Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam Trong Kháng Chiến Chống Mỹ (1960-1969)

Chuyên khảo phân tích Mặt trận dân tộc giải phóng miền nam việt nam trong kháng chiến chống mỹ cứu nước 1960 1969, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp

Chuyên ngành

Lịch sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2017

142
7
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan MTDTGPMNVN và Kháng Chiến Chống Mỹ 1960 1969

Giai đoạn 1960-1969 đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong lịch sử Miền Nam Việt Nam, với sự ra đời và phát triển của MTDTGPMNVN. Tổ chức này đóng vai trò then chốt trong việc tập hợp lực lượng, lãnh đạo nhân dân miền Nam tiến hành cuộc Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Sự ra đời của MTDTGPMNVN không chỉ là kết quả tất yếu của phong trào cách mạng miền Nam, mà còn là minh chứng cho ý chí độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam. Trong giai đoạn này, Mỹ Ngụy đã thực hiện nhiều chiến lược chiến tranh, từ chiến tranh đặc biệt đến chiến tranh cục bộ, nhằm đàn áp phong trào cách mạng. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của MTDTGPMNVN, quân và dân miền Nam đã kiên cường đấu tranh, giành nhiều thắng lợi quan trọng. Tài liệu gốc nhấn mạnh MTDTGPMNVN như 'ngọn cờ của ý chí sáng ngời vì độc lập, vì tự do của nhân dân miền Nam Việt Nam'.

1.1. Bối Cảnh Lịch Sử và Sự Ra Đời của MTDTGPMNVN

Sau Hiệp định Geneva 1954, Việt Nam tạm thời chia cắt. Mỹ thay thế Pháp, dựng lên chính quyền Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), âm mưu chia cắt lâu dài đất nước. Phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam diễn ra mạnh mẽ, đỉnh cao là phong trào Đồng Khởi (1959-1960). Phong trào Đồng Khởi đã cho thấy sự bất lực của chính quyền VNCH và là tiền đề trực tiếp cho sự ra đời của Mặt trận Giải phóng miền Nam . Sự ra đời của MTDTGPMNVN đáp ứng yêu cầu cấp thiết của cách mạng miền Nam. MTDTGPMNVN ra đời ngày 20/12/1960.

1.2. Mục Tiêu và Cương Lĩnh của MTDTGPMNVN

Cương lĩnh của MTDTGPMNVN xác định rõ mục tiêu đấu tranh là đánh đổ chế độ độc tài Mỹ - Diệm, giải phóng miền Nam, thực hiện hòa bình, thống nhất đất nước. MTDTGPMNVN chủ trương xây dựng một chế độ dân chủ, tự do, cải thiện đời sống nhân dân. Cương lĩnh này đã thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Cương lĩnh chính trị thể hiện rõ đường lối chiến lược của Mặt trận, tập trung vào giải phóng miền Nam.

II. Thách Thức Chiến Lược Chiến Tranh của Mỹ Ngụy tại Miền Nam

Trong giai đoạn 1961-1965, Mỹ Ngụy thực hiện chiến lược Chiến tranh đặc biệt, sử dụng quân đội VNCH làm lực lượng chủ yếu, dưới sự chỉ huy và hỗ trợ của Mỹ. Chiến lược này nhằm đàn áp phong trào cách mạng, bình định nông thôn, và kiểm soát dân cư. Tuy nhiên, với phương thức đấu tranh linh hoạt, sáng tạo, quân và dân miền Nam đã từng bước đánh bại chiến lược Chiến tranh đặc biệt. Theo nghiên cứu của Trần Thị Hải Yến, MTDTGPMNVN đã thể hiện vai trò 'như một chính quyền cách mạng' trong giai đoạn này, đảm nhận nhiều chức năng quản lý và điều hành tại vùng giải phóng.

2.1. Chiến Lược Chiến Tranh Đặc Biệt và Thủ Đoạn Của Mỹ

Chiến tranh đặc biệt là chiến lược dùng người Việt đánh người Việt, sử dụng quân đội VNCH làm công cụ chính. Mỹ tăng cường viện trợ kinh tế, quân sự cho VNCH, đồng thời đưa cố vấn quân sự vào chỉ huy trực tiếp. Mỹ và VNCH thực hiện các biện pháp như dồn dân lập ấp chiến lược, tăng cường khủng bố, đàn áp, nhằm cô lập lực lượng cách mạng với quần chúng nhân dân. Âm mưu của Mỹ là nhằm thôn tính Miền Nam và biến nơi đây thành căn cứ quân sự.

2.2. Phản Ứng Của MTDTGPMNVN Đấu Tranh Chính Trị và Quân Sự

MTDTGPMNVN đã lãnh đạo nhân dân miền Nam đấu tranh bằng cả biện pháp chính trị và quân sự. Đấu tranh chính trị nhằm vạch trần bản chất xâm lược của Mỹ và tội ác của chính quyền VNCH, kêu gọi sự ủng hộ của dư luận quốc tế. Đấu tranh quân sự nhằm tiêu hao sinh lực địch, bảo vệ vùng giải phóng, và tạo điều kiện cho đấu tranh chính trị. MTDTGPMNVN đã xây dựng Lực lượng vũ trang giải phóng hùng mạnh.

2.3. Vai Trò của Vùng Giải Phóng trong Kháng Chiến

Vùng giải phóng đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp hậu cần, lực lượng cho cuộc kháng chiến. MTDTGPMNVN xây dựng chính quyền cách mạng ở vùng giải phóng, thực hiện các chính sách dân chủ, cải thiện đời sống nhân dân. Vùng giải phóng trở thành căn cứ vững chắc cho cuộc kháng chiến chống Mỹ. Vùng giải phóng còn được xem là một hậu phương vững chắc, tạo điều kiện cho quân và dân miền Nam đấu tranh.

III. Giải Pháp MTDTGPMNVN Đoàn Kết Dân Tộc Chống Chiến Tranh Cục Bộ

Từ năm 1965, Mỹ chuyển sang chiến lược Chiến tranh cục bộ, trực tiếp đưa quân đội Mỹ vào tham chiến tại miền Nam. Đồng thời, Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc. Trước tình hình đó, MTDTGPMNVN đã phát động phong trào toàn dân đánh Mỹ, đoàn kết mọi lực lượng yêu nước, quyết tâm đánh bại Chiến tranh cục bộ. MTDTGPMNVN đã thực hiện nhiều hoạt động đối ngoại, tranh thủ sự ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân thế giới.

3.1. Chiến Tranh Cục Bộ Quy Mô và Mục Tiêu Của Mỹ

Chiến tranh cục bộ là chiến lược sử dụng quân đội Mỹ làm lực lượng chủ yếu, kết hợp với quân đội VNCH. Mỹ tăng cường quân số, vũ khí, và phương tiện chiến tranh vào miền Nam, mở các cuộc hành quân càn quét quy mô lớn. Mục tiêu của Mỹ là tiêu diệt lực lượng chủ lực của Quân giải phóng, bình định nông thôn, và ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc. Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 gây chấn động lớn.

3.2. Phong Trào Toàn Dân Đánh Mỹ Sức Mạnh Của Đại Đoàn Kết

MTDTGPMNVN phát động phong trào toàn dân đánh Mỹ, huy động mọi lực lượng, mọi tầng lớp nhân dân tham gia vào cuộc kháng chiến. Các hình thức đấu tranh phong phú, đa dạng, từ đấu tranh chính trị, binh vận, đến đấu tranh vũ trang. Phong trào đã tạo nên sức mạnh to lớn, làm thất bại chiến lược Chiến tranh cục bộ. Lòng yêu nước và sự đoàn kết được phát huy tối đa dưới sự lãnh đạo của MTDTGPMNVN.

3.3. Vai Trò của Hội đồng cố vấn MTDTGPMNVN

Hội đồng cố vấn MTDTGPMNVN có vai trò quan trọng trong việc đưa ra các quyết sách và đường lối chính trị của Mặt trận. Các thành viên hội đồng thường là những nhân sĩ, trí thức, và lãnh đạo tôn giáo có uy tín. Hội đồng tham gia vào việc xây dựng cương lĩnh, chính sách, và kế hoạch hoạt động của MTDTGPMNVN. Thông qua hoạt động của Hội đồng, MTDTGPMNVN mở rộng ảnh hưởng và thu hút sự ủng hộ của nhiều tầng lớp nhân dân.

IV. Ứng Dụng MTDTGPMNVN Với Hoạt Động Đối Ngoại 1965 1969

Trong giai đoạn 1965-1969, MTDTGPMNVN đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế. MTDTGPMNVN cử đoàn đại biểu tham gia các hội nghị quốc tế, gặp gỡ các lãnh đạo các nước, và tổ chức các hoạt động tuyên truyền, vận động. Nhờ đó, MTDTGPMNVN đã nâng cao vị thế trên trường quốc tế, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Theo tài liệu, MTDTGPMNVN đã định hướng rõ ràng 'hoạt động và nhiệm vụ ngoại giao' trong giai đoạn này, mở rộng quan hệ quốc tế.

4.1. Mục Tiêu và Nội Dung Của Hoạt Động Đối Ngoại

Mục tiêu của hoạt động đối ngoại là tranh thủ sự ủng hộ về vật chất và tinh thần của các nước xã hội chủ nghĩa, các nước dân tộc chủ nghĩa, và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Nội dung của hoạt động đối ngoại bao gồm tuyên truyền về cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, vạch trần tội ác của Mỹ, và kêu gọi sự ủng hộ về chính trị, kinh tế, quân sự. Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của đối ngoại.

4.2. Thành Tựu Của Hoạt Động Đối Ngoại Sự Ủng Hộ Của Thế Giới

Hoạt động đối ngoại của MTDTGPMNVN đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Nhiều nước xã hội chủ nghĩa đã tăng cường viện trợ cho Việt Nam. Phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam lan rộng trên toàn thế giới. Nhiều tổ chức quốc tế đã lên án hành động xâm lược của Mỹ và ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam. Sự ủng hộ của quốc tế tạo thêm sức mạnh cho Cuộc kháng chiến chống Mỹ.

4.3. Vai trò của Nguyễn Hữu Thọ

Nguyễn Hữu Thọ là một trong những lãnh đạo chủ chốt của MTDTGPMNVN và có vai trò quan trọng trong các hoạt động đối ngoại. Ông đã đại diện cho MTDTGPMNVN tham gia nhiều hội nghị quốc tế và gặp gỡ các nhà lãnh đạo nước ngoài. Với tài năng ngoại giao của mình, Nguyễn Hữu Thọ đã góp phần vào việc tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế cho cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam. Ông còn là biểu tượng của sự đoàn kết dân tộc trong giai đoạn này.

V. Kết Luận Ý Nghĩa Lịch Sử Của MTDTGPMNVN 1960 1969

MTDTGPMNVN đã hoàn thành xuất sắc vai trò lịch sử của mình trong giai đoạn 1960-1969. MTDTGPMNVN đã tập hợp, đoàn kết, và lãnh đạo nhân dân miền Nam đánh bại các chiến lược chiến tranh của Mỹ, góp phần vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Sự ra đời của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (CPCMLTCHMNVN) năm 1969 đánh dấu một bước tiến mới của cách mạng miền Nam. MTDTGPMNVN là biểu tượng của tinh thần yêu nước, ý chí độc lập, tự do, và sức mạnh đại đoàn kết dân tộc.

5.1. Bài Học Kinh Nghiệm Từ Sự Thành Công Của MTDTGPMNVN

Thành công của MTDTGPMNVN để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu. Bài học về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả nước. Bài học về kết hợp đấu tranh chính trị, quân sự, và ngoại giao. Bài học về tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế. Các bài học này vẫn còn nguyên giá trị trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Sức mạnh của Quần chúng nhân dân được phát huy triệt để.

5.2. MTDTGPMNVN và Công Cuộc Thống Nhất Đất Nước

Sự ra đời và hoạt động của MTDTGPMNVN đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tạo tiền đề cho sự thống nhất đất nước. MTDTGPMNVN đã trở thành một bộ phận không thể thiếu của lịch sử Việt Nam hiện đại. Tinh thần yêu nước và đoàn kết của MTDTGPMNVN vẫn tiếp tục được phát huy trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hiệp định Paris là kết quả của cuộc đấu tranh bền bỉ.

25/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho sự thay thế này của Mỹ ở Việt Nam là trước khi Hiệp định Giơ- ne-vơ được ký kết 13 ngày Mỹ đã buộc Pháp đưa Ngô Đình Diệm là thế lực thân Mỹ lên làm Thủ tướng thay thế Bửu Lộc thân Pháp trong chính phủ của Bảo Đại. Sau đó, tháng 9-1954 Mỹ quyết định viện trợ trực tiếp cho Ngô Đình Diệm. Bước tiếp theo, Mỹ muốn can thiệp sâu hơn và chống lưng tốt hơn cho Ngô Đình Diệm nên đã cử tướng Colin đến Sài Gòn làm đại sứ, trực tiếp đề ra kế hoạch sáu điểm gồm những nội dung chính sau: “1. Bảo trợ chính quyền Diệm.

Viện trợ trực tiếp cho chính phủ Sài Gòn. Xây dựng quân đội Nam Việt Nam hùng hậu gồm 15 vạn người do Mỹ trang bị và huấn luyện. Bầu cử quốc hội ở Miền Nam, hợp pháp hóa chính quyền Sài Gòn. Định cư cho số người Công giáo miền Bắc di cư vào Nam và vạch kế hoạch cải cách điền địa.

Thay đổi chế độ thuế khóa, dành ưu tiên cho hàng hóa Mỹ ở miền Nam. Đào tạo cán bộ hành chính. Kế hoạch này thể hiện rõ âm mưu biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ, phá hoại hoàn toàn những điều khoản đã ký kết ở Hiệp định Giơ-ne-vơ. Ngoài việc tách hoàn toàn miền Nam khỏi Việt Nam, kế hoạch này còn nhằm thanh trừ các 12 thế lực đối lập tại miền Nam trong đó bao gồm cả thế lực thân Pháp và thế lực của cộng sản.

Để hoàn tất việc chuyển giao này, ngày 13-12-1954, Pháp buộc phải ký với Mỹ bản hiệp ước giao trách nhiệm huấn luyện, trang bị quân đội ở miền Nam cho Mỹ. Ngày 19-12-1954, Pháp ký hiệp định trao quyền hành chính, chính trị ở miền Nam cho Ngô Đình Diệm. Ngô Đình Diệm lên nắm quyền đã tiến hành quá trình loại bỏ ảnh hưởng của Pháp và chính quyền Bảo Đại ở miền Nam với chiêu bài “đả thực” “bài phong” xóa bỏ hoàn toàn bộ máy cai trị của Pháp. Tiếp đó, Diệm thực hiện mục tiêu cơ bản là “diệt cộng”, chống phá cách mạng miền Nam, mua chuộc các thế lực phản động trong các giáo phái và các phe phái chống đối Diệm.

Bước tiếp theo của Diệm là quá trình phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ, thực hiện âm mưu của Mỹ là chia cắt lâu dài Việt Nam, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ. Ngày 17-7-1955, Ngô Đình Diệm tuyên bố từ chối hiệp thương tổng tuyển cử. Ngày 23-10-1955, tổ chức “trưng cầu dân ý”, phế truất Bảo Đại, Ngô Đình Diệm lên làm tổng thống thiết lập nền Cộng hòa thứ nhất ở miền Nam Việt Nam. Bên cạnh đó, Mỹ tiến hành quá trình can thiệp vào Lào và Campuchia, tách Đông Dương hoàn toàn ra khỏi ảnh hưởng của Pháp.

Diệm đã tiến hành từng bước xây dựng một quốc gia hùng mạnh, hoàn chỉnh thể chế chính trị, thành lập các tổ chức chính trị làm chỗ dựa cho mình như thành lập “Đảng Cần lao nhân vị”, phong trào “Cách mạng quốc gia”, “Thanh niên cộng hòa”, “Phụ nữ liên đới” để tập hợp tư sản, địa chủ, Giáo dân Thiên chúa giáo. làm hậu thuẫn. Ngày 4-3-1956, Diệm tổ chức bầu quốc hội riêng rẽ, ngày 26-10-1956 công bố Hiến pháp VNCH. Những việc làm trên của Mỹ - Diệm ở miền Nam là hoàn toàn bất hợp pháp, vi phạm trắng trợn Hiệp định Giơ-ne-vơ, ngăn cản quá trình thống nhất quốc gia dân tộc Việt Nam.

Bên cạnh đó, chính quyền Mỹ - Diệm đề ra những chính sách kinh tế như: Đề ra các chính sách thuế ưu tiên hàng hóa của Mỹ, thực hiện cải cách điền địa để xây dựng lực lượng địa chủ hậu thuẫn cho chính quyền và cướp đất đai của chính quyền cách mạng chia cho nông dân thủ tiêu chỗ dựa về vật chất và tinh thần của lực lượng cách mạng. Do chính sách trên, hàng hóa Mỹ ồ ạt vào miền Nam làm lũng đoạn nền kinh tế, viện trợ của Mỹ cho Diệm tăng vọt. Tháng 1-1955, Diệm 13 tuyên bố “cải cách điền địa” thực tế biến nông dân có ruộng thành tá điền của địa chủ như trước đây cộng với mức tô tăng cao làm đời sống nông dân khó khăn. Dưới sự hỗ trợ của Mỹ về trang bị và huấn luyện, chính quyền Sài Gòn đã xây dựng lực lượng quân đội với trang bị hiện đại và huấn luyện theo chương trình của Mỹ, “gồm 10 sư đoàn bộ binh, 17 tiểu đoàn pháo binh, 5 tiểu đoàn xe tăng -thiết giáp và 54.000 quân địa phương, số cố vần Mỹ từ 35 người (1950), tăng lên 699 người (1956)” [20, tr.

Hệ thống giao thông phục vụ quân sự được xây dựng như hệ thống sân bay, quân cảng, đường giao thông chiến lược miền Nam trở thành căn cứ quân sự khổng lồ phục vụ mưu đồ ngăn chặn và tiêu diệt cộng sản của Mỹ. Hệ thống chính quyền được xây dựng hoàn chỉnh, chặt chẽ từ trung ương đến địa phương, từ Phủ Tổng thống, Bộ Tổng tham mưu, Nha cảnh sát, các Bộ ngành trung ương và hệ thống hành chính địa phương. Sau khi hoàn chỉnh hệ thống chính quyền, kiểm soát toàn bộ miền Nam, từ tháng 5-1955 đến tháng 5-1956 Diệm phát động “chiến dịch tố cộng” giai đoạn 1 nhằm mở rộng phạm vi quản lý để gây xáo trộn và phát hiện cộng sản. Trong quá trình đó, Diệm cho lập “Phủ đặc ủy công dân vụ” và “Hội đồng chỉ đạo tố cộng” để theo dõi và đúc kết kinh nghiệm cho hoạt động tố cộng đạt hiệu quả cao nhất.

“Chiến dịch tố cộng” bắt đầu từ các tỉnh miền Trung, tháng 2-1955 với chiến dịch Phan Châu Trinh đánh vào các tỉnh Trung bộ nhất là Quảng Nam. Tháng 4-1955, Diệm mở chiến dịch giải phóng tấn công vào Quảng Ngãi và Bắc Bình Định. Tháng 5-1955, chiến dịch Trịnh Minh Thế được tiến hành nhằm đánh phá toàn diện các tỉnh khu V. Từ tháng 6 đến tháng 10- 1956, chính quyền Diệm mở chiến dịch Thoại Ngọc Hầu nhằm vào các tỉnh vùng Đồng Tháp Mười, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ, Sóc Trăng,.

Từ tháng 7 đến tháng 12-1956, chiến dịch Trương Tấn Bửu được mở ra nhằm đánh phá miền Đông Nam Bộ. Các chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” với khẩu hiệu hành động là “tiêu diệt cán bộ nằm vùng, tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa cộng sản”, “thà giết nhầm hơn bỏ sót” Mỹ - Diệm đã đánh phá điên cuồng, giết hại những người yêu nước, những người kháng chiến cũ hoặc những người bị tình nghi. Nhiều vụ thảm sát đã diễn ra ở Quảng Ngãi, Quảng Nam. Với những thủ đoạn ác độc, mua chuộc, mị dân, đàn áp trắng trợn của chính quyền Diệm, lực lượng cách mạng miền Nam bị tổn thất nặng nề, cán bộ, Đảng 14 viên và các cơ sở Đảng hầu hết bị tiêu diệt.

Cách mạng miền Nam đứng trước nguy cơ bị phá vỡ hoàn toàn. Phong trào “Đồng khởi”- bước chuyển mới của cách mạng miền Nam Việt Nam- tiền đề trực tiếp hình thành Mặt trận. Mặc dù với Hiệp định Giơ-ne-vơ, các bên tham gia kí kết cam kết tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc Việt Nam; và Việt Nam sẽ thống nhất bằng cuộc tổng tuyển cử trong cả nước nhưng Mỹ lại đưa ra luận điểm “không bị ràng buộc” vào hiệp ước và Mỹ đã từng bước thay chân Pháp, hòng chia cắt lâu dài nước ta, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ ở Đông Nam Á (thông qua việc đưa Ngô Đình Diệm sang Mỹ đào tạo, rồi ép Pháp trao quyền cai trị miền Nam cho Diệm). Sau đó, Mỹ chỉ đạo Ngô Đình Diệm phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ, thực hiện “trưng cầu dân ý” để thành lập quốc gia mới mang tên Việt Nam Cộng hòa.

Khả năng và con đường hòa bình thống nhất đất nước đã bị Mỹ- Diệm bác bỏ. Được Mỹ chi viện về mọi mặt, chính quyền Ngô Đình Diệm ra sức phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ. Mỹ- Diệm dùng quân đội và cảnh sát bình định các lực lượng đối lập, đàn áp phong trào quần chúng nhân dân yêu nước, khủng bố các lực lượng cách mạng và kháng chiến còn lại ở miền Nam, thực hiện “Tố Cộng diệt Cộng” và phá bỏ hoàn toàn các thiện chí của ta về Hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Trái lại, Mỹ-Diệm lại cho bầu cử Quốc hội và ban hành Hiến pháp riêng rẽ, lập “Nền Đệ nhất Cộng hòa” ở miền Nam nước ta.

Với phương châm “thà giết nhầm chứ không bỏ sót” nhằm tiêu diệt Cộng sản tận gốc, tiêu diệt không thương tiếc làm cho hàng vạn cán bộ Đảng viên cách mạng bị truy lùng, khủng bố, bắt, giết, giam cầm. Những vụ thảm sát đẫm máu, tàn bạo thường xuyên diễn ra. Các thủ đoạn lừa mị, mua chuộc bằng các biện pháp kinh tế - xã hội cũng được Mỹ - Diệm triệt để lợi dụng. Khi các thủ đoạn của Mỹ - Diệm thâm độc và tàn bạo bao nhiêu thì phong trào yêu nước đấu tranh của nhân dân ta càng bùng lên dữ dội bấy nhiêu.

Từ những cuộc mít tinh, biểu tình công khai hợp pháp, đòi thi hành Hiệp định hòa bình, đòi Hiệp thương tổng tuyển cử, đòi nối lại quan hệ bình thường giữa hai miền Nam – Bắc của ta 15 bị địch dùng công cụ bạo lực là quân đội, cảnh sát để đàn áp đẫm máu thì quần chúng nhân dân ta phải vũ trang tự vệ, xây dựng lực lượng bạo lực để chống trả tiến tới nổi dậy lật đổ chế độ Mỹ - Diệm để giành quyền làm chủ. Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng đã thôi thúc toàn dân tiếp tục giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Nhưng để chiến thắng được kẻ thù với nền kinh tế hàng đầu thế giới đang thực hiện chiến dịch toàn cầu nhằm nuôi âm mưu bá chủ thế giới thì điều quan trọng nhất của chúng ta lúc này là tìm ra đường lối và phương pháp đấu tranh thích hợp nhất cho chủ trương chiến lược ấy. Hội nghị Trung ương lần thứ 8 ngày 13 tháng 8 năm 1955 nêu rõ “Cần phải mở rộng và củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất trong toàn quốc, tập hợp mọi lực lượng dâ tộc dân chủ và hòa bỉnh từ Bắc đến Nam, tranh thủ bất cứ người nào ta có thể tranh thủ, trung lập bất cứ người nào ta có thể trung lập, phân hóa Mỹ, Pháp, phân hóa bọn thân Mỹ và thân Pháp, cô lập đế quốc Mỹ và bọn thân Mỹ phản động.

Từ thực tế đất nước và nhiệm vụ của từng miền đất nước, trong cuốn “Đề cương cách mạng Việt Nam”, đồng chí Lê Duẩn đã nêu lên tư tưởng về sử dụng bạo lực cách mạng, tập hợp toàn thể các tầng lớp nhân dân khởi nghĩa để giành chính quyền giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam Trong Kháng Chiến Chống Mỹ (1960-1969)" cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò và hoạt động của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Tài liệu nêu bật những chiến lược, phương pháp tổ chức và sự đoàn kết của các lực lượng trong giai đoạn quan trọng này, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về bối cảnh lịch sử và những đóng góp của Mặt Trận trong việc giành lại độc lập cho đất nước.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn căn cứ tỉnh ủy sóc trăng trong kháng chiến chống mỹ cứu nước 1954 1975, nơi trình bày về vai trò của tỉnh Sóc Trăng trong cuộc kháng chiến. Ngoài ra, tài liệu Luận văn đóng góp của phụ nữ bến tre trong kháng chiến chống mĩ cứu nước 1954 1975 sẽ giúp bạn hiểu thêm về sự tham gia của phụ nữ trong cuộc chiến. Cuối cùng, tài liệu Luận án căn cứ kháng chiến khu sài gòn gia định trong kháng chiến chống mỹ 1954 1975 sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về khu vực Sài Gòn - Gia Định trong bối cảnh kháng chiến. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về cuộc kháng chiến chống Mỹ và những nhân tố quan trọng trong lịch sử Việt Nam.