mở đầu vĩ đại cho chặng đường mới trong tiến trình phát triển của tỉnh Trà Vinh, nhưng cuộc hành trình lịch sử này vừa mới bắt đầu thì thực dân Pháp và các thế lực phản động lại điên cuồng chống phá. Chiến tranh bùng nổ rồi lan dần trên khắp xứ sở Trà Vinh vào cuối mùa thu năm 1945, tuy nhiên kẻ thù đã không thể đè bẹp được ý chí bất khuất của những người cộng sản cùng sức mạnh yêu nước của đồng bào các dân tộc ở Trà Vinh hàng trăm năm trên mảnh đất này. 13 Là một tỉnh nghèo với kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, có xuất phát điểm thấp nhưng Đảng bộ và quân dân Trà Vinh đã không ngừng nỗ lực đưa tỉnh nhà phát triển bền vững trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng. Ngày xưa, trong chiến đấu nhân dân Trà Vinh đã không tiếc máu xương của mình, anh dũng ngã xuống để đổi lấy hòa bình cho đất nước với những tấm gương tiêu biểu như Nguyễn Thị Út (Út Tịch), Kiên Thị Nhẫn, Hồ Thị Nhâm, đồng chí Phạm Thái Bường, Hồ Đức Thắng… Còn ngày hôm nay, trong lao động sản xuất, Trà Vinh lại có những con người cần cù, sáng tạo, năng động, hăng say và hết mình trong công việc.
Vượt qua thử thách đói nghèo, họ đã cống hiến sức mình cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ thành quả mà ông cha ta đã giành được. Tiêu biểu như cặp vợ chồng thương binh "hai nửa của một danh hiệu anh hùng" Lê Văn Lực và Cam Thị Cúc, hay "vua măng cụt" Lưu Văn Nhiều, nhà "sáng chế chân đất" Trần Văn Dũng, "vua lúa giống" Dương Văn Châu…. Trong chiến tranh, nhân dân Trà Vinh cùng nhân dân cả nước đã chiến thắng những kẻ thù xâm lược hùng mạnh. Trong hòa bình, nhân dân Trà Vinh lại một lần nữa sẽ chiến thắng, đó là chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu.
Đồng bào các dân tộc ở Trà Vinh đã phát huy truyền thống đoàn kết, cần cù, sáng tạo để vùng đất mà họ khai phá từ những thế kỷ trước dần “thay da đổi thịt”, vững vàng cùng cả nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, con đường mà Đảng ta đã sáng suốt lựa chọn. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ, toàn tỉnh Trà Vinh có 18.374 liệt sĩ, 987 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, cùng với 61 đơn vị và địa phương được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ tranh nhân dân. Đến tháng 2/1976, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ban hành nghị định về việc giải thể khu, hợp nhất tỉnh ở miền Nam Việt Nam. Theo nghị định này ở miền Nam có 21 đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương, tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh được sáp nhập thành tỉnh Cửu Long.
Hiện nay với sự quyết tâm của toàn Đảng bộ và nhân dân tỉnh nhưng Trà Vinh vẫn còn là một tỉnh nghèo trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, là tỉnh có xuất phát thấp hoạt động chủ yếu là sản xuất nông nghiệp với đời sống bấp bênh hay mất mùa không được giá, sau đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XI (2020-2025) Trà Vinh đã có những định hướng nhất định về phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, an ninh quốc phòng…. Khi xưa trong chiến đấu Trà Vinh rất anh dũng, ngày nay trong lao động sản xuất Trà Vinh cũng rất đổi anh hùng. Với những quyết tâm và đoàn kết Trà Vinh sẽ là điểm đáng chú ý của khu vực, một tỉnh đầy tiềm năng về mọi mặt. Khái quát quá trình đấu tranh chính trị của nhân dân Trà Vinh trƣớc năm 1954 Trong những thập niên đầu của thế kỷ XX, dưới chế độ thuộc địa nửa phong kiến, mâu thuẫn xã hội trong cả nước và tỉnh Trà Vinh diễn ra ngày càng phức tạp gay 14 gắt, lần lượt xuất hiện các mâu thuẫn giữa nhân dân và thực dân Pháp, nhân dân và bọn phong kiến tay sai.
Trong thời gian này ở Trà Vinh địa chủ chỉ có 1% trên tổng số dân của tỉnh nhưng họ chiếm đến 80% diện tích đất gieo trồng, đa số những người dân lao động nghèo không có tư liệu sản xuất, phải bỏ xứ đi tha phương cầu thực, bị bóc lột hết sức nặng nề…. điển hình là quận Bắc Trang (nay thuộc địa bàn huyện Trà Cú), dân số đa số là người Khmer, ở quận có tổng số 30.000 ha đất ruộng, thì trong đó có đến 27.000 ha đất rơi vào tay địa chủ. Bọn địa chủ này chúng cậy quyền, chúng có đủ thế lực áp bức và đàn áp nông dân. Chính sự áp bức, bóc lột nông dân của bọn địa chủ và tay sai đã làm cho người lao động nhất là người nông dân nghèo đã cơ cực mà nay ngày càng khốn khó trăm bề nào là lo cơm ăn, áo mặc, nào là các thứ thuế quây quanh, chính những áp lực đó đã dẫn họ đến với con đường bạo lực cách mạng, đứng lên giành lại từng tất đất, từng miếng ăn, từng mảnh áo bằng cả xương máu và sức mạnh.
Từ đấy đã nổi lên nhiều phong trào đấu tranh yêu nước chống thực dân Pháp và phong kiến mang tính chất tự phát của đồng bào các dân tộc ở Trà Vinh, các phong trào này cứ liên tiếp nổ ra tiêu biểu như cuộc khởi nghĩa của Chau Vai Srooc kui (1822) tại Thị xã Trà Vinh, sau đó là phong trào của Tê Sa Som ở Lạc Hóa. Tuy chưa có đủ sức mạnh và khí thế, nhất là một tổ chức lãnh đạo, nhưng với lòng quả cảm, một ý chí dân tộc, vì lợi ích của bản thân, gia đình và đất nước mà những người Khmer nơi đây đã quên mình đứng lên phản kháng chống lại chế độ, chính sách bóc lột của Pháp và chính quyền phong kiến nhà Nguyễn. Tuy các phong trào này hầu như thất bại những đã để lại những bài học đầy ý nghĩa cho chúng ta, đó chính là sự đoàn kết giữa các phong trào, bên cạnh đó đã gây nên một tiếng vang đánh vào tiềm thức của những tên cường hào, ác bá và càng làm cho tinh thần thép của các dân tộc anh em cùng nhau trỗi dậy. Và nhất là khi Pháp đặt chân đến Trà Vinh đã dấy lên phong trào trong đồng bào Khmer - Kinh đánh Pháp khi chúng thống trị mảnh đất này, chúng cho cướp phá, đốt nhà người dân và bắt giết người hết sức ghê gợn.
Để chống lại sự ác liệt đó là hình thành phong trào đoàn kết đấu tranh chống lại sự xâm lược của Pháp và chính quyền phong kiến. Tiêu biểu thời kỳ này là phong trào Cần Vương của các sĩ phu khắp cả nước, còn ở Nam kỳ thì có phong trào khởi nghĩa chống Pháp của Trương Định, Phan Tôn, Phan Liêm, Nguyễn Trung Trực…. Ở Trà Vinh điển hình là có Lý Rót (một người Khmer yêu nước) đã tập hợp nhiều người Kinh và Khmer để chống Pháp, địa bàn hoạt động là Ba Động, và Cồn Cù ở Duyên Hải và đến tận các huyện Cầu Ngang, Tiểu Cần, Trà Cú …. nghĩa quân linh hoạt di chuyển và đánh địch bằng mọi hình thức và bằng mọi khí giới hiện có như giáo mác, gậy gộc, chông….
chiến thắng tiêu biểu là trận Cầu Vông đã giết chết được tên tham biện, làm cho Pháp phải run sợ. Chúng điên cuồng càn quét và bắt giết hàng trăm đồng bào vô tội, càng gây thêm nhiều nợ máu với đồng bào Trà Vinh. 15 Đứng trước những khó khăn đó mà đã có nhiều phong trào yêu nước khác như là các cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Xuân Phụng và Đoàn Công Bửu, Lê Tấn Kế và Trần Bình… Nhưng với những xu hướng chung của cách mạng cả nước, do thiếu đường lối lãnh đạo cứu nước đúng đắn, các phong trào yêu nước của đồng bào tỉnh Trà Vinh đều bị dập tắt và từ đấy thực dân Pháp lần lượt đặt ách thống trị trên toàn Nam kỳ và Trà Vinh. Từ đây đồng bào Kinh - Khmer - Hoa trong tỉnh Trà Vinh cũng như các dân tộc khác trong cả nước phải gồng mình chịu chung một hoàn cảnh là đấu tranh và chịu sự áp bức của thực dân Pháp.
Từ thời phong kiến cho đến chống Pháp hay chống Mĩ thì nhân dân tỉnh Trà Vinh luôn luôn có ý thức dân tộc rất cao, tinh thần yêu nước ngày càng dâng cao khi đất nước, quê hương rơi vào hoàn cảnh lâm nguy, tinh thần đó được toàn Đảng và nhân dân cả nước ghi nhận. Chính sức mạnh của sự đoàn kết dân tộc Kinh - Khmer - Hoa trên địa bàn tỉnh Trà Vinh đã làm nên những chiến thắng vang dội và đóng góp quan trọng cho hòa bình, độc lập, tự do như ngày nay. Sự đoàn kết giữa ba dân tộc anh em sẽ được giữ gìn và phát huy trong mọi hoàn cảnh, nó là món ăn tinh thần là sự gắn bó, là sự hòa hợp dân tộc trên địa bàn tỉnh nói riêng và cả nước nói chung. Tiểu kết chƣơng 1 Tỉnh Trà Vinh có địa bàn nằm giữa sông Tiền và sông Hậu và giáp biển Đông, có vị trí địa lý mang tính chiến lược, án ngữ một trong những cửa biển quan trọng nhất của Nam Bộ.
Đây là vùng đất có truyền thống lịch sử lâu đời. Đồng bào các dân tộc trên địa bàn huyện như người Kinh, người Khmer, người Hoa luôn thể hiện tinh thần đoàn kết, sát cánh với nhau trong cách mạng và kháng chiến. Có thể nói đoàn kết và chiến đấu là hai trục chính, xuyên suốt và hòa vào nhau hun đúc nên truyền thống, nên hào khí con người Trà Vinh. Ngay buổi đầu tiên khi thực dân Pháp xâm chiếm mảnh đất Nam Kỳ, cho đến thời kì Cách mạng tháng 8/1945 và kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), tại mảnh đất Trà Vinh liên tục nổ ra các phong trào đấu tranh, khởi nghĩa, kháng chiến nhằm bảo vệ quê hương, đánh đuổi thực dân xâm lược.
Truyền thống yêu nước, cách mạng đó là nền tảng sức mạnh to lớn giúp cho quân và dân Trà Vinh tiếp tục giành thêm nhiều thắng lợi trong thời kì kháng chiến chống Mĩ, cứu nước. Điều kiện tự nhiên của Trà Vinh ở giữa hai cửa sông chính của Đồng bằng sông Cửu Long đã sản sinh ra nhiều con người có khí chất sẵn sàng đứng lên chiến đấu khi mảnh đất quê hương của họ bị xâm chiếm. Thành phần dân tộc nơi đây có đông đồng bào Khmer sinh sống và cũng từ đây đã quấy lên một phong trào yêu nước bằng đấu tranh chính trị mạnh mẽ, mà chưa chắc các tỉnh khác ở miền Nam làm được lúc bấy giờ. NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MĨ, CỨU NƢỚC (1954 – 1975) 2.