phần Mở đầu, Kết luận, nội dung chính của luận văn được cấu tạo thành 3 chương: Chƣơng 1: Khái quát về tỉnh Bắc Kạn Chƣơng 2: Xây dựng hậu phương chuẩn bị chiến đấu, bảo vệ và giải phóng quê hương (9/1945 - 8/1949) Chƣơng3: Tiếp tục xây dựng hậu phương phục vụ tiền tuyến (9/1949 - 7/1954) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 1 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 6 Chƣơng 1 KHÁI QUÁT VỀ TỈNH BẮC KẠN 1. Vị trí chiến lƣợc Vị trí Bắc Kạn ở về phía bắc của tỉnh Thái Nguyên.Vào thời đại các vua Hùng dựng nước, Bắc Kạn thuộc bộ Vũ Định, thời Đường nơi đây là đất châu Võ Nga. Từ thời Lý, ông cha ta bắt đầu xây dựng và phát triển nhà nước phong kiến trung ương tập quyền, Bắc Kạn thuộc châu Thái Nguyên, rồi châu Vũ Lặc, sau đó là trấn Thái Nguyên đời Trần. Buổi đầu thời Lê Bắc Kạn là vùng đất thuộc Bắc đạo.
Năm Quang Thuận thứ 7(1466) đất Bắc Kạn thuộc Thái Nguyên Thừa tuyên, rồi Ninh Sóc Thừa tuyên. Năm Hồng Đức thứ 21 (1490) Bắc Kạn là vùng đất thuộc phủ Thông Hoá (gồm huyện Cảm Hoá và châu Bạch Thông) thuộc xứ Thái Nguyên. Thời Nguyễn, năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), trấn Thái Nguyên đổi thành tỉnh, Bắc Kạn vẫn là phủ Thông Hoá thuộc Thái Nguyên. Khi thực dân Pháp xâm lược và đặt bộ máy cai trị Thái Nguyên, chúng đã nhiều lần thay đổi đơn vị hành chính.
Theo các nghị định ngày 20 tháng 8 năm 1891 và ngày 9 tháng 9 năm 1891 địa phận Bắc Kạn (Thái Nguyên) thuộc 2 đạo quan binh (phần phía đông và nam thuộc đạo quan binh 1 và phần phía bắc thuộc đạo quan binh 2). Ngày 11 tháng 4 năm 1900, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định lấy phần đất thuộc phủ Thông Hoá thành lập tỉnh Bắc Kạn gồm các châu Bạch Thông, Chợ Rã, Thông Hoá (sau đổi thành Na Rì) và Cảm Hoá (sau đổi thành Ngân Sơn). Tiếp theo đó ngày 25 tháng 6 năm 1901, Toàn quyền Đông Dương lại ra nghị định tách tổng Yên Đĩnh thuộc huyện Phú Lương (Thái Nguyên) nhập vào châu Bạch Thông (Bắc Kạn). Năm 1916, theo nghị định của Thống sứ Bắc Kỳ, một số tổng của Châu Bạch Thông, Chợ Rã và tổng An Biện Thượng thuộc Định Hoá (Thái Nguyên) tách ra lập thành châu Chợ Đồn.
Vào thời gian này Bắc Kạn có 5 châu, 20 tổng và Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www. Tháng 7/1901, thị xã Bắc Kạn đồng thời là tỉnh lỵ và châu lỵ châu Bạch Thông được thành lập. Ngày 21/4/1965, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) ra quyết định thành lập tỉnh Bắc Thái trên cơ sở hợp nhất hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn. Trong đấu tranh bảo vệ quê hương, từ tháng 12 năm 1978 theo quyết định của Quốc hội, hai huyện Chợ Rã, Ngân Sơn của tỉnh Bắc Thái sáp nhập vào tỉnh Cao Bằng.
Trong thời kỳ đổi mới, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, để đáp ứng yêu cầu và nguyện vọng của nhân dân các dân tộc và yêu cầu sự nghiệp cách mạng, ngày 6/11/1996, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 10 đã phê chuẩn chia tỉnh Bắc Thái thành hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn. Tỉnh Bắc Kạn được tái lập, các huyện Ngân Sơn, Ba Bể (Chợ Rã) được tái lập lại. Tháng 8 năm 1998, thành lập thêm huyện Chợ Mới, và năm 2003 địa bàn phía bắc huyện Ba Bể được tách ra thành lập huyện Pắc Nậm. Nằm giữa trung tâm căn cứ địa Việt Bắc, tỉnh Bắc Kạn có một vị trí quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Pháp, phía bắc giáp Cao Bằng, nam giáp Thái Nguyên, đông giáp Lạng Sơn, tây giáp Tuyên Quang, một góc tây bắc gần kề với Hà Giang.
Diện tích tự nhiên của Bắc Kạn là 4.795,54 km2, chia thành 8 đơn vị hành chính: Thị xã Bắc Kạn, các huyện Ngân Sơn, Ba Bể, Bạch Thông, Chợ Đồn, Na Rì, Chợ Mới, Pác Nặm. Dân số năm 2000 là 280.868 người, hiện nay có 7 dân tộc bao gồm: Tày, Kinh, Dao, Nùng, Hoa, H'Mông, Sán Chay Địa hình Bắc Kạn mang đặc trưng chung của khu vực miền núi phía bắc. Nổi bật nhất là cấu tạo dạng cánh cung. Các cánh cung đều tụ lại ở dãy Tam Đảo và mở ra về phía bắc và đông bắc, được hình thành bởi những dải núi, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.
Bắc Kạn hiện ra bởi hai cánh cung Ngân Sơn và Sông Gâm. Cánh cung Ngân Sơn trải dài gần 100 km từ nam Cao Bằng đến đông Phú Lương với nhiều khối núi lớn, có độ cao trung bình dưới 1.000m, một số ngọn núi cao trên 1.000m như Cốc Sổ (Na Rì) cao 1. Dải hữu ngạn cánh cung sông Gâm trải dài từ Chợ Rã đến tây Định Hoá theo hướng tây bắc - đông nam với nhiều ngọn núi cao, quanh năm mây mù che phủ. Dãy Phja Bjoóc hùng vĩ như một trường thành qua 3 huyện Ba Bể, Bạch Thông, Chợ Đồn, trong đó có ngọn Phia Iểng cao 1.
Xen vào giữa những cánh cung là những dải trũng rộng với các dòng sông tạo nên các bãi bồi thuận lợi cho canh tác nông nghiệp. Bắc Kạn là khu vực thượng nguồn của sông Cầu - dòng sông lớn nhất tỉnh. Ngoài ra Bắc Kạn còn có các sông Bắc Giang, sông Năng, thượng nguồn sông Đáy và nhiều suối khác. Mạng lưới sông suối là nguồn cung cấp nước dồi dào phục vụ phát triển nông, lâm, công nghiệp, đồng thời còn là hệ thống giao thông vận tải quan trọng và nguồn tiềm năng thuỷ điện phong phú.
Khí hậu mang tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa và ít nhiều dấu hiệu chuyển tiếp từ tự nhiên nhiệt đới sang á nhiệt đới. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 220 C, lượng mưa hàng năm khoảng 1. Đường bộ có quốc lộ 3 là con đường giao thông huyết mạch nối liền Bắc Kạn với các địa phương khác trong khu vực, từ đây có thể ngược lên phía bắc đến Cao Bằng, xuôi xuống phía nam đến Thái Nguyên và thủ đô Hà Nội.ngoài ra còn có quốc lộ 279 và hệ thống đường giao thông liên huyện, tạo thành một mạng lưới giao thông phục vụ dân sinh, phát triển kinh tế - văn hoá của nhân dân các dân tộc. Do vận động kiến tạo địa chất, thiên nhiên hào phóng đã tạo nên vùng đất Bắc Kạn với những kỳ quan thiên nhiên độc đáo.
Hồ Ba Bể rộng 450ha là một danh thắng độc đáo. Hồ và vườn Quốc gia Ba Bể là di sản thiên nhiên Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 9 quý giá. Ở đây hệ thống rừng nguyên sinh trên núi đá vôi, có tới 417 loài thực vật, 299 loài động vật có xương sống. Nhiều loài động vật quý hiếm vẫn còn được giữ như phượng hoàng đất, gà lôi, voọc mũi hếch.
Trong hồ có 49 loài cá nước ngọt, trong đó có một số loài quý như cá chép kính, cá rầm xanh, cá chiên.Có thể nói, hồ và vườn Quốc gia Ba Bể không những có giá trị trong nghiên cứu khoa học, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên quý giá, mà còn có tiềm năng to lớn về du lịch, đóng vai trò điều tiết nước, cải tạo khí hậu, cung cấp thuỷ sản, phát triển giao thông thuỷ lợi. Là một trong những tỉnh miền núi với nhưng quần sơn đá vôi, trong tổng số diện tích 4.795,54 km2, chỉ có 6% dành cho đất nông nghiệp. Đất đồi rừng ở Bắc Kạn chiếm 80% diện tích, trong đó diện tích có rừng là 133.000ha với độ che phủ 50%. Ở Bắc Kạn, đất feralit chiếm tỷ lệ đáng kể thuận lợi cho phát triển lâm nghiệp, trồng hoa màu cây công nghiệp, các loại cây lương thực.
Bắc Kạn có thảm thực vật phong phú và đa dạng, có nhiều gỗ quí, có nhiều thú quí, khoáng sản dồi dào và đa dạng. Có nhiều loại gỗ quý như kỳ nam, gỗ lát, dổi, chò, sao, de. Ngoài ra còn có các loại song, mây, tre, trúc, nứa, vàu, các loại đặc sản như sa nhân, nấm hương, mật ong. Các loại cây trồng truyền thống nổi tiếng như lê Ngân Sơn, hồng Chợ Đồn, cam Bản Tàu, chè Bản Hậu.Rừng Bắc Kạn có nhiều loại thú quý như hổ, báo, hươu, nai, gấu, khỉ, lợn rừng.Do điều kiện thiên nhiên ưu đãi tạo ra nhiều tiềm năng cho kinh tế nhưng cũng có nhiều thử thách do thiên nhiên gây ra.
Trong quá trình lịch sử, nhân dân các dân tộc Bắc Kạn đã tích luỹ được không ít những kinh nghiệm quí giá để tạo dựng nên truyền thống văn hoá dân tộc. Đó là từ đấu tranh với thiên nhiên họ đã đoàn kết chống giặc ngoại xâm. Đặc điểm dân cƣ và văn hoá Địa danh Bắc Kạn mới chính thức xuất hiện trong các văn bản vào thế kỷ XVII. Trên khu vực các dãy núi đá vôi Bắc Sơn, Ngân Sơn, Sông Gâm, từ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 10 rất sớm đã có con người cư trú.
Các di chỉ khảo cổ học phát hiện gần đây như Tống Cổ (Chợ Mới), Bản Thi (Chợ Đồn), Nà Cù (Bạch Thông), Phiềng Phí (Chợ Rã) đã khẳng định dấu vết của con người thời tiền sử trên mảnh đất này. Đặc biệt, gần đây các nhà khảo cổ học đã phát hiện trống đồng ở Sáu Hai và thị xã Bắc Kạn, điều đó góp phần khẳng định quá trình phát triển lâu dài và liên tục của con người trên đất Bắc Kạn trong tiến trình lịch sử Việt Nam. Bắc Kạn nói riêng và miền núi phía bắc nói chung còn lưu lại nhiều truyện cổ và truyền thuyết về nguồn gốc người Tày và quá trình tụ cư trên lãnh thổ Việt Nam như các truyện "Nạn hồng thuỷ", "Pú lương quân" hay truyện "Tài Ngào", mà huyền thoại hoá gắn liền với móng tay vàng ở vùng hồ Ba Bể hay vết lõm ở Khau Mộ của Tài Ngào. Cây đa trong huyền thoại với 30 cột chống, 90 cành vươn, gắn liền với nhiều địa danh thuộc Bắc Kạn như Bằng Khẩu, Nà Ngần (Ngân Sơn), Phja Dạ (Ba Bể) [97;tr49-51].
Tại các thung lũng hẹp vùng chân núi, những người Tày cổ đã sớm chinh phục tự nhiên khai phá đất đai, trồng lúa nước, cùng với lớp cư dân Việt cổ, tạo dựng nền văn minh đầu tiên trong sự nghiệp của dựng nước của dân tộc Việt Nam. Việc thành lập quốc gia Âu Lạc gắn liền với vai trò của Thục Phán An Dương Vương đã tạo nên sắc thái đa dân tộc: Lạc Việt và Âu Việt (gồm các cư dân Việt cổ và Tày cổ) là một thực tế lịch sử.