Tổng quan nghiên cứu

Miền Đông Nam Bộ với diện tích khoảng 25.000 km² và quy mô dân số gần 3 triệu người vào năm 1954 là địa bàn chiến lược đặc biệt trọng yếu trong suốt 21 năm kháng chiến chống Mĩ (1954 – 1975). Trong nghệ thuật quân sự Việt Nam, lực lượng vũ trang được tổ chức đồng bộ theo mô hình ba thứ quân gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ. Tuy nhiên, phần lớn các công trình lịch sử trước đây chủ yếu tập trung vào các chiến dịch quy mô lớn của bộ đội chủ lực, trong khi vai trò nền tảng của lực lượng dân quân tự vệ tại chỗ trên chiến trường Đông Nam Bộ chưa được hệ thống hóa thành một công trình chuyên khảo độc lập.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam của tác giả Nguyễn Thị Cảnh tập trung giải quyết khoảng trống học thuật này bằng việc phục dựng toàn diện tiến trình xây dựng, huấn luyện, trang bị và tác chiến của lực lượng dân quân tự vệ tại 12 tỉnh, thành phố trọng điểm như Sài Gòn – Gia Định, Tây Ninh, Bình Dương, Biên Hòa và Long An. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện rõ nét qua việc phân tích bước chuyển biến nhảy vọt về quy mô: từ khoảng 4.000 du kích năm 1959 phát triển lên hơn 70.000 người vào năm 1962, trực tiếp bẻ gãy hàng ngàn cuộc càn quét của địch. Nghiên cứu khẳng định dân quân tự vệ là lực lượng then chốt duy trì thế trận chiến tranh nhân dân, kết hợp chặt chẽ giữa sản xuất và chiến đấu theo phương châm tay cày tay súng, tạo tiền đề vững chắc cho các đòn tiến công chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam năm 1975.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc lấy lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Học thuyết chỉ rõ ba thứ quân tạo thành thể thống nhất vững chắc như thế kiềng ba chân, trong đó dân quân tự vệ là lực lượng vũ trang quần chúng rộng rãi nhất tại cơ sở, không thoát ly sản xuất. Luận văn triển khai mô hình phân tích kết hợp hai chân (quân sự và chính trị), ba mũi giáp công (quân sự, chính trị, binh vận) trên cả ba vùng chiến lược gồm rừng núi, nông thôn đồng bằng và đô thị.

Hệ thống khái niệm nòng cốt được chuẩn hóa bao gồm:

  • Lực lượng vũ trang nhân dân: Tổ chức quân sự chính quy và bán vũ trang đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng.
  • Dân quân tự vệ: Lực lượng vũ trang quần chúng tại chỗ, vừa lao động sản xuất vừa sẵn sàng chiến đấu, giữ gìn an ninh trật tự địa phương.
  • Du kích mật và tự vệ mật: Bộ phận bán vũ trang hoạt động hợp pháp hoặc bán hợp pháp sâu trong lòng địch, bảo vệ cơ sở và diệt ác trừ gian.
  • Xã - ấp chiến đấu: Điểm tựa tác chiến liên hoàn tại cơ sở, kết hợp công sự, hầm chông, bãi mìn và địa đạo.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ hơn 90 đầu tài liệu lưu trữ chuyên ngành tại Phòng Khoa học quân sự Quân khu 7, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Thư viện Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh cùng hệ thống văn kiện Đảng và báo cáo tổng kết chiến tranh giải phóng 1954 – 1975.

Quy trình khảo cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu tư liệu lịch sử có chủ đích, tập trung vào hồ sơ báo cáo thực tế chiến trường Đông Nam Bộ, bao gồm cả tài liệu lưu trữ từ phía Việt Nam Cộng hòa như Phiếu tin tức hoạt động Cộng sản – Việt Minh giai đoạn 1954 – 1958. Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát dữ liệu quân sự của 12 đơn vị hành chính cấp tỉnh và thành phố xuyên suốt 4 giai đoạn chiến lược (1954–1965, 1965–1968, 1968–1972, 1972–1975).

Phương pháp phân tích chủ đạo là sự kết hợp giữa phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc. Lý do lựa chọn phương pháp này xuất phát từ yêu cầu phải tái hiện chân thực các sự kiện theo trình tự thời gian khách quan, đồng thời khái quát hóa bản chất quy luật phát triển của phong tràu du kích chiến tranh. Bên cạnh đó, các phương pháp bổ trợ như thống kê, so sánh lịch sử và phân tích tài liệu định lượng được sử dụng để kiểm chứng độ xác thực của các con số tổn thất, số lượng vũ khí tự tạo và quy mô phát triển lực lượng qua từng năm.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu chứng minh sự phát triển vượt bậc về quân số và tổ chức của dân quân tự vệ sau Nghị quyết Trung ương 15 (năm 1959) và phong trào Đồng khởi năm 1960. Từ quy mô ban đầu chỉ khoảng 4.000 người trên toàn miền Nam năm 1959, lực lượng đã tăng 150% lên 10.000 người vào cuối năm 1960 và đạt mốc 70.000 người năm 1962 (tăng gấp hơn 17 lần so với năm 1959). Từ 34 trung đội tập trung năm 1959 đã phát triển mạnh thành 43 đại đội (tương đương 14 tiểu đoàn) vào cuối năm 1960. Tại tỉnh Tây Ninh, có tới 44 trên tổng số 49 xã xây dựng thành công các đội du kích vững mạnh, đạt tỷ lệ bao phủ gần 90%.

Thứ hai, luận văn làm rõ năng lực tự chủ vũ khí và hậu cần kỹ thuật tại chỗ của lực lượng dân quân. Trong giai đoạn 1964 – 1965, các huyện, xã miền Đông Nam Bộ đã tự sản xuất được 89 tấn vũ khí, chế tạo hơn 27.000 quả mìn tự tạo và hàng triệu bẫy chông sắt, chông tre từ việc tận dụng bom đạn lép của đối phương. Các sáng kiến chiến thuật độc đáo như tổ chức bẫy ong vò vẽ, giàn thun bắn lựu đạn, hố phóng lựu đạn chống trực thăng đổ bộ đã tạo ra hiệu suất chiến đấu cao với chi phí trang bị thấp.

Thứ ba, lực lượng dân quân tự vệ đóng vai trò cốt lõi trong việc đánh bại chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" và kế hoạch Staley – Taylor. Chỉ tính riêng nửa cuối năm 1961, dân quân du kích phối hợp cùng bộ đội địa phương đã bẻ gãy 1.253 trận càn quét cấp tiểu đoàn và 300 trận càn cấp trung đoàn, phá vỡ thế bao vây gom dân lập ấp chiến lược, bảo vệ an toàn các căn cứ đầu não kháng chiến như Chiến khu Đ và Dương Minh Châu.

Thảo luận kết quả

Sự lớn mạnh của dân quân tự vệ bắt nguồn từ đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn, biết dựa vào sức mạnh quần chúng lao động và khối liên minh công nông tại các nông trường cao su, nhà máy như Ba Son, Dĩ An và Dầu Tiếng. Đặc điểm phức tạp của địa bàn Đông Nam Bộ – nơi tập trung hơn 676.000 đồng bào Công giáo di cư năm 1954 và các lực lượng vũ trang giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo – đã đặt ra yêu cầu xây dựng mạng lưới tự vệ mật linh hoạt, bám trụ kiên cường ngay trong lòng đô thị Sài Gòn.

Dữ liệu phát triển lực lượng và hiệu suất tác chiến của đề tài có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ đường biểu diễn tốc độ tăng trưởng quân số du kích giai đoạn 1959 – 1965, kết hợp bảng ma trận phân bố lực lượng tự vệ mật tại các phân khu trọng điểm Sài Gòn – Gia Định (Bình Tân, Củ Chi, Gò Môn). Khi so sánh với các chiến trường đồng bằng sông Cửu Long hay Khu 5, dân quân Đông Nam Bộ mang đặc thù vừa phải đối đầu với mật độ cơ giới hóa, trực thăng vận cao của quân đội viễn chinh Mĩ, vừa phải làm nhiệm vụ tiếp tế, tải thương phục vụ các binh đoàn chủ lực tác chiến quy mô lớn.

Đề xuất và khuyến nghị

Từ kinh nghiệm lịch sử của lực lượng dân quân tự vệ miền Đông Nam Bộ giai đoạn 1954 – 1975, luận văn cung cấp cơ sở thực tiễn để đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược trong công tác quốc phòng an ninh thời kỳ mới:

  1. Đổi mới quy trình tuyển chọn và huấn luyện kỹ chiến thuật cho lực lượng dân quân tự vệ tại cơ sở, nâng tỷ lệ tham gia huấn luyện hằng năm đạt tối thiểu 95% quân số, hoàn thành trong giai đoạn 2026 – 2030 dưới sự chỉ đạo của Bộ Chỉ huy Quân sự các tỉnh, thành phố.
  2. Tăng cường xây dựng các phân đội tự vệ cơ động, tự vệ mật trong các khu công nghiệp, doanh nghiệp chế xuất và đô thị lớn, phấn đấu 100% doanh nghiệp có quy mô trên 500 lao động thành lập đơn vị tự vệ trước năm 2028 do Ban Chỉ huy Quân sự cấp huyện chủ trì.
  3. Hoàn thiện chính sách đãi ngộ, bảo đảm trang bị công cụ hỗ trợ hiện đại và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý quân số dự bị động viên, đặt mục tiêu nâng mức hỗ trợ ngày công lao động thêm 30% trong lộ trình 3 năm tới dưới sự điều phối của Bộ Quốc phòng và chính quyền địa phương.
  4. Đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, bồi dưỡng bản lĩnh tư tưởng và truyền thống đấu tranh cách mạng cho thế hệ trẻ, đưa chương trình học tập lịch sử chiến tranh nhân dân vào 100% cơ sở giáo dục đại học và cao đẳng trong giai đoạn 2026 – 2030.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Học viên, nghiên cứu sinh chuyên ngành Lịch sử và Khoa học Quân sự: Khai thác hệ thống hơn 90 tư liệu lưu trữ xác thực và khung phân tích chuyên sâu về nghệ thuật chiến tranh nhân dân địa phương để phục vụ viết luận văn, luận án.
  • Cán bộ chỉ huy quân sự các cấp: Ứng dụng bài học tổ chức xã - ấp chiến đấu liên hoàn và phương thức tác chiến phân tán để xây dựng phương án phòng thủ khu vực trong điều kiện chiến tranh công nghệ cao.
  • Giảng viên và giáo viên bộ môn Lịch sử: Bổ sung hơn 20 sự kiện, số liệu lịch sử cụ thể về phong trào du kích Đông Nam Bộ vào bài giảng chuyên đề lịch sử kháng chiến chống Mĩ cứu nước.
  • Cơ quan tham mưu chính sách quốc phòng toàn dân: Tham khảo mô hình xây dựng lực lượng tự vệ trong doanh nghiệp và địa bàn đô thị phức tạp nhằm hoàn thiện Luật Dân quân tự vệ sửa đổi.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Lực lượng dân quân tự vệ miền Đông Nam Bộ được phân chia thành những thành phần nào trong kháng chiến chống Mĩ?
Dân quân tự vệ gồm hai lực lượng chính: du kích tại các làng xã nông thôn và tự vệ tại các đô thị, xí nghiệp, đồn điền cao su. Tùy theo phương thức hoạt động, lực lượng còn được chia thành du kích thoát ly, du kích bán thoát ly và mạng lưới tự vệ mật hoạt động bí mật trong lòng địch.

Câu hỏi 2: Số lượng dân quân tự vệ toàn miền Nam tăng trưởng như thế nào sau phong trào Đồng khởi 1960?
Dưới tác động của Nghị quyết Trung ương 15 và cao trào Đồng khởi, số lượng dân quân du kích toàn miền Nam đã tăng nhảy vọt từ khoảng 4.000 người năm 1959 lên 10.000 người năm 1960, sau đó phát triển mạnh mẽ lên hơn 70.000 người vào năm 1962.

Câu hỏi 3: Lực lượng dân quân tự vệ Đông Nam Bộ tự giải quyết vấn đề vũ khí trang bị bằng cách nào?
Bên cạnh nguồn chi viện từ miền Bắc, dân quân tự vệ phát huy tinh thần tự lực bằng cách tự chế tạo 89 tấn vũ khí trong giai đoạn 1964 – 1965, sản xuất hơn 27.000 quả mìn, tận dụng bom đạn lép của đối phương và sử dụng vũ khí tự tạo thô sơ như hầm chông, bẫy ong vò vẽ.

Câu hỏi 4: Vai trò của tự vệ mật tại khu vực đô thị Sài Gòn – Gia Định là gì?
Tự vệ mật gồm các tổ chức nhỏ từ 3 đến 5 người, hoạt động bán công khai trong các nhà máy, xí nghiệp, trường học. Lực lượng này làm nhiệm vụ thám thính, trừ gian diệt ác, bảo vệ cơ sở cách mạng và phối hợp với lực lượng đặc công, biệt động nội thành trong các đợt tiến công.

Câu hỏi 5: Bài học kinh nghiệm lớn nhất rút ra từ tổ chức dân quân tự vệ Đông Nam Bộ là gì?
Đó là bài học kiên định nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt; luôn gắn kết xây dựng lực lượng vũ trang với giác ngộ chính trị quần chúng, kết hợp chặt chẽ giữa lao động sản xuất và sẵn sàng chiến đấu trên cả ba vùng chiến lược.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện 21 năm xây dựng và tác chiến của dân quân tự vệ miền Đông Nam Bộ qua 4 giai đoạn chiến lược (1954 – 1975).
  • Khẳng định bước nhảy vọt về quy mô từ 4.000 người năm 1959 lên 70.000 người năm 1962, chứng minh tính đúng đắn của đường lối chiến tranh nhân dân.
  • Làm rõ năng lực tự chủ kỹ thuật qua việc sản xuất 89 tấn vũ khí trang bị và hơn 27.000 quả mìn tự tạo phục vụ phong trào bám đất giữ làng.
  • Đúc kết các bài học sâu sắc về xây dựng thế trận ba thứ quân liên hoàn, có giá trị vận dụng trực tiếp vào công tác quốc phòng an ninh hiện đại.
  • Cung cấp nguồn tư liệu học thuật chuẩn xác cho các nhà nghiên cứu, giảng viên và cán bộ quân sự tham khảo trong giai đoạn 2026 – 2030.

Hãy tìm đọc toàn văn Luận văn Thạc sĩ Lịch sử Việt Nam của tác giả Nguyễn Thị Cảnh tại thư viện trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh để nghiên cứu sâu hơn các cứ liệu lịch sử và bài học nghệ thuật quân sự quý báu!