớp nhân dân đấu tranh đòi tự do tín ngưỡng, góp phần làm sụp đổ chế độ độc tài Ngô Đình Diệm.
5. Số liệu về việc lập ấp chiến lược và các chiến dịch quân sự đàn áp tại Khánh Hòa giai đoạn 1960 - 1963 được phản ánh như thế nào?
Theo các văn bản của chính quyền Sài Gòn do luận án trích lục, chính quyền tỉnh dự kiến lập 281 ấp chiến lược trên tổng số 326 ấp toàn tỉnh, trong đó ấp Phú Thọ (Ninh Diêm) do Đại sứ Mỹ Nolting đỡ đầu. Về quân sự, năm 1960 đối phương 3 lần càn quét căn cứ Tô Hạp; năm 1963 mở 5 cuộc hành quân, lớn nhất là chiến dịch "Thiềm đầu thủy"