Lực Lượng Dân Quân Tự Vệ Ở Miền Đông Nam Bộ Trong Kháng Chiến Chống Đế Quốc Mỹ (1954 – 1975)

Chuyên khảo phân tích Lực lượng dân quân tự vệ ở miền đông nam bộ trong kháng chiến chống đế quốc mĩ 1954 1975, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp

Chuyên ngành

Lịch sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2015

151
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan Lực Lượng Dân Quân Tự Vệ Miền Đông Nam Bộ

Miền Đông Nam Bộ, với vị trí chiến lược quan trọng, đã trở thành một chiến trường khốc liệt trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Kế thừa truyền thống đánh giặc của dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã phát động cuộc chiến tranh nhân dân, xây dựng thế trận vững chắc với ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ. Lực lượng dân quân tự vệ đóng vai trò nòng cốt trong phong trào chiến tranh du kích tại cơ sở. Đây là lực lượng vũ trang quần chúng không thoát ly sản xuất, công tác, là bộ phận cấu thành của lực lượng vũ trang cách mạng do Đảng lãnh đạo. Góp phần thực hiện phương châm "toàn dân đánh giặc", lực lượng này đã góp phần đánh bại cuộc chiến tranh phi nghĩa của đế quốc Mỹ.

1.1. Khái niệm và vai trò của dân quân tự vệ trong chiến tranh Việt Nam

Dân quân tự vệ là lực lượng vũ trang quần chúng, không thoát ly sản xuất, công tác, là một bộ phận cấu thành của lực lượng vũ trang cách mạng. Lực lượng này do Đảng, nhà nước tổ chức, lãnh đạo, quản lý. Đây là lực lượng nòng cốt thực hiện phương châm toàn dân đánh giặc trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Lực lượng dân quân tự vệ đã góp phần đánh bại chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ.

1.2. Vị trí chiến lược của miền Đông Nam Bộ trong kháng chiến chống Mỹ

Miền Đông Nam Bộ là địa bàn chiến lược quan trọng, có nhiều tiềm năng về tự nhiên và xã hội. Nơi đây là chiến trường tranh chấp dai dẳng, quyết liệt giữa ta và địch trong suốt 30 năm chiến tranh giải phóng. Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ trương tiến hành một cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, hình thành nên một thế trận chiến tranh nhân dân với lực lượng vũ trang được xây dựng rộng rãi.

II. Thách Thức Xây Dựng Dân Quân Tự Vệ 1954 1965 tại MNĐNB

Giai đoạn 1954-1965, việc xây dựng lực lượng dân quân tự vệmiền Đông Nam Bộ đối mặt với nhiều khó khăn. Sự đàn áp của chính quyền Ngô Đình Diệm, chiến lược "tố cộng, diệt cộng" gây nhiều tổn thất cho phong trào cách mạng. Địa bàn hoạt động phức tạp, địch kiểm soát gắt gao, gây khó khăn cho việc xây dựng và phát triển lực lượng. Tuy nhiên, với tinh thần yêu nước và sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, lực lượng dân quân tự vệ vẫn từng bước được củng cố và phát triển.

2.1. Khó khăn do chính sách đàn áp của chính quyền Sài Gòn

Chính quyền Ngô Đình Diệm thực hiện chính sách "tố cộng, diệt cộng" một cách tàn bạo, gây ra nhiều tổn thất cho phong trào cách mạng ở miền Đông Nam Bộ. Hàng loạt cán bộ, đảng viên bị bắt bớ, giam cầm, thậm chí bị thủ tiêu. Điều này gây ảnh hưởng lớn đến việc xây dựng và phát triển lực lượng dân quân tự vệ.

2.2. Địa hình và điều kiện tác chiến phức tạp ở địa bàn miền Đông Nam Bộ

Miền Đông Nam Bộ có địa hình phức tạp, nhiều rừng núi, sông ngòi. Điều này gây khó khăn cho việc di chuyển, liên lạc và tác chiến của lực lượng dân quân tự vệ. Hơn nữa, địch kiểm soát gắt gao các tuyến giao thông, gây khó khăn cho việc cung cấp vũ khí, lương thực và thuốc men cho lực lượng dân quân tự vệ.

2.3. Trang bị vũ khí thô sơ và thiếu thốn của dân quân tự vệ ban đầu

Trong giai đoạn đầu, lực lượng dân quân tự vệmiền Đông Nam Bộ chủ yếu sử dụng vũ khí thô sơ như giáo, mác, súng kíp tự chế. Nguồn cung cấp vũ khí, đạn dược từ hậu phương còn hạn chế. Điều này ảnh hưởng lớn đến sức chiến đấu và khả năng hoàn thành nhiệm vụ của lực lượng.

III. Phương Pháp Xây Dựng Dân Quân Tự Vệ Vững Mạnh 1965 1972

Giai đoạn 1965-1972 chứng kiến sự leo thang chiến tranh của đế quốc Mỹ ở miền Nam. Để đáp ứng yêu cầu của cuộc chiến, Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương, biện pháp xây dựng lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh. Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao tinh thần chiến đấu cho cán bộ, chiến sĩ. Tổ chức huấn luyện quân sự, kỹ thuật, chiến thuật bài bản, giúp dân quân tự vệ nâng cao trình độ tác chiến. Chú trọng xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh, phát triển phong trào toàn dân đánh giặc.

3.1. Tăng cường giáo dục chính trị và tư tưởng cho dân quân tự vệ

Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng được đặc biệt chú trọng, giúp cán bộ, chiến sĩ dân quân tự vệ nâng cao nhận thức về mục tiêu, lý tưởng cách mạng, về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Thông qua đó, củng cố niềm tin, ý chí chiến đấu, sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc.

3.2. Đổi mới công tác huấn luyện quân sự và kỹ thuật cho dân quân tự vệ

Công tác huấn luyện quân sự, kỹ thuật, chiến thuật được đổi mới, chú trọng huấn luyện sát thực tế chiến đấu. Dân quân tự vệ được trang bị kiến thức, kỹ năng sử dụng vũ khí, trang bị hiện đại, biết cách đánh du kích, phục kích, tiêu hao sinh lực địch. Đồng thời, chú trọng huấn luyện kỹ năng phối hợp tác chiến với các lực lượng khác.

3.3. Phát huy vai trò nòng cốt của dân quân tự vệ trong phong trào toàn dân đánh giặc

Dân quân tự vệ được xác định là lực lượng nòng cốt trong phong trào toàn dân đánh giặc. Lực lượng này tích cực tham gia các hoạt động tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia kháng chiến, xây dựng làng xã chiến đấu, bảo vệ sản xuất, giữ gìn an ninh trật tự.

IV. Thành Tích Bài Học Kinh Nghiệm từ Dân Quân Tự Vệ MNĐNB

Lực lượng dân quân tự vệmiền Đông Nam Bộ đã lập nhiều chiến công hiển hách trong kháng chiến chống Mỹ. Tham gia đánh hàng ngàn trận lớn nhỏ, tiêu diệt hàng vạn tên địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh. Góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Những thành tích đó thể hiện tinh thần chiến đấu dũng cảm, mưu trí, sáng tạo của dân quân tự vệ, đồng thời rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quý báu.

4.1. Những thành tích chiến công tiêu biểu của dân quân tự vệ

Dân quân tự vệ đã lập nhiều chiến công vang dội, góp phần vào thắng lợi chung của cuộc kháng chiến. Tiêu biểu như tham gia các chiến dịch lớn như Đồng Xoài, Bình Giã, Tết Mậu Thân, Đường 14 - Phước Long, đặc biệt là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Ngoài ra, dân quân tự vệ còn tham gia đánh địch trên các tuyến giao thông, bảo vệ kho tàng, bệnh viện, trường học.

4.2. Bài học kinh nghiệm về xây dựng lực lượng và tác chiến từ thực tiễn

Thực tiễn xây dựng và chiến đấu của dân quân tự vệmiền Đông Nam Bộ đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu. Đó là phải dựa vào dân, phát huy sức mạnh toàn dân đánh giặc. Phải xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh, bồi dưỡng cán bộ, chiến sĩ có phẩm chất đạo đức tốt, trình độ chuyên môn cao. Phải linh hoạt, sáng tạo trong cách đánh, phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương.

4.3. Tinh thần chiến đấu dũng cảm và sáng tạo của lực lượng dân quân

Sự sáng tạo của lực lượng dân quân được thể hiện ở cách đánh du kích linh hoạt, tận dụng địa hình, địa vật để tiêu hao sinh lực địch. Nhiều cách đánh sáng tạo đã được áp dụng, mang lại hiệu quả cao, gây bất ngờ cho đối phương. Tinh thần dũng cảm của lực lượng dân quân được thể hiện qua những tấm gương hy sinh quên mình, sẵn sàng chiến đấu đến hơi thở cuối cùng.

V. Vai Trò Dân Quân Tự Vệ với Kháng Chiến Chống Mỹ 1972 1975

Trong giai đoạn 1972-1975, lực lượng dân quân tự vệ tiếp tục phát huy vai trò quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tham gia bảo vệ vùng giải phóng, hỗ trợ bộ đội chủ lực đánh địch. Góp phần giải phóng hoàn toàn miền Đông Nam Bộ, tiến tới giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Vai trò này khẳng định sự lớn mạnh của lực lượng dân quân tự vệ.

5.1. Bảo vệ vững chắc vùng giải phóng và hậu phương vững chắc

Với vai trò quan trọng trong chiến tranh nhân dân, dân quân tự vệ góp phần bảo vệ vùng giải phóng, xây dựng hậu phương vững chắc. Bên cạnh đó, ngăn chặn các hoạt động phá hoại của địch, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.

5.2. Hỗ trợ bộ đội chủ lực trong các chiến dịch tiến công đế quốc Mỹ

Dân quân tự vệ tham gia hỗ trợ bộ đội chủ lực trong các chiến dịch lớn, cung cấp thông tin tình báo, dẫn đường, bảo đảm hậu cần. Tham gia vận chuyển vũ khí, lương thực, thuốc men, cứu thương, giúp bộ đội chủ lực hoàn thành nhiệm vụ.

5.3. Tham gia vào Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng miền Đông Nam Bộ

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, lực lượng dân quân tự vệmiền Đông Nam Bộ đã phối hợp với bộ đội chủ lực đánh chiếm các mục tiêu quan trọng, góp phần giải phóng hoàn toàn miền Đông Nam Bộ, tạo tiền đề cho việc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

VI. Kết Luận Giá Trị Lịch Sử và Tương Lai của Dân Quân Tự Vệ

Lịch sử xây dựng và chiến đấu của lực lượng dân quân tự vệmiền Đông Nam Bộ trong kháng chiến chống Mỹ là một trang sử hào hùng, thể hiện tinh thần yêu nước, ý chí cách mạng, sự sáng tạo của nhân dân ta. Những bài học kinh nghiệm từ quá khứ vẫn còn nguyên giá trị trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Cần tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang của dân quân tự vệ, xây dựng lực lượng này ngày càng vững mạnh, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.

6.1. Giá trị lịch sử và ý nghĩa của việc nghiên cứu về dân quân tự vệ

Nghiên cứu về dân quân tự vệmiền Đông Nam Bộ trong kháng chiến chống Mỹ có ý nghĩa quan trọng về mặt khoa học và thực tiễn. Góp phần làm rõ thêm về đường lối chiến tranh nhân dân, về vai trò của lực lượng vũ trang quần chúng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Đồng thời, giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ.

6.2. Tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang của dân quân tự vệ trong xây dựng đất nước

Trong bối cảnh hiện nay, cần tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang của dân quân tự vệ, xây dựng lực lượng này ngày càng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Trang bị vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại, nâng cao trình độ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

6.3. Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh đáp ứng yêu cầu mới

Lực lượng dân quân tự vệ phải luôn được xây dựng, củng cố và phát triển, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Chú trọng xây dựng lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và chuyên môn nghiệp vụ, trang bị vũ khí phù hợp, tăng cường khả năng sẵn sàng chiến đấu.

25/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu và cũng là nơi kết thúc cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc.3 Truyền thống đấu tranh của lực lượng vũ trang địa phương Đông Nam Bộ 1.1 Từ 1858 –trước 1930 Cư dân miền Đông Nam Bộ có nguồn gốc từ miền Bắc và miền Trung vào không chỉ vì “tha phương cầu thực” mà còn để đi tìm cuộc sống tự do, thoát khỏi sự áp bức bóc lột của chế độ phong kiến Trịnh – Nguyễn; góp phần chinh phục thiên nhiên, khai phá mở mang bờ cõi. Về sau, triều đình nhà Nguyễn tổ chức nhiều đợt di dân quy mô lớn để khai hoang lập ấp mở rộng quyền kiểm soát về phía Nam xây dựng nên xứ Đồng Nai – Bến Nghé. Nhìn chung, miền Đông Nam Bộ là một vùng đất mới khai phá, cư dân cư tụ về đây từ nhiều địa phương với nhiều lý do khác nhau…Nhưng tuyệt đại đa số họ là những con người nghèo khổ, cần cù lao động, làm chủ thiên nhiên, và có tinh thần, dũng khí đấu tranh chống lại áp bức, bóc lột và từ đó họ gắn bó với nhau thành một 22 khối đoàn kết thống nhất. Vì vậy, khi có ngoại xâm họ đoàn kết với nhau thành một khối thống nhất chống ngoại xâm.

Năm 1785 chính họ đã cùng với nghĩa quân Tây Sơn làm nên chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút, tiêu diệt gần 40.000 quân Xiêm, đập tan âm mưu xâm lược của chúng, đây là chiến thắng lịch sử vang dội nhất lúc bấy giờ ở miền đất phương Nam. Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng tại bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), mở đầu cho công cuộc xâm lược Việt Nam của chúng. Sau đó, tháng 2- 1959, chúng tấn công Sài Gòn. Những người dân Đông Nam Bộ không sợ chết bằng gươm giáo, tầm vông, cây chông đã chống chọi kiên cường với “súng sắt, tàu đồng” (1859 -1861) ngay khi thực dân Pháp đặt chân lên Sài Gòn.

Trong khi triều đình nhà Nguyễn bạc nhược liên tiếp ký các hiệp ước đầu hàng thì quân và dân miền Đông Nam Bộ đã không ngừng đứng lên chiến đấu chống xâm lược, cả trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa và mặt trận quân sự, vũ trang. Cùng với các cuộc đấu tranh không khoan nhượng của các trí thức yêu nước như Hồ Huấn Nghiệp, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn thông…là hàng loạt các cuộc khởi nghĩa kế tiếp nhau đứng đầu là các sĩ phu, tiêu biểu như : Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Phan Văn Đạt …với những câu nói bất hủ “Bao giờ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây”. Tấm gương nghĩa khí của họ đã góp phần làm nên “hào khí Đồng Nai”, khơi dậy tinh thần bất khuất chống ngoại xâm. Mở đầu là trận tập kích đánh chìm tàu Pháp trên sông Nhật Tảo ngày 10 -12 - 1861, Nguyễn Trung Trực cùng với các nghĩa binh Tân An liên tục gây cho địch nhiều thiệt hại từ Tân An về Cao Lãnh, Hà Tiên, Rạch Gía, Phú Quốc…cho đến khi ông bị quân Pháp bắt và xử tử năm 1868.

Cũng khởi binh từ năm 1861, nghĩa quân do Trương Định lãnh đạo lập căn cứ kháng Pháp ở vùng đám lá tối trời Gò Công, Rừng Sác. Lực lượng của ông lên tới 6.000 người, hoạt động trên một vùng rộng lớn từ Gò Công lên Mỹ Tho, Tân An, Chợ Lớn, Gia Định và miệt biên giới Việt Nam – Campuchia. Nghĩa quân Trương Định đã làm nên những chiến thắng nổi tiếng như trận Cần Giuộc (16-12-1861), trận Rạch Tra…Sau khi nhà Nguyễn kí Hòa ước Nhâm Tuất (5-6-1862), Trương Đinh được nhân dân và nghĩa binh tôn làm “Bình Tây đại nguyên Soái”, tiếp tục chỉ huy đánh Pháp cho đến khi hy sinh vào năm 1864. 23 Bên cạnh cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Trung Trực, Trương Định lãnh đạo còn có nhiều cuộc khởi nghĩa khác cũng lôi kéo được đông đảo nhân dân tham gia như các cuộc khởi nghĩa của Trương Quyền (con Trương Định), Võ Duy Dương… Cuộc khởi nghĩa của 18 thôn Vườn Trầu dưới sự lạnh đạo của Nguyễn Văn Bường và Phan Công Hữu năm 1886.

Phong trào Thiên Địa Hội của Phan Xích Long năm 1913. Phong trào Thanh niên Cao vọng đảng và hoạt động của Nguyễn An Ninh trong những năm 1929 đến 1930…là những phong trào yêu nước chống Pháp liên tiếp nổ ra ở miền Đông mặc dù chưa giành được thắng lợi quyết định nhưng nó tiêu biểu cho tinh thần đấu tranh bất khuất của nhân dân miền Đông Nam Bộ khi chưa có Đảng. Tinh thần ấy là cơ sở cho phong trào đấu tranh cách mạng của công nhân, nhân dân lao động và trí thức, tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lê nin và tiếp tục phát triển mạnh mẽ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản. Từ 1930 -1945 Năm 1930, Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời.

Sau đó, lần lượt các tổ chức cộng sản được thành lập ở hầu khắp các tỉnh miền Đông Nam Bộ như Phú Riềng, Ba Son, Bà Điềm, Bình An, Dầu Tiếng…Từ đây, phong trào đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc diễn ra dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản. Từ cuối năm 1939, diễn biến phong trào cách mạng trong nước với những biến động trên thế giới đã đặt “hoàn cảnh Đông Dương sẽ tiến bước đến vấn đề giải phóng dân tộc”. Tháng 11- 1939, tại Bà Điểm (Gia Định), Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp hội nghị lần thứ 6 quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, hướng cách mạng Việt Nam vào giai đoạn vũ trang “đánh đổ đế quốc Pháp, chống lại tất cả ách ngoại xâm, vô luận da trắng hay da vàng, để tranh lấy giải phóng dân tộc”. Hội nghị chủ trương thành lập các đội tự vệ chiến đấu: “Đội tự vệ phải to rộng, đủ dũng cảm và điềm tĩnh, khôn khéo và hy sinh bảo vệ quần chúng” Quán triệt tinh thần của hội nghị Đảng lần 6, khắp các tỉnh miền Đông Nam Bộ công tác chuẩn bị cho khởi nghĩa diễn ra mạnh mẽ.

Hầu khắp các địa phương đều có chi bộ Đảng, có phong trào mạnh đều thành lập được các đội du kích, đội tự vệ, đội cảm tử. Đêm 22, rạng ngày 23- 11- 1940, khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ. Trước đó, kế hoạch khởi nghĩa bị lộ, quân Pháp đã bố trí sẵn lực lượng và chuẩn bị kế hoạch đàn 24 áp. Nhiều cán bộ lãnh đạo chủ chốt bị bắt trước giờ khởi nghĩa nên mệnh lệnh khởi nghĩa không được thực hiện thống nhất.

Mặc dù vậy, theo kế hoạch định sẵn, quân khởi nghĩa đã nổi dậy và chiến đấu quyết liệt với địch ở Gia Định, Chợ Lớn, Tân An, Tây Ninh, Biên Hòa, Thủ Dầu Một và nhiều địa phương khác. Tại Chợ Lớn, quân khởi nghĩa tổ chức thành hai lực lượng: lực lượng nổi dậy tại chỗ và lực lượng phục kích dọc đường Đông Dương 16 và tham gia nổi dậy ở thành phố Sài Gòn. Riêng lực lượng nổi dậy tại chỗ ở Đức Hòa, Trung Quận, Cần giuộc, mỗi nơi có từ 400 đến 500 người. Cuộc khởi nghĩa diễn ra gần như đồng loạt ở khắp các quận, đặc biệt quyết liệt ở các quận Đức Hòa, Trung Quận.

Ngụy quyền cơ sở bị tan rã hoặc tê liệt ở một số xã. Quân du kích thu tổng cộng được 16 súng. Sau đó, nghĩa quân phân loại thành nhiều bộ phận. Một bộ phận ém quân nằm im ở khu vực Chánh Hưng, Rừng Sác.

Một bộ phận rút vào Đồng Tháp Mười, xây dựng căn cứ ở khu vực các xã Bình Hòa, Bình Thành, Thạnh Lợi. Bộ phận còn lại gia nhập vào lực lượng nghĩa quân Gia Định kéo lên Truông Mít sau đó về Đồng Tháp Mười. Tại Tân An, dưới sự lãnh đạo thống nhất của Ban khởi nghĩa tỉnh, cuộc khởi nghĩa diễn ra quyết liệt ngay từ đầu ở khắp các quận Thủ Thừa, Châu Thành, Mộc Hóa. Quân du kích thu được 22 súng của giặc, sau đó rút về Mộc Hóa, sâu vào Đồng Tháp Mười, khu vực các xã Bình Hòa, Bình Thành, Thạnh Lợi, xây dựng căn cứ Mớp xanh –Bo Bo.

Tại đây nghĩa quân của Tân An hợp với các bộ phận của Gia Định, Chợ Lớn kéo về xây dựng thành một lực lượng thống nhất, gồm 120 người, 30 súng các loại. Lực lượng có tổ chức Đảng, ban chỉ huy quân sự chung và các tiểu ban như quân sự, tuyên truyền báo chí, y tế,tòa án quân sự…Theo báo cáo của viên chủ tỉnh Tân An, quân du kích có 3 đội hàng ngày luyện tập, đạn có khoảng 30 viên, mua thêm 500 viên, 2 thùng thuốc súng và 600 súng. Sau nhiều cuộc càn quét của địch, trong 3 tháng năm 1940, căn cứ Mớp xanh – Bo Bo giải thể. Tại Thủ Dầu Một, cuộc khởi nghĩa diễn ra tại nhiều điểm ở Châu Thành, Lái Thiêu, Bến Cát.

Công nhân cao su, nông dân có lực lượng du kích làm nòng cốt chặt cây phá đường, cắt dây điện thoại, rải truyền đơn, mít tinh diễn thuyết và tập kích một vài vị trí nhỏ lẻ. Sau khi bị địch khủng bố, hầu hết các chiến sĩ quân du kích trở về địa phương. Còn lại về rừng cao su Hớn Quản, Thuận Lợi lập căn cứ. 25 Tại Biên Hòa, tỉnh ủy chỉ đạo thành lập một đội vũ trang trên 30 người tại Mỹ Lộ do Huỳnh Liễn chỉ huy.

Trước sự khủng bố của địch, quân du kích chưa kịp khởi nghĩa buộc phải phân tán trở về địa phương. Riêng đơn vị vũ trang Mỹ Lộc còn 12 người, 2 súng tiếp tục tồn tại, dựa vào rừng Tân Uyên để củng cố lực lượng, tiến hành vũ trang tuyên truyền và tập kích địch ở quy mô nhỏ lẻ. Như vậy, trước và trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, khắp các tỉnh miềnĐông Nam Bộ đã hình thành một lực lượng dân du kích đông hàng ngàn người. Đó chính là lực lượng vũ trang cách mạng đầu tiên ở Nam Bộ.

Từ mùa thu 1943, phong trào cách mạng ở thành phố Sài Gòn và các tỉnh miền Đông Nam Bộ dần dần phục hồi và phát triển. Phong trào xây dựng lực lượng xung kích tự sắm sửa vũ khí diễn ra âm thầm ở khắp nơi. Cuối 1944, đầu 1945, tình hình trong và ngoài nước có những chuyển biến hết sức khẩn trương. Cách mạng Việt Nam bước sang giai đoạn tiền khởi nghĩa.

Phong trào đấu tranh chống phát xít Nhật diễn ra mạnh mẽ trên địa bàn Sài Gòn và các tỉnh miền Đông Nam Bộ. Nhân dân tự sắm sửa giáo mác, gậy tầm vông…tìm cách lấy vũ khí của địch .Ở nhiều địa phương, nhân dân còn tổ chức mò vớt súng của địch ném dưới sông hoặc trong các tàu chiến bị đánh chìm, lấy súng của bọn địa chủ, bọn cai xếp của đồn điền cao su. Tại các tỉnh, các nhà máy, các đồn điền cao su thành lập những đơn vị vũ trang xung kích, những đội Thanh niên cứu quốc, Tự vệ chiến đấu quân.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Lực Lượng Dân Quân Tự Vệ Ở Miền Đông Nam Bộ Trong Kháng Chiến Chống Đế Quốc Mỹ (1954 – 1975)" cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò và sự phát triển của lực lượng dân quân tự vệ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ tại miền Đông Nam Bộ. Tài liệu nêu bật những chiến lược, tổ chức và hoạt động của lực lượng này, đồng thời phân tích những đóng góp quan trọng của họ trong việc bảo vệ quê hương và hỗ trợ cho các lực lượng chính quy. Độc giả sẽ nhận thấy rằng việc hiểu rõ về lực lượng dân quân tự vệ không chỉ giúp họ nắm bắt được bối cảnh lịch sử mà còn khơi dậy lòng tự hào về những nỗ lực của nhân dân trong cuộc chiến giành độc lập.

Để mở rộng kiến thức về các khía cạnh khác của cuộc kháng chiến, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn căn cứ tỉnh ủy sóc trăng trong kháng chiến chống mỹ cứu nước 1954 1975, nơi khám phá vai trò của các căn cứ địa trong cuộc kháng chiến. Ngoài ra, tài liệu Luận văn đóng góp của phụ nữ bến tre trong kháng chiến chống mĩ cứu nước 1954 1975 sẽ giúp bạn hiểu thêm về sự tham gia của phụ nữ trong cuộc chiến. Cuối cùng, tài liệu Luận án căn cứ kháng chiến khu sài gòn gia định trong kháng chiến chống mỹ 1954 1975 sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về các hoạt động kháng chiến tại khu vực Sài Gòn - Gia Định. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về cuộc kháng chiến chống Mỹ và những nhân tố quan trọng đã góp phần vào thắng lợi của dân tộc.