Chương 1. Sự ra đời của Nhà D67. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương ban hành những quyết định chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tại Nhà D67. Vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị di tích Nhà D67.
5 z Chƣơng 1 SỰ RA ĐỜI CỦA NHÀ D67 1. Bối cảnh ra đời Nhà D67 Nhà D67 hay còn gọi là nhà họp của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương được xây dựng vào năm 1967 và được đưa vào sử dụng tháng 9 năm 1968. Tại nơi đây từ năm 1968 đến năm 1975 đã diễn ra nhiều hội nghị cơ mật của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Từ Nhà D67, nhiều mệnh lệnh, chỉ thị quan trọng của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương đã được ban ra để chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.
Trong vòng 7 năm, Nhà D67 đã trở thành trái tim của Tổng hành dinh trong kháng chiến chống Mỹ. Tổng hành dinh là để chỉ khu vực Thành cổ Hà Nội. Đây là nơi làm việc của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh, và các cơ quan của Bộ Quốc phòng: Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Kỹ thuật, Tổng cục Hậu cần…là trung tâm đầu não nơi đề ra những chủ trương, những quyết định, kế hoạch chiến lược, chỉ thị quan trọng đúng thời điểm, thời cơ để quân và dân cả nước tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giành thắng lợi. Công trình quân sự Nhà D67 là một trong những thành phần cấu thành nên quần thể di tích cách mạng trong khu vực này.
Tổng hành dinh đóng trên một địa bàn rất đặc biệt, Thành cổ Hà Nội hay còn gọi là Thành Thăng Long - nơi từng là trung tâm đầu não của cả nước trong nhiều thế kỷ và cho đến tận ngày nay. Trải qua một thời gian dài, vị thế của Thành Thăng Long có lúc suy lúc thịnh, nhưng phần lớn thời gian nó vẫn là trái tim của cả nước. Từ thế kỷ thứ XI khi Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư về Đại La, cho xây dựng Thành Thăng Long trên nền cũ La Thành xưa, trải qua các triều đại phong kiến, Thành Thăng Long ngày càng được xây dựng mở rộng và hoàn thiện trở thành kinh đô của nền văn hóa Thăng Long rực rỡ nổi tiếng trong nhiều thế kỷ. Vị thế đó tồn tại liên tục trong gần 800 trăm năm, trừ khoảng thời gian 2 thập kỷ đứt đoạn khi nhà Hồ chuyển kinh về Tây Đô rồi để mất nước vào tay giặc Minh.
Trong nhiều năm đóng vai trò là trung tâm của đất nước, Thăng Long - Hà Nội cũng như 6 z nhiều đô thị cổ Việt Nam đã phải chịu nhiều thăng trầm của lịch sử: chiến tranh, thời gian, sự thay đổi của các triều đại đã tàn phá khiến Thành cổ không còn như xưa. Năm 1802, triều Nguyễn được thành lập. Vua Gia Long quyết định đóng đô tại Phú Xuân - Huế. Từ đây, kinh thành Thăng Long phải chịu một sự chuyển đổi lớn: từ kinh thành trong hơn 800 năm trước trở thành Trấn thành, rồi dần dần trở thành tỉnh thành, quy mô của Thành Thăng Long cũng được thu hẹp lại theo vai trò mới của nó.
Năm 1805, vua Gia Long đã cho phá thành cũ do nhà Lê xây đắp để xây lại một tòa thành mới có quy mô nhỏ hơn thành Thăng Long. Vị thế kinh đô của Thăng Long không còn nữa, tòa thành tàn lụi dần. Sự lụi tàn của kinh thành Thăng Long được Bà huyện Thanh Quan mô tả lại trong bài thơ Thăng Long hoài cổ như sau: “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo Nền cũ lâu đài bóng tịch dương” Cuối thế kỷ XIX, Việt Nam rơi vào ách thống trị của thực dân Pháp. Hà Nội lại trở thành trung tâm chính trị, quân sự, văn hóa và kinh tế của chính quyền thực dân, là thủ phủ của Liên bang Đông Dương.
Các công sở Liên bang Đông Dương, các lực lượng quân sự quan trọng đều tập trung ở Hà Nội. Ngày 15 tháng 3 năm 1874, ngay khi triều đình ký Hiệp ước Giáp Tuất, công nhận người Pháp được quyền cư trú và đặt lãnh sự ở 3 nơi: Hà Nội, Hải Phòng, và Quy Nhơn, người Pháp đã bắt đầu công việc xây dựng đầu tiên. Ngày 10/8/1874, thực dân Pháp khởi công xây dựng các công trình kiên cố tại Hà Nội bao gồm: tòa lãnh sự, nhà ở các sĩ quan, trại lính. Trong đó, Hoàng thành cũ được chọn làm nơi đặt trụ sở của bộ máy chỉ huy quân sự.
Trong Hoàng thành, các dinh thự cũ bị triệt phá để lấy chỗ xây dựng trại lính cùng các công trình quân sự của người Pháp. Năm 1886, Điện Kính Thiên, và nhiều kiến trúc khác của Hoàng thành đã bị phá hủy để biến thành khu vực quân sự của chính quyền thực dân. Chỉ có cột cờ được giữ lại làm nơi đóng quân của một trại lính thông tin. 7 z Trong những năm 1888 - 1918, thời kỳ Pháp tiến hành chương trình khai thác thuộc địa, Hoàng thành bị người Pháp phá hủy nốt những bức tường thành cổ chỉ để lại cổng chính Bắc với vết đạn công thành để xây dựng Sở chỉ huy pháo binh, trại lính.
Đây là các công trình hai tầng, kiên cố và có kiến trúc đơn giản, mặt bằng hình chữ nhật, xung quanh có hành lang rộng. Đến khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc năm 1954, với việc Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ công nhận độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam, Thành cổ lại trở thành Tổng hành dinh của Quân đội nhân dân Việt Nam - nơi Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh, Bộ Tổng Tham mưu làm việc, lãnh đạo, chỉ huy trong thời kỳ hòa bình xây dựng và trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ngày 10/10/1954, sau khi người lính Pháp cuối cùng rút khỏi Hà Nội. Đại đoàn 308 cùng Trung đoàn 57 (Đại đoàn 304) và các lực lượng vũ trang địa phương vào tiếp quản thủ đô, Bộ Tổng tư lệnh chuyển về Hà Nội.
Lúc đầu, Bộ Tổng tư lệnh dự định đóng quân ở sân bay Bạch Mai, nhưng vì quân số ngày càng đông, mặt khác để tận dụng cơ sở vật chất sẵn có của Pháp và thuận tiện cho việc chỉ huy cũng như phối hợp công tác với các cơ quan lãnh đạo của Đảng, Nhà nước như Phủ Chủ tịch và Phủ thủ tướng ở khu vực toàn quyền cũ, văn phòng Trung ương Đảng ở khu vực trường trung học Anbe Xaro (cũ), nên Chính phủ quyết định Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tư lệnh đóng quân trong khu vực Thành cổ Hà Nội. Sau khi kiểm tra bom mìn và làm vệ sinh khu Thành cổ xong, lần lượt các cơ quan Tổng Quân ủy, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu, Tổng Cục Chính trị, Tổng Cục Hậu cần và một số đơn vị trực thuộc từ Đồn Thủy và căn cứ Việt Bắc về đóng quân trong Thành cổ, một số cơ quan đóng ngoài phố gần Thành cổ hoặc xa hơn tùy theo chức năng, nghiệp vụ. Thành cổ được chia làm 3 khu: A, B, C, trong đó khu A là quan trọng nhất. Khu A được giới hạn bởi đường Phan Đình Phùng ở phía Bắc, đường Nguyễn Tri Phương ở phía Đông, đường Hoàng Diệu ở phía Tây, Đoan Môn ở phía Nam.
Khu B là Tổng cục Chính trị, khu C là Tổng cục Hậu cần. 8 z Từ năm 1954-1975, khu A đã chứng kiến biết bao những sự kiện lịch sử có tầm cỡ quốc gia và quốc tế lớn. Tại đây, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh và Bộ Tổng Tham mưu đã họp bàn và đưa ra những quyết định quan trọng để lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy quân và dân cả nước từng bước đánh bại các chiến lược chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ như: Chiến lược “Phản ứng linh hoạt” (1954-1960); “Chiến tranh đặc biệt” (1961-1965); “Chiến tranh cục bộ” (1965-1968); “Việt Nam hóa chiến tranh” (1969-1975”. Vì vậy, khu A được gọi là “Tổng hành dinh” trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Tổng hành dinh không phải là một công trình được xây mới hoàn toàn, mà nhiều công trình của Pháp đã được Bộ Quốc phòng tận dụng sửa sang lại để làm nơi làm việc. Nhà Con Rồng ở khu A, vốn là nơi làm việc của người chỉ huy một trung đoàn thuộc quân đội Pháp. Nhà này được người Pháp xây dựng năm 1897 trên nền Điện Kính Thiên (hồ sơ của Pháp lưu lại có ký hiệu J26). Sở dĩ có tên Nhà Con Rồng là ngôi nhà được xây dựng sau hàng bậc thềm rồng - di tích còn sót lại của Điện Kính Thiên.
Sau khi ta tiếp quản, đã tu sửa nhà Nhà Con Rồng làm nơi họp Tổng Quân ủy (từ sau Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ III năm 1960 là Quân ủy Trung ương) và nơi làm việc của Bộ trưởng Quốc phòng kiêm Tổng tư lệnh và các Thứ trưởng Quốc phòng. Khoảng tháng 11 năm 1954, việc tu sửa Nhà Con Rồng hoàn thành. Tầng trên là phòng họp Tổng Quân ủy và phòng làm việc của Bí thư Tổng Quân ủy - Bộ trưởng Quốc phòng kiêm Tổng tư lệnh. Tầng dưới là các phòng làm việc của các Thứ trưởng Quốc phòng và của Tổng Thanh tra Quân đội.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Thượng tướng Văn Tiến Dũng đã làm việc ở đây trong suốt thời gian từ năm 1954 đến năm 1967. Nhà Con Rồng là nơi đã diễn ra nhiều cuộc họp của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng. Tại đây, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đã chỉ đạo soạn thảo kế hoạch phòng thủ miền Bắc, đối phó với âm mưu “Bắc tiến” của Mỹ; Quán triệt và tổ chức thực hiện thành công Nghị quyết Trung ương 15 khóa II năm 1959 về cách mạng miền Nam để từ đó đưa cách mạng miền Nam đi lên mà đỉnh cao là 9 z thắng lợi của phong trào Đồng Khởi năm 1960; Chỉ đạo quân và dân miền Bắc đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của Mỹ, tổ chức các cuộc tiến công mưu trí, sáng tạo như: Cuộc tiến công và nổi dậy Mậu Thân năm 1968, chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1971, chiến dịch tiến công chiến lược năm 1972. Đặc biệt năm 1975 đã diễn ra nhiều hội nghị quan trọng giữa Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương.
Chỉ tính riêng 55 ngày đêm trong mùa Xuân 1975, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã nhiều lần họp ở đây đề ra những quyết sách quan trọng để giành toàn thắng, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.