CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu Liên quan đến nội dung luận án đã có một số công trình trong nước phản ánh, đề cập với nhiều cấp độ và từ nhiều cách tiếp cận khác nhau. Trong đó, tựu trung lại có thể khu trú vào các nhóm như sau: 1. Nhóm các công trình nghiên cứu về căn cứ địa cách mạng nói chung Vấn đề căn cứ địa được đề cập trước hết phải kể đến là công trình Chiến thuật du kích của Hồ Chí Minh (Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 3, Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 2011) và Chọn căn cứ địa của Trường Chinh (Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam, Tập 1, Nxb Sự Thật, HN, 1976).
Các công trình này xác định căn cứ địa là nơi có địa thế hiểm yếu, vừa có lợi cho việc tiến công, vừa có lợi cho việc phòng ngự của lực lượng du kích. Việc xây dựng căn cứ địa gắn liền với xây dựng lực lượng vũ trang (LLVT). Một trong những vấn đề có ý nghĩa quyết định trong việc lựa chọn địa bàn xây dựng căn cứ địa là phải có sự ủng hộ, giúp đỡ của đông đảo quần chúng nhân dân. Vấn đề căn cứ địa còn được đề cập khá cụ thể ở một số công trình, trong đó có thể kể đến là Bài giảng về đường lối quân sự của Đảng của Võ Nguyên Giáp (Viện Khoa học Quân sự, HN, 1974).
Ở công trình này, tác giả đã khái quát những đặc trưng cơ bản của căn cứ địa cách mạng trong chiến tranh giải phóng; phân tích và luận giải về vai trò của căn cứ địa cách mạng. Trong đó, nhấn mạnh sự cần thiết phải giải quyết vấn đề xây dựng địa bàn đứng chân và tiềm lực kháng chiến, nếu không có đường lối đúng đắn để thực hiện vấn đề này thì không thể tiến hành chiến tranh cách mạng lâu dài nhằm đi đến thắng lợi. Tác giả khẳng định chỗ đứng chân của cách mạng để tiến hành khởi nghĩa và chiến tranh là cơ sở chính trị, căn cứ địa, hậu phương. Đây là vấn đề quan trọng trong đường lối quân sự của Đảng.
Bên cạnh đó, tác giả cũng vạch ra quy luật hình thành và phát triển của cơ sở chính trị, căn cứ 13 địa, hậu phương trong chiến tranh nhân dân ở nước ta là phải triệt để dựa vào nhân dân, đi từ xây dựng cơ sở chính trị của quần chúng đến xây dựng căn cứ địa, hậu phương từ không đến có, từ nhỏ đến lớn, từ chưa hoàn chỉnh đến ngày càng hoàn chỉnh. Bài giảng xác định trong chiến tranh nhân dân rộng lớn, địa bàn nông thôn là chỗ dựa vững chắc và lâu dài của cách mạng. Do vậy, việc xây dựng căn cứ địa, hậu phương vững mạnh ở nông thôn rừng núi và đồng bằng là yêu cầu “có tính chất chiến lược của chiến tranh nhân dân” [103, tr. Ngoài ra, cũng phải hết sức coi trọng việc xây dựng cơ sở chính trị ở thành thị.
Có xây dựng được căn cứ địa, hậu phương tại chỗ ở khắp nơi, cách mạng mới có thể xây dựng, phát huy được tiềm lực của từng địa phương, từng chiến trường để đánh địch một cách rộng khắp, tạo thành thế cài răng lược giữa ta và địch. Do đó, có thể uy hiếp và tiến công địch một cách thường xuyên. Tập Bài giảng đường lối quân sự của Đảng thể hiện sự chỉ đạo hết sức sâu sắc của Võ Nguyên Giáp đối với vấn đề xây dựng căn cứ địa – hậu phương trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Trong công trình Nghiên cứu văn kiện của Đảng về chống Mỹ, cứu nước của Viện Mác – Lênin và Viện Lịch sử Quân sự – Bộ Quốc phòng, (Nxb Sự Thật, HN, 1986) có bài Vấn đề hậu phương – căn cứ địa và tuyến hậu cần chiến lược trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Ngô Vi Thiện.
Bài viết phân tích chủ trương của Đảng trong việc lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng hậu phương lớn miền Bắc, xây dựng căn cứ địa ở chiến trường miền Nam và tuyến hậu cần vận tải – chiến lược trong kháng chiến chống Mỹ. Căn cứ địa cách mạng: truyền thống và hiện tại của Văn Tạo đăng trên Tạp chí Lịch sử quân sự số 4-1995, phân tích nội dung và bản chất của căn cứ địa cách mạng. Trong đó, tác giả luận giải điều kiện hình thành căn cứ địa, tính chất dân tộc và cách mạng của căn cứ địa thể hiện trên các mặt: địa – chính trị, địa – quân sự, địa – kinh tế, địa – văn hóa; đặc điểm, vai trò của căn cứ địa cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Nhìn chung, những công trình trên đã khái quát những điều kiện hình thành cũng như việc lựa chọn địa bàn xây dựng căn cứ địa; đồng thời luận giải, phân tích 14 vai trò của căn cứ địa trong chiến tranh giải phóng.
Những vấn đề mang tính lý luận này sẽ trở thành tư tưởng chỉ đạo và “kim chỉ nam” cho quá trình xây dựng, bảo vệ và phát huy vai trò căn cứ địa cách mạng. Vấn đề căn cứ địa cách mạng cũng được đề cập cụ thể hơn trong một số công trình lịch sử trong đó có thể kể đến như: Quân khu 5. Thắng lợi và những bài học trong kháng chiến chống Mỹ, Tập Hai, (Nxb Quân đội nhân dân, HN, 1982); Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thắng lợi và bài học (Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 1996); Chiến tranh cách mạng Việt Nam (1945-1975).
Thắng lợi và bài học (Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 2000). Đây là những công trình tổng kết sự lãnh đạo của Đảng đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Trong đó tập trung vào một số nội dung cơ bản và cốt yếu: đường lối chiến lược, sách lược và phương pháp cách mạng; những bài học kinh nghiệm được đúc kết trong quá trình tiến hành chiến tranh cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ở các công trình này, vấn đề căn cứ địa được luận giải, phân tích dưới góc độ là “một vấn đề lớn trong đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước” [11, tr.
237], “vấn đề cốt tử trong chiến tranh cách mạng” [61, tr. Vai trò của căn cứ địa trong quá trình kháng chiến được làm rõ: là nơi đứng chân của các cơ quan lãnh đạo, chỉ huy kháng chiến, nơi xây dựng lực lượng cách mạng; là bàn đạp xuất phát của LLVT tiến công địch, nơi tiếp nhận mọi nguồn chi viện và khai thác tại chỗ ngày càng nhiều sức người sức của phục vụ cho nhu cầu chiến trường. Một trong những bài học cơ bản được các công trình luận giải khá sâu sắc là phải dựa vào nhân dân, phát huy sức mạnh nhân dân trong xây dựng và bảo vệ căn cứ vững mạnh. Đánh giá về vấn đề xây dựng hệ thống căn cứ địa và hậu phương trong hai cuộc kháng chiến, các công trình khẳng định đây là bước phát triển mới về lý luận chiến tranh nhân dân, chiến tranh cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Bộ Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) gồm 9 tập của Bộ Quốc phòng – Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (Nxb Chính trị Quốc gia – Sự Thật, HN, 2013) là công trình nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Ở Tập IX của bộ sách này có đề cập khá sâu vấn đề căn cứ 15 địa cách mạng ở miền Nam với tư cách là “nhân tố trực tiếp bảo đảm thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ ”[44, tr. Công trình khái quát những đóng góp của căn cứ địa cách mạng miền Nam: cung cấp sức người, sức của cho chiến trường; cơ sở để xây dựng, duy trì và phát triển lực lượng cách mạng; địa bàn đứng chân của bộ đội chủ lực; một trong những nhân tố cơ bản để xây dựng thế chiến lược của chiến tranh nhân dân; nơi tiếp nhận, bảo quản, phân phối vũ khí, phương tiện chiến tranh, hàng hóa từ miền Bắc chi viện cho miền Nam; một trong những nhân tố cơ bản để xây dựng và tăng cường tiềm lực, sức mạnh của cách mạng. Tuy nhiên, do đối tượng nghiên cứu và phạm vi phản ánh rộng, bao gồm các chiều cạnh của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nên vấn đề căn cứ địa cách mạng chỉ được đề cập, phản ánh một cách khái lược, chủ yếu tập trung vào đánh giá vai trò của căn cứ địa cách mạng, chưa có điều kiện tập trung khảo cứu quá trình phát triển cũng như đặc điểm của căn cứ địa cách mạng trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Dưới góc độ nghiên cứu sâu về hậu phương – căn cứ địa trong chiến tranh cách mạng Việt Nam, cuốn Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945- 1975) (Nxb Quân đội nhân dân, HN, 1997) là công trình nghiên cứu có tính chất hệ thống và toàn diện nhất về quá trình xây dựng và phát huy vai trò của hậu phương trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Công trình tập trung kiến giải về vai trò của các căn cứ địa cách mạng với tư cách là hậu phương tại chỗ ở miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ; đồng thời khẳng định hậu phương tại chỗ là một trong những nhân tố cơ bản để xây dựng và tăng cường tiềm lực, sức mạnh của cách mạng và phát triển chiến tranh nhân dân trên khắp ba vùng chiến lược. Thế và lực của cách mạng có thể chuyển hóa từ yếu sang mạnh dựa trên cơ sở của việc xây dựng hệ thống căn cứ địa – hậu phương vững chắc. Công trình đặc biệt nhấn mạnh vai trò của nhân dân trong việc xây dựng căn cứ địa – hậu phương vững mạnh: nói đến căn cứ địa – hậu phương là nói đến vai trò của nhân dân, căn cứ địa – hậu phương vững chắc trước hết và chủ yếu là ở lòng dân.
Có dân là có tất cả [33, tr.