mở đầu và cũng là nơi kết thúc cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc.3 Truyền thống đấu tranh của lực lượng vũ trang địa phương Đông Nam Bộ 1.1 Từ 1858 –trước 1930 Cư dân miền Đông Nam Bộ có nguồn gốc từ miền Bắc và miền Trung vào không chỉ vì “tha phương cầu thực” mà còn để đi tìm cuộc sống tự do, thoát khỏi sự áp bức bóc lột của chế độ phong kiến Trịnh – Nguyễn; góp phần chinh phục thiên nhiên, khai phá mở mang bờ cõi. Về sau, triều đình nhà Nguyễn tổ chức nhiều đợt di dân quy mô lớn để khai hoang lập ấp mở rộng quyền kiểm soát về phía Nam xây dựng nên xứ Đồng Nai – Bến Nghé. Nhìn chung, miền Đông Nam Bộ là một vùng đất mới khai phá, cư dân cư tụ về đây từ nhiều địa phương với nhiều lý do khác nhau…Nhưng tuyệt đại đa số họ là những con người nghèo khổ, cần cù lao động, làm chủ thiên nhiên, và có tinh thần, dũng khí đấu tranh chống lại áp bức, bóc lột và từ đó họ gắn bó với nhau thành một 22 khối đoàn kết thống nhất. Vì vậy, khi có ngoại xâm họ đoàn kết với nhau thành một khối thống nhất chống ngoại xâm.
Năm 1785 chính họ đã cùng với nghĩa quân Tây Sơn làm nên chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút, tiêu diệt gần 40.000 quân Xiêm, đập tan âm mưu xâm lược của chúng, đây là chiến thắng lịch sử vang dội nhất lúc bấy giờ ở miền đất phương Nam. Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng tại bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), mở đầu cho công cuộc xâm lược Việt Nam của chúng. Sau đó, tháng 2- 1959, chúng tấn công Sài Gòn. Những người dân Đông Nam Bộ không sợ chết bằng gươm giáo, tầm vông, cây chông đã chống chọi kiên cường với “súng sắt, tàu đồng” (1859 -1861) ngay khi thực dân Pháp đặt chân lên Sài Gòn.
Trong khi triều đình nhà Nguyễn bạc nhược liên tiếp ký các hiệp ước đầu hàng thì quân và dân miền Đông Nam Bộ đã không ngừng đứng lên chiến đấu chống xâm lược, cả trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa và mặt trận quân sự, vũ trang. Cùng với các cuộc đấu tranh không khoan nhượng của các trí thức yêu nước như Hồ Huấn Nghiệp, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn thông…là hàng loạt các cuộc khởi nghĩa kế tiếp nhau đứng đầu là các sĩ phu, tiêu biểu như : Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Phan Văn Đạt …với những câu nói bất hủ “Bao giờ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây”. Tấm gương nghĩa khí của họ đã góp phần làm nên “hào khí Đồng Nai”, khơi dậy tinh thần bất khuất chống ngoại xâm. Mở đầu là trận tập kích đánh chìm tàu Pháp trên sông Nhật Tảo ngày 10 -12 - 1861, Nguyễn Trung Trực cùng với các nghĩa binh Tân An liên tục gây cho địch nhiều thiệt hại từ Tân An về Cao Lãnh, Hà Tiên, Rạch Gía, Phú Quốc…cho đến khi ông bị quân Pháp bắt và xử tử năm 1868.
Cũng khởi binh từ năm 1861, nghĩa quân do Trương Định lãnh đạo lập căn cứ kháng Pháp ở vùng đám lá tối trời Gò Công, Rừng Sác. Lực lượng của ông lên tới 6.000 người, hoạt động trên một vùng rộng lớn từ Gò Công lên Mỹ Tho, Tân An, Chợ Lớn, Gia Định và miệt biên giới Việt Nam – Campuchia. Nghĩa quân Trương Định đã làm nên những chiến thắng nổi tiếng như trận Cần Giuộc (16-12-1861), trận Rạch Tra…Sau khi nhà Nguyễn kí Hòa ước Nhâm Tuất (5-6-1862), Trương Đinh được nhân dân và nghĩa binh tôn làm “Bình Tây đại nguyên Soái”, tiếp tục chỉ huy đánh Pháp cho đến khi hy sinh vào năm 1864. 23 Bên cạnh cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Trung Trực, Trương Định lãnh đạo còn có nhiều cuộc khởi nghĩa khác cũng lôi kéo được đông đảo nhân dân tham gia như các cuộc khởi nghĩa của Trương Quyền (con Trương Định), Võ Duy Dương… Cuộc khởi nghĩa của 18 thôn Vườn Trầu dưới sự lạnh đạo của Nguyễn Văn Bường và Phan Công Hữu năm 1886.
Phong trào Thiên Địa Hội của Phan Xích Long năm 1913. Phong trào Thanh niên Cao vọng đảng và hoạt động của Nguyễn An Ninh trong những năm 1929 đến 1930…là những phong trào yêu nước chống Pháp liên tiếp nổ ra ở miền Đông mặc dù chưa giành được thắng lợi quyết định nhưng nó tiêu biểu cho tinh thần đấu tranh bất khuất của nhân dân miền Đông Nam Bộ khi chưa có Đảng. Tinh thần ấy là cơ sở cho phong trào đấu tranh cách mạng của công nhân, nhân dân lao động và trí thức, tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lê nin và tiếp tục phát triển mạnh mẽ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản. Từ 1930 -1945 Năm 1930, Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời.
Sau đó, lần lượt các tổ chức cộng sản được thành lập ở hầu khắp các tỉnh miền Đông Nam Bộ như Phú Riềng, Ba Son, Bà Điềm, Bình An, Dầu Tiếng…Từ đây, phong trào đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc diễn ra dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản. Từ cuối năm 1939, diễn biến phong trào cách mạng trong nước với những biến động trên thế giới đã đặt “hoàn cảnh Đông Dương sẽ tiến bước đến vấn đề giải phóng dân tộc”. Tháng 11- 1939, tại Bà Điểm (Gia Định), Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp hội nghị lần thứ 6 quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, hướng cách mạng Việt Nam vào giai đoạn vũ trang “đánh đổ đế quốc Pháp, chống lại tất cả ách ngoại xâm, vô luận da trắng hay da vàng, để tranh lấy giải phóng dân tộc”. Hội nghị chủ trương thành lập các đội tự vệ chiến đấu: “Đội tự vệ phải to rộng, đủ dũng cảm và điềm tĩnh, khôn khéo và hy sinh bảo vệ quần chúng” Quán triệt tinh thần của hội nghị Đảng lần 6, khắp các tỉnh miền Đông Nam Bộ công tác chuẩn bị cho khởi nghĩa diễn ra mạnh mẽ.
Hầu khắp các địa phương đều có chi bộ Đảng, có phong trào mạnh đều thành lập được các đội du kích, đội tự vệ, đội cảm tử. Đêm 22, rạng ngày 23- 11- 1940, khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ. Trước đó, kế hoạch khởi nghĩa bị lộ, quân Pháp đã bố trí sẵn lực lượng và chuẩn bị kế hoạch đàn 24 áp. Nhiều cán bộ lãnh đạo chủ chốt bị bắt trước giờ khởi nghĩa nên mệnh lệnh khởi nghĩa không được thực hiện thống nhất.
Mặc dù vậy, theo kế hoạch định sẵn, quân khởi nghĩa đã nổi dậy và chiến đấu quyết liệt với địch ở Gia Định, Chợ Lớn, Tân An, Tây Ninh, Biên Hòa, Thủ Dầu Một và nhiều địa phương khác. Tại Chợ Lớn, quân khởi nghĩa tổ chức thành hai lực lượng: lực lượng nổi dậy tại chỗ và lực lượng phục kích dọc đường Đông Dương 16 và tham gia nổi dậy ở thành phố Sài Gòn. Riêng lực lượng nổi dậy tại chỗ ở Đức Hòa, Trung Quận, Cần giuộc, mỗi nơi có từ 400 đến 500 người. Cuộc khởi nghĩa diễn ra gần như đồng loạt ở khắp các quận, đặc biệt quyết liệt ở các quận Đức Hòa, Trung Quận.
Ngụy quyền cơ sở bị tan rã hoặc tê liệt ở một số xã. Quân du kích thu tổng cộng được 16 súng. Sau đó, nghĩa quân phân loại thành nhiều bộ phận. Một bộ phận ém quân nằm im ở khu vực Chánh Hưng, Rừng Sác.
Một bộ phận rút vào Đồng Tháp Mười, xây dựng căn cứ ở khu vực các xã Bình Hòa, Bình Thành, Thạnh Lợi. Bộ phận còn lại gia nhập vào lực lượng nghĩa quân Gia Định kéo lên Truông Mít sau đó về Đồng Tháp Mười. Tại Tân An, dưới sự lãnh đạo thống nhất của Ban khởi nghĩa tỉnh, cuộc khởi nghĩa diễn ra quyết liệt ngay từ đầu ở khắp các quận Thủ Thừa, Châu Thành, Mộc Hóa. Quân du kích thu được 22 súng của giặc, sau đó rút về Mộc Hóa, sâu vào Đồng Tháp Mười, khu vực các xã Bình Hòa, Bình Thành, Thạnh Lợi, xây dựng căn cứ Mớp xanh –Bo Bo.
Tại đây nghĩa quân của Tân An hợp với các bộ phận của Gia Định, Chợ Lớn kéo về xây dựng thành một lực lượng thống nhất, gồm 120 người, 30 súng các loại. Lực lượng có tổ chức Đảng, ban chỉ huy quân sự chung và các tiểu ban như quân sự, tuyên truyền báo chí, y tế,tòa án quân sự…Theo báo cáo của viên chủ tỉnh Tân An, quân du kích có 3 đội hàng ngày luyện tập, đạn có khoảng 30 viên, mua thêm 500 viên, 2 thùng thuốc súng và 600 súng. Sau nhiều cuộc càn quét của địch, trong 3 tháng năm 1940, căn cứ Mớp xanh – Bo Bo giải thể. Tại Thủ Dầu Một, cuộc khởi nghĩa diễn ra tại nhiều điểm ở Châu Thành, Lái Thiêu, Bến Cát.
Công nhân cao su, nông dân có lực lượng du kích làm nòng cốt chặt cây phá đường, cắt dây điện thoại, rải truyền đơn, mít tinh diễn thuyết và tập kích một vài vị trí nhỏ lẻ. Sau khi bị địch khủng bố, hầu hết các chiến sĩ quân du kích trở về địa phương. Còn lại về rừng cao su Hớn Quản, Thuận Lợi lập căn cứ. 25 Tại Biên Hòa, tỉnh ủy chỉ đạo thành lập một đội vũ trang trên 30 người tại Mỹ Lộ do Huỳnh Liễn chỉ huy.
Trước sự khủng bố của địch, quân du kích chưa kịp khởi nghĩa buộc phải phân tán trở về địa phương. Riêng đơn vị vũ trang Mỹ Lộc còn 12 người, 2 súng tiếp tục tồn tại, dựa vào rừng Tân Uyên để củng cố lực lượng, tiến hành vũ trang tuyên truyền và tập kích địch ở quy mô nhỏ lẻ. Như vậy, trước và trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, khắp các tỉnh miềnĐông Nam Bộ đã hình thành một lực lượng dân du kích đông hàng ngàn người. Đó chính là lực lượng vũ trang cách mạng đầu tiên ở Nam Bộ.
Từ mùa thu 1943, phong trào cách mạng ở thành phố Sài Gòn và các tỉnh miền Đông Nam Bộ dần dần phục hồi và phát triển. Phong trào xây dựng lực lượng xung kích tự sắm sửa vũ khí diễn ra âm thầm ở khắp nơi. Cuối 1944, đầu 1945, tình hình trong và ngoài nước có những chuyển biến hết sức khẩn trương. Cách mạng Việt Nam bước sang giai đoạn tiền khởi nghĩa.
Phong trào đấu tranh chống phát xít Nhật diễn ra mạnh mẽ trên địa bàn Sài Gòn và các tỉnh miền Đông Nam Bộ. Nhân dân tự sắm sửa giáo mác, gậy tầm vông…tìm cách lấy vũ khí của địch .Ở nhiều địa phương, nhân dân còn tổ chức mò vớt súng của địch ném dưới sông hoặc trong các tàu chiến bị đánh chìm, lấy súng của bọn địa chủ, bọn cai xếp của đồn điền cao su. Tại các tỉnh, các nhà máy, các đồn điền cao su thành lập những đơn vị vũ trang xung kích, những đội Thanh niên cứu quốc, Tự vệ chiến đấu quân.