Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong lịch sử chiến tranh cách mạng và khởi nghĩa vũ trang, vấn đề xây dựng căn cứ địa và hậu phương là một quy luật mang tính quyết định đến thắng lợi cuối cùng. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), bên cạnh hậu phương chiến lược miền Bắc, Đảng Lao động Việt Nam đã chủ trương xây dựng hệ thống căn cứ địa cách mạng tại chỗ trên khắp các địa bàn chiến lược ở miền Nam. Trong đó, Trung Trung Bộ (gồm Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên) giữ vị trí cửa ngõ nối liền Biển Đông với Tây Nguyên và Đông Dương, là đầu mối tiếp nhận chi viện chiến lược Bắc - Nam bằng cả đường bộ lẫn đường biển, đồng thời là chiến trường tranh chấp ác liệt giữa lực lượng cách mạng và đối phương.

Mặc dù có vị trí chiến lược đặc biệt, các công trình nghiên cứu trước đây chủ yếu đề cập đến căn cứ địa Trung Trung Bộ một cách khái lược trong các bộ lịch sử kháng chiến toàn miền Nam, lịch sử chiến trường Khu V hoặc các công trình lịch sử đảng bộ, lực lượng vũ trang địa phương. Vấn đề căn cứ địa cách mạng trên toàn dải Trung Trung Bộ chưa được khảo cứu thành một hệ thống hoàn chỉnh từ diện mạo, quá trình phục hồi, phát triển, cơ chế vận hành trên các mặt quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội cho đến đặc điểm và bài học kinh nghiệm. Do đó, luận án tiến sĩ lịch sử với đề tài "Căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ trong kháng chiến chống Mỹ (1954-1975)" của tác giả Trần Thúy Hiền (Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế, 2015) được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống học thuật này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận án là phục dựng một cách căn bản và có hệ thống về quá trình hình thành, xây dựng, bảo vệ và phát huy vai trò của hệ thống căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ trong 21 năm kháng chiến chống Mỹ (1954-1975). Qua đó, đề tài cung cấp các luận cứ khoa học phục vụ nghiên cứu, giảng dạy lịch sử, giáo dục truyền thống và đóng góp cơ sở thực tiễn cho nhiệm vụ xây dựng thế trận an ninh - quốc phòng trên địa bàn hiện nay.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Luận giải và làm rõ những yếu tố tác động đến quá trình xây dựng, bảo vệ và phát huy vai trò căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ (điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, truyền thống yêu nước, tiền đề căn cứ địa thời kỳ trước 1954).
  2. Phân tích âm mưu, thủ đoạn của Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa trong việc xóa bỏ căn cứ địa; làm rõ chủ trương lãnh đạo của Trung ương Đảng, Khu ủy V và các đảng bộ địa phương; tái hiện hoạt động toàn diện của quân và dân Trung Trung Bộ trong việc khôi phục, củng cố, bảo vệ và phát huy vai trò căn cứ địa - hậu phương tại chỗ qua từng giai đoạn chiến lược.
  3. Luận giải, xác định các đặc điểm nổi bật của hệ thống căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ trong mối quan hệ đối sánh với các vùng chiến lược khác; từ đó đúc rút những bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị thực tiễn.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Quá trình xây dựng, bảo vệ và phát huy vai trò của căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975).
  • Phạm vi thời gian: Trọng tâm từ năm 1954 (sau Hiệp định Genève) đến ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam năm 1975. Luận án có khảo lược giai đoạn trước năm 1954 nhằm làm rõ cội nguồn lịch sử và tính kế thừa của các căn cứ địa.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn Trung Trung Bộ gồm 5 tỉnh, thành phố: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên. Về mặt địa giới hành chính, dù trải qua các đợt chia tách, sáp nhập của cả hai phía (tháng 7-1962 chính quyền Việt Nam Cộng hòa chia Quảng Nam - Đà Nẵng thành Quảng Nam và Quảng Tín; phía cách mạng từ cuối năm 1962 đến 1967 chia thành Quảng Nam và Quảng Đà, sau đó hợp nhất thành Đặc khu Quảng Đà vào tháng 11-1967), tổng thể không gian địa lý nghiên cứu vẫn giữ nguyên vẹn trên phạm vi 5 địa phương nói trên.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn; các yếu tố địa lý, kinh tế, xã hội; hoạt động xây dựng căn cứ trên các mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa - xã hội; các cuộc chiến đấu chống càn quét, bảo vệ căn cứ; đặc điểm, vai trò và bài học kinh nghiệm.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án đã phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu liên quan theo 3 nhóm chính:

Nhóm 1: Các công trình nghiên cứu về căn cứ địa cách mạng nói chung
Nhóm 2: Các công trình nghiên cứu về căn cứ địa cách mạng ở miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ
Nhóm 3: Các công trình trực tiếp phản ánh hoạt động xây dựng và bảo vệ căn cứ địa ở Trung Trung Bộ

Các hướng nghiên cứu trước đây

  • Nhóm công trình lý luận và tổng kết chiến tranh:

    • Tác phẩm Chiến thuật du kích của Hồ Chí Minh (Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 3, 2011) và Chọn căn cứ địa của Trường Chinh (1976) xác định nguyên lý lựa chọn địa bàn hiểm trở, gắn xây dựng căn cứ với lực lượng vũ trang và dựa vào sự ủng hộ của quần chúng.
    • Tác phẩm Bài giảng về đường lối quân sự của Đảng của Võ Nguyên Giáp (1974) phân tích quy luật phát triển từ cơ sở chính trị đến căn cứ địa, hậu phương nông thôn rừng núi và đồng bằng.
    • Bộ sách Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) (Tập IX, 2013) của Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam; công trình Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975) (1997); các bài viết của Ngô Vi Thiện (1986), Văn Tạo (1995), Trần Đơn (2012) phân tích vai trò hậu phương tại chỗ và bản chất của căn cứ địa trong chiến tranh cách mạng.
  • Nhóm công trình về căn cứ địa các chiến trường miền Nam:

    • Các công trình chuyên khảo, luận án tiến sĩ về các khu vực lân cận: Hồ Sơn Đài (1996) và Trần Thị Nhung (2001) về căn cứ địa miền Đông Nam Bộ; Bộ Tư lệnh Quân khu 7 - Tỉnh ủy Tây Ninh (2002) về căn cứ Tây Ninh; Trần Ngọc Long (2006) về Căn cứ U Minh; Chu Đình Lộc (2011) về Cực Nam Trung Bộ; Kỷ yếu hội thảo căn cứ Bình Thuận (2012). Các công trình này cung cấp khung phương pháp luận nghiên cứu căn cứ địa theo góc độ lịch sử quân sự.
  • Nhóm công trình trực tiếp về Trung Trung Bộ và Quân khu V:

    • Cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi (1975); Khu 5 – 30 năm chiến tranh giải phóng (Tập II, III, 1989) của Trần Quý Cát; Nam Trung Bộ kháng chiến (1945-1975) (1995); Một số kinh nghiệm chỉ đạo chiến tranh nhân dân địa phương ở Khu 5 trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975) (1999); Xây dựng và bảo vệ hệ thống căn cứ địa phương trên chiến trường Khu 5 trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ (1954-1975) (Bộ Tổng Tham mưu, 2001); Vành đai diệt Mỹ trên chiến trường Khu 5 (2002); Lịch sử An ninh Khu V thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) (2008).
    • Lịch sử Đảng bộ và Lịch sử Lực lượng vũ trang các tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên; các bài báo khoa học của Trần Hữu Đính (1986), Nguyễn Tiến Hỷ (1987), Nguyễn Văn Minh (1988), Trần Văn Giáp (2011), Phan Thị Ánh Tuyết (2011); các luận văn thạc sĩ của Đậu Văn Việt (2008), Nguyễn Phương Anh (2011); kỷ yếu các hội thảo khoa học về căn cứ Bến Hiên - Bến Giằng (2012), Sơn - Cẩm - Hà (2012), căn cứ lõm Bầu Bính (2013).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tổng quan tài liệu cho thấy các nghiên cứu trước đây tồn tại một số hạn chế:

  1. Mới chỉ dừng lại ở phạm vi từng căn cứ đơn lẻ (như Nước Oa, Nước Là, Đỗ Xá, Trà Bồng, Bầu Bính, K20) hoặc từng tỉnh riêng biệt, chưa có công trình bao quát toàn diện hệ thống căn cứ địa trên toàn địa bàn Trung Trung Bộ.
  2. Nặng về phản ánh hoạt động quân sự và các trận chiến đấu bảo vệ căn cứ, chưa làm nổi bật bức tranh toàn diện về xây dựng chính trị, tự túc kinh tế, tổ chức văn hóa, giáo dục, y tế tại căn cứ địa.
  3. Chưa có sự so sánh, đối chiếu sâu sắc giữa căn cứ địa Trung Trung Bộ với các chiến trường khác (Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Cực Nam Trung Bộ) để chỉ ra những đặc điểm mang tính quy luật vùng miền.
  4. Nguồn tư liệu chủ yếu dựa trên tài liệu lưu trữ của phía cách mạng, thiếu sự tham chiếu và đối chiếu với hồ sơ, tài liệu quân sự của chính quyền Việt Nam Cộng hòa để tạo cái nhìn đa chiều.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khái niệm

Luận án vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh về khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh cách mạng và chiến tranh nhân dân. Hệ thống khái niệm được tác giả làm rõ gồm:

  • Căn cứ địa cách mạng: Vùng đất giải phóng an toàn, có tổ chức chính quyền, lực lượng vũ trang và các cơ sở kinh tế, văn hóa - xã hội vững mạnh toàn diện, vừa là nơi đứng chân chỉ đạo, vừa là hậu phương trực tiếp cung cấp tiềm lực kháng chiến.
  • Hậu phương tại chỗ: Khái niệm chỉ vai trò tự đảm bảo vật chất, quân lương, vũ khí và nhân lực của vùng căn cứ giải phóng ngay tại chiến trường miền Nam, bổ trợ cho nguồn chi viện từ hậu phương lớn miền Bắc.
  • Căn cứ lõm: Vùng căn cứ nhỏ nằm sâu trong lòng vùng địch tạm chiếm hoặc ven đô thị, giữ vị trí xung yếu để xây dựng cơ sở chính trị và bàn đạp thâm nhập tác chiến du kích.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án thuộc thể loại nghiên cứu lịch sử chuyên ngành (định tính), kết hợp hai phương pháp chủ đạo:

  • Phương pháp lịch sử: Tái hiện tiến trình hình thành, xây dựng, chiến đấu và chuyển biến của các căn cứ địa Trung Trung Bộ theo đúng trình tự thời gian và bối cảnh lịch sử cụ thể từ 1954 đến 1975.
  • Phương pháp logic: Phân tích bản chất, quy luật vận động, mối liên hệ nhân quả giữa các sự kiện, rút ra các đặc điểm, vai trò và bài học kinh nghiệm.
  • Phương pháp bổ trợ: Phương pháp so sánh lịch sử (đối chiếu giữa các tỉnh trong vùng và giữa Trung Trung Bộ với các khu vực khác), phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp thống kê tư liệu và khảo sát thực địa.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Nghiên cứu được thực hiện dựa trên hệ thống tư liệu đa dạng:

  • Văn kiện lưu trữ: Khai thác tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (TP. Hồ Chí Minh), Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Viện Lịch sử Đảng, Bộ Tư lệnh Quân khu 5, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy các tỉnh Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên. Luận án đối chiếu tài liệu lưu trữ của phía cách mạng với các tài liệu hành chính, quân sự của chính quyền Việt Nam Cộng hòa.
  • Tài liệu hồi ký và nhân chứng lịch sử: Khai thác lời kể, hồi ký của các đồng chí nguyên là cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, chiến sĩ và đồng bào từng sống, chiến đấu tại các căn cứ địa Trung Trung Bộ, được thẩm định và đối chiếu chéo với tư liệu văn bản.
  • Tài liệu khảo sát thực địa: Kết quả khảo sát các di tích căn cứ địa tại Nước Oa, Nước Là (Quảng Nam), Trà Bồng, Ba Tơ (Quảng Ngãi), Vĩnh Thạnh, Núi Bà (Bình Định), Đồng Xuân, Sơn Hòa (Phú Yên), căn cứ K20, Sông Đà (Đà Nẵng).

Nội dung chính theo từng chương

Bố cục luận án gồm 4 chương chính với cấu trúc dung lượng và nội dung cụ thể:

Chương Tên chương Số trang Trọng tâm nghiên cứu
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 19 trang Tổng thuật 3 nhóm công trình, đánh giá thành tựu, xác định khoảng trống và kế thừa học thuật.
Chương 2 Khôi phục và bảo vệ căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ (1954-1960) 48 trang Các yếu tố tác động; âm mưu xóa căn cứ của Mỹ - Diệm; chủ trương phục hồi và đấu tranh bảo vệ căn cứ.
Chương 3 Kết hợp xây dựng với bảo vệ và phát huy vai trò căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ (1961-1975) 44 trang Phát triển căn cứ qua 3 giai đoạn: chống Chiến tranh đặc biệt, Chiến tranh cục bộ, Việt Nam hóa chiến tranh.
Chương 4 Đặc điểm, vai trò và bài học kinh nghiệm 34 trang Khái quát 4 đặc điểm, 4 vai trò chiến lược và 5 bài học kinh nghiệm lịch sử.

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương này điểm luận một cách có hệ thống các tài liệu, công trình đã công bố trong và ngoài nước liên quan đến vấn đề căn cứ địa cách mạng. Tác giả phân chia các công trình thành 3 nhóm theo cấp độ từ khái quát lý luận đến chuyên sâu từng vùng miền và địa phương cụ thể. Tác giả chỉ ra rằng phần lớn các tài liệu trước đây chỉ tiếp cận dưới góc độ lịch sử quân sự đơn thuần hoặc đề cập tản mạn trong lịch sử địa phương. Chương 1 khẳng định sự cần thiết phải nghiên cứu toàn diện căn cứ địa Trung Trung Bộ dưới góc độ một đối tượng lịch sử độc lập, kết hợp nguồn tư liệu hai phía để tái hiện chân thực bức tranh lịch sử.

Chương 2: Khôi phục và bảo vệ căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ (1954-1960)

Chương 2 phân tích các yếu tố tác động và tiến trình lịch sử trong những năm đầu sau Hiệp định Genève:

  • Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội:
    • Tự nhiên: Địa bàn hẹp ngang, phía Tây dựa vào dãy Trường Sơn hùng vĩ, phía Đông giáp biển; hệ thống giao thông gồm Quốc lộ 1A, Quốc lộ 14, 14D, 19, Đường 7; hệ thống cảng biển (Đà Nẵng, Tiên Sa, Quy Nhơn, Vũng Rô) và sân bay quân sự (Đà Nẵng, Chu Lai, Phù Cát, Đông Tác...). Địa hình rừng núi hiểm trở tạo thế "tiến có thể công, thoái có thể thủ", thuận tiện che giấu lực lượng nhưng khí hậu khắc nghiệt và lũ lụt cuối năm gây trở ngại lớn cho sản xuất.
    • Kinh tế - xã hội: Dân số trên 3 triệu người, 95% là người Kinh ở đồng bằng, 5% là đồng bào dân tộc thiểu số (Cơ Tu, Xê Đăng, Cor, Hrê, Ba Na, Chăm) ở vùng núi phía Tây. Đời sống miền núi mang tính tự cấp tự túc, đồng bào trung thực, kiên cường, giàu truyền thống yêu nước, là chỗ dựa vững chắc cho căn cứ lòng dân.
  • Tiền đề lịch sử: Kế thừa truyền thống chống Pháp của phong trào Cần Vương (căn cứ Trung Lộc, Lộc Đổng, Vân Hòa), phong trào Duy Tân, phong trào chống sưu thuế 1908, Xô viết 1930-1931, Đội du kích Ba Tơ và căn cứ nổi Sông Đà (B36) thời kỳ kháng chiến chống Pháp.
  • Quá trình khôi phục và đấu tranh (1954-1960):
    • Trước chính sách "tố cộng, diệt cộng", lập "khu dinh điền", dồn dân của chính quyền Ngô Đình Diệm, Trung ương và Liên khu ủy V (Nghị quyết mùa Hè 1958) đã chỉ đạo chuyển hướng bí mật khôi phục căn cứ miền núi.
    • Xây dựng các căn cứ miền Tây: Bến Hiên, Bến Giằng (Quảng Nam), Trà Bồng, Ba Tơ, Sơn Hà (Quảng Ngãi), Vĩnh Thạnh (Bình Định), Thồ Lồ, Ma Dú (Phú Yên).
    • Từng bước phát động khởi nghĩa vũ trang bảo vệ căn cứ: tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của đồng bào Vĩnh Thạnh (tháng 2-1959) và khởi nghĩa Trà Bồng (tháng 8-1959), mở đầu phong trào Đồng khởi ở vùng núi Khu V.

Chương 3: Kết hợp xây dựng với bảo vệ và phát huy vai trò căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ (1961-1975)

Chương 3 tái hiện toàn diện quá trình phát triển căn cứ địa qua các giai đoạn chiến lược của cuộc kháng chiến:

  • Giai đoạn chống "Chiến tranh đặc biệt" (1961-1965):
    • Củng cố căn cứ địa miền núi, hình thành các khu căn cứ liên hoàn cấp khu và tỉnh: Căn cứ Nước Là - Mật khu Đỗ Xá, căn cứ Nước Oa, mở rộng căn cứ đồng bằng qua phong trào phá "ấp chiến lược" (như chiến dịch giải phóng Sơn - Cẩm - Hà tháng 9-1962).
    • Đánh bại các cuộc càn quét lớn của quân đội Sài Gòn vào căn cứ Đỗ Xá (tháng 4-1963), giữ vững hành lang liên lạc giữa các tỉnh và hành lang chiến lược Bắc - Nam.
  • Giai đoạn chống "Chiến tranh cục bộ" (1965-1968):
    • Đối phó với lực lượng quân sự quy mô lớn của đối phương (cuối năm 1968 có 248.000 quân Mỹ - đồng minh và 98.100 quân Việt Nam Cộng hòa tại Trung Trung Bộ, cùng khu liên hợp quân sự Đà Nẵng).
    • Phát triển thực lực căn cứ: đẩy mạnh sản xuất tự túc, xây dựng làng chiến đấu ngầm, hệ thống hầm hào liên hoàn; hình thành "Vành đai diệt Mỹ" (Hòa Vang, Chu Lai) và các "căn cứ lõm" nội đô (K20, Đa Mặn - Mỹ Thị, Thạc Gián tại Đà Nẵng).
    • Đánh bại các chiến dịch "tìm diệt" và càn quét mùa khô của Mỹ, bảo vệ an toàn cơ quan đầu não Khu ủy V và các tỉnh ủy; phát huy vai trò hậu phương tại chỗ chi viện sức người, sức của cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.
  • Giai đoạn chống "Việt Nam hóa chiến tranh" đến thắng lợi 1975 (1969-1975):
    • Khắc phục hậu quả chiến dịch bình định cấp tốc và bom đạn khốc liệt sau năm 1968; củng cố các căn cứ lõm tiêu biểu như Bầu Bính (1971-1972), Hòn Tàu (Quảng Nam).
    • Giai đoạn 1973-1975: Củng cố vùng giải phóng, mở rộng tuyến vận tải đường bộ Đông Trường Sơn và tiếp nhận chi viện đường biển tại bến Vũng Rô, chuẩn bị bàn đạp xuất phát tiến công thần tốc giải phóng hoàn toàn các tỉnh Trung Trung Bộ mùa Xuân 1975.

Chương 4: Đặc điểm, vai trò và bài học kinh nghiệm

Chương 4 đúc kết các giá trị lý luận và thực tiễn từ hiện thực lịch sử:

  • 4 đặc điểm cơ bản:
    1. Phong phú về loại hình, đa dạng về quy mô và hình thức tổ chức: Gồm căn cứ địa miền núi (rộng lớn, trung tâm đầu não), căn cứ đồng bằng, "căn cứ nổi" ven biển (Khu Sông Đà) và "căn cứ lõm" trong lòng đô thị.
    2. Thường xuyên có sự biến động: Do địa bàn hẹp ngang, địch đánh phá liên tục bằng hỏa lực mạnh nên ranh giới căn cứ thường xuyên chuyển hóa giữa thế cài răng lược.
    3. Có khả năng tự túc, tự cấp cao: Tự túc lương thực thông qua đẩy mạnh canh tác nương rẫy, sản xuất vũ khí tự tạo và khai thác nguồn lực tại chỗ để thích ứng với điều kiện bị bao vây, cô lập.
    4. Dễ bị chia cắt, cô lập: Địa hình đồi núi dốc, sông ngòi chia cắt và mạng lưới căn cứ quân sự đối phương dày đặc khiến việc liên lạc giữa các căn cứ dễ bị gián đoạn khi địch càn quét lớn.
  • 4 vai trò chiến lược:
    1. Nơi đứng chân, lãnh đạo, chỉ huy an toàn của Liên Khu ủy V, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 và các cấp ủy địa phương.
    2. Là hậu phương tại chỗ trực tiếp cung cấp nhân tài, vật lực cho chiến trường, là điểm tựa tinh thần vững chắc cho nhân dân.
    3. Là bàn đạp xuất phát tiến công của bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương, nơi phát triển chiến tranh du kích rộng khắp.
    4. Là đầu mối tiếp nhận chi viện chiến lược từ miền Bắc bằng đường bộ và đường biển (đường Hồ Chí Minh trên biển).
  • 5 bài học kinh nghiệm lịch sử:
    1. Chú trọng triệt để đặc điểm địa - chính trị, địa - quân sự, địa - kinh tế và địa - văn hóa địa phương trong quy hoạch căn cứ.
    2. Phát huy vai trò hạt nhân lãnh đạo của tổ chức Đảng, chính quyền cách mạng và các đoàn thể nhân dân.
    3. Tăng cường củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện đúng đắn chính sách dân tộc miền núi của Đảng.
    4. Xây dựng căn cứ vững mạnh toàn diện, kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng với bảo vệ theo phương châm "bảo vệ để xây dựng".
    5. Kết hợp đồng thời việc xây dựng căn cứ miền núi hiểm trở với phát triển căn cứ du kích đồng bằng và các cơ sở "lõm chính trị" nội đô.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn

Căn cứ vào phần tự công bố của luận án, công trình đạt được các đóng góp cụ thể:

  • Về mặt khoa học:
    • Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên phục dựng một cách tổng thể, toàn diện và có hệ thống quá trình hình thành, phát triển, chiến đấu và cơ chế vận hành của hệ thống căn cứ địa cách mạng trên địa bàn 5 tỉnh, thành phố Trung Trung Bộ trong suốt 21 năm kháng chiến chống Mỹ (1954-1975).
    • Bổ sung nguồn tư liệu thực chứng phong phú, làm rõ sự lãnh đạo linh hoạt, sáng tạo của Trung ương Đảng, Khu ủy V và các đảng bộ địa phương trong việc vận dụng lý luận căn cứ địa vào đặc thù chiến trường ven biển miền Trung.
    • Phân tích và chỉ ra 4 đặc điểm mang tính quy luật vùng miền của căn cứ địa Trung Trung Bộ, đặt trong sự đối sánh khoa học với các căn cứ ở Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và Cực Nam Trung Bộ.
  • Về mặt thực tiễn:
    • Cung cấp luận cứ khoa học và các bài học lịch sử có giá trị tham khảo cho công tác hoạch định chiến lược quốc phòng, xây dựng khu vực phòng thủ và thế trận an ninh nhân dân trên địa bàn miền Trung trong tình hình mới.
    • Cung cấp tư liệu chuẩn xác phục vụ công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử địa phương, giảng dạy lịch sử kháng chiến và giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ.
    • Là cơ sở khoa học hỗ trợ các cơ quan chức năng trong việc khảo sát, xác định địa giới, quy hoạch trùng tu và xếp hạng bảo tồn các di tích lịch sử căn cứ kháng chiến tại Trung Trung Bộ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do phạm vi nghiên cứu trải rộng trên 5 tỉnh, thành phố trong khoảng thời gian dài 21 năm chiến tranh ác liệt, nguồn tư liệu giải mật từ phía đối phương (Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa) tuy đã được khai thác nhưng chưa thật đầy đủ ở một số hồ sơ tác chiến cấp cơ sở. Ngoài ra, việc tái hiện đời sống thường nhật và các hoạt động văn hóa - xã hội tại một số căn cứ nhỏ vùng sâu miền núi còn phụ thuộc vào mức độ lưu trữ tư liệu của từng địa phương.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục sưu tầm và giải mã thêm các nguồn tư liệu lưu trữ của Mỹ và quân đội Sài Gòn để bổ sung các góc nhìn đối sánh chi tiết về hiệu quả đánh phá và phản công tại các mật khu.
    • Đi sâu nghiên cứu chuyên biệt từng căn cứ địa cụ thể ở cấp huyện hoặc từng mô hình "căn cứ lõm", "căn cứ nổi" độc đáo.
    • Mở rộng khảo sát xã hội học lịch sử về đời sống văn hóa, sinh hoạt, y tế của đồng bào các dân tộc thiểu số và cán bộ kháng chiến trong các vùng căn cứ giải phóng.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao đối với các đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên chuyên ngành: Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Quân sự có thể khai thác khung lý thuyết, phương pháp tiếp cận tư liệu liên vùng và nguồn dữ liệu lịch sử phong phú tại các chương 2, 3 và 4.
  • Cơ quan quân sự và quốc phòng: Bộ Tư lệnh Quân khu 5, Bộ Chỉ huy Quân sự các tỉnh Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên có thể tham khảo 5 bài học kinh nghiệm về xây dựng thế trận lòng dân, kết hợp địa bàn rừng núi - đồng bằng - ven biển trong xây dựng khu vực phòng thủ hiện nay.
  • Cơ quan quản lý văn hóa và Ban Tuyên giáo địa phương: Cung cấp cơ sở dữ liệu lịch sử xác thực phục vụ công tác quy hoạch, khoanh vùng bảo tồn, trùng tu các di tích căn cứ địa cách mạng tiêu biểu như di tích Nước Oa, Nước Là, K20, Sơn - Cẩm - Hà, Trà Bồng, Vĩnh Thạnh, Thồ Lồ...

Câu hỏi thường gặp

Câu 1: Phạm vi không gian địa lý của khu vực Trung Trung Bộ trong luận án bao gồm những tỉnh, thành phố nào?

Trả lời: Phạm vi không gian nghiên cứu của luận án bao gồm 5 tỉnh, thành phố: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên. Mặc dù trong kháng chiến, chính quyền Việt Nam Cộng hòa và chính quyền cách mạng có nhiều lần chia tách, sáp nhập hành chính (như tách lập tỉnh Quảng Tín, Quảng Đà, Đặc khu Quảng Đà), địa giới tổng thể của toàn vùng Trung Trung Bộ trên thực tế không thay đổi.

Câu 2: Địa bàn Trung Trung Bộ có những đặc điểm tự nhiên và xã hội nào tác động đến việc xây dựng căn cứ địa?

Trả lời: Về tự nhiên, khu vực có địa thế hiểm trở, lưng tựa dãy Trường Sơn, mặt hướng ra Biển Đông, thuận lợi cho việc cất giấu lực lượng và tiến công phòng thủ, song khí hậu khắc nghiệt và địa hình chia cắt gây khó khăn cho giao thông, tiếp tế. Về xã hội, dân số trên 3 triệu người với 95% là người Kinh ở đồng bằng và 5% là các dân tộc thiểu số (Cơ Tu, Xê Đăng, Cor, Hrê, Ba Na, Chăm) ở miền núi; đồng bào có tinh thần yêu nước quật cường, trung thực, là cơ sở xây dựng "căn cứ lòng dân" vững chắc.

Câu 3: Hệ thống căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ (1954-1975) mang những đặc điểm cơ bản nào?

Trả lời: Luận án chỉ ra 4 đặc điểm nổi bật: (1) Phong phú về loại hình (rừng núi, đồng bằng, căn cứ nổi ven biển, căn cứ lõm nội đô), đa dạng về quy mô; (2) Thường xuyên biến động do sự đánh phá ác liệt và tranh chấp của địch; (3) Có khả năng tự túc, tự cấp cao về lương thực và vũ khí thô sơ; (4) Dễ bị chia cắt, cô lập khi địch tập trung lực lượng hỏa lực mạnh đánh phá.

Câu 4: Các vai trò chiến lược của căn cứ địa cách mạng Trung Trung Bộ trong kháng chiến chống Mỹ là gì?

Trả lời: Căn cứ địa đảm nhiệm 4 vai trò chính: (1) Nơi đứng chân an toàn của cơ quan lãnh đạo, chỉ huy Khu V và các tỉnh; (2) Hậu phương tại chỗ cung cấp sức người, sức của và điểm tựa tinh thần; (3) Bàn đạp xuất phát tiến công của các lực lượng vũ trang; (4) Đầu mối tiếp nhận chi viện chiến lược từ miền Bắc bằng đường Trường Sơn và đường biển (Vũng Rô).

Câu 5: Luận án đúc rút những bài học kinh nghiệm then chốt nào về xây dựng và bảo vệ căn cứ địa?

Trả lời: Luận án đúc rút 5 bài học: (1) Chú trọng đặc điểm địa lý - tự nhiên, kinh tế, văn hóa địa phương; (2) Phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng và chính quyền; (3) Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân và thực hiện tốt chính sách dân tộc; (4) Xây dựng căn cứ vững mạnh toàn diện, kết hợp xây dựng với bảo vệ; (5) Kết hợp đồng thời căn cứ miền núi với căn cứ du kích đồng bằng và cơ sở lõm nội đô.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Thúy Hiền là công trình nghiên cứu lịch sử chuyên khảo, phục dựng một cách toàn diện và có hệ thống quá trình hình thành, phát triển và phát huy vai trò của căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ giai đoạn 1954-1975. Thông qua nguồn tư liệu lưu trữ phong phú và phương pháp nghiên cứu lịch sử - logic chặt chẽ, luận án đã làm sáng tỏ 4 đặc điểm, 4 vai trò chiến lược và 5 bài học kinh nghiệm sâu sắc của phương thức chiến tranh nhân dân tại chỗ. Kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp quan trọng vào kho tàng lịch sử kháng chiến chống Mỹ và lịch sử địa phương Khu V mà còn cung cấp cơ sở khoa học thiết thực cho công tác giáo dục truyền thống, bảo tồn di tích và xây dựng thế trận quốc phòng - an ninh hiện nay.