Chương 1: Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạo chiến tranh du kích trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến (1945 - 1950). Chương 2: Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạo chiến tranh du kích trong giai đoạn tiến công chiến lược của cuộc kháng chiến (1951-1954). Chương 3: Những ưu điểm, hạn chế và một số kinh nghiệm lịch sử. 9 z Chƣơng 1 ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG LÃNH ĐẠO CHIẾN TRANH DU KÍCH TRONG GIAI ĐOẠN ĐẦU CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN (1945 - 1950) 1.
Điều kiện lịch sử và chủ trƣơng của Đảng bộ 1. Điều kiện lịch sử Thành phố Hải Phòng - thành phố có cảng lớn nhất miền Bắc và cũng là một trong những cảng lớn của nước ta, nhìn thẳng ra biển Đông, nằm ngay ở cửa ngõ chiến lược quan trọng của phía Đông Bắc đồng bằng Bắc bộ. Hải Phòng nằm ở vị trí giao lưu thuận lợi với các tỉnh trong nước và quốc tế thông qua hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường biển, đường sông và đường hàng không. Địa hình Hải Phòng thay đổi rất đa dạng phản ánh một quá trình lịch sử địa chất lâu dài và phức tạp.
Phần bắc Hải Phòng có dáng dấp của một vùng trung du với những đồng bằng xen đồi trong khi phần phía nam thành phố lại có địa hình thấp và khá bằng phẳng của một vùng đồng bằng thuần tuý nghiêng ra biển. Đồi núi của Hải Phòng tuy chỉ chiếm 15% diện tích chung của thành phố nhưng lại rải ra hơn nửa phần bắc thành phố thành từng dải liên tục theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, có quá trình phát sinh gắn liền với hệ núi Quảng Ninh thuộc khu đông bắc Bắc bộ về phía Nam. Đồi núi của Hải Phòng hiện nay là các dải đồi núi còn sót lại, di tích của nền móng uốn nếp cổ bên dưới, nơi trước đây đã xảy ra quá trình sụt võng với cường độ nhỏ. Cấu tạo địa chất gồm các loại đá cát kết, phiến sét và đá vôi có tuổi khác nhau được phân bố thành từng dải liên tục theo hướng Tây Bắc - Đông Nam từ đất liền ra biển.
10 z Diện tích Hải Phòng rộng 1503 km2, hình thành hai vùng rõ rệt: vùng đồi núi và vùng đồng bằng, có sông, biển, hải đảo và thềm lục địa rộng lớn, có thành phố và vùng nông thôn. Với sự kiến tạo đó, Hải Phòng có địa thế vừa đa dạng, phong phú, vừa phức tạp, có nhiều thế hiểm về mặt quân sự. Địa phận của thành phố Hải Phòng có nhiều sông ngòi chảy qua, như sông Bạch Đằng, sông Cấm, sông Văn Úc, sông Thái Bình, sông Hóa, sông Chanh, sông Giá. Các sông đều chảy theo hướng từ Tây Bắc xuống Đông Nam, đổ ra biển qua các cửa sông Thái Bình, Văn Úc, Cửa Cấm, Nam Triệu, rất thuận lợi cho giao thông vận tải đường thủy về kinh tế, đặc biệt là cơ động những lực lượng lớn về quân sự.
Do đó từ xưa đến nay, khi bọn xâm lược tiến đánh nước ta từ phía đông bắc, chúng đều lợi dụng các con sông và cửa biển để tổ chức những cuộc hành binh lớn đổ bộ đánh chiếm Hải Phòng, để từ đó làm bàn đạp đánh sâu vào đất liền và là đầu cầu hậu cần của chúng. Hải Phòng cùng với Bạch Đằng đã từng là nơi diễn ra những trận thủy chiến lớn nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Theo đường sông từ Hải Phòng, chúng có thể tiến sâu và vùng đồng bằng Bắc bộ, lên Hà Nội, Phả Lại, Việt Trì… Những dòng sông chở nặng phù sa làm giàu cho quê hương, đồng thời là mồ chôn những danh tướng và bao đội quân xâm lược, đã làm rạng rỡ lịch sử chống ngoại xâm của mảnh đất trung dũng, quyết thắng và Tổ quốc Việt Nam. Địa hình Hải Phòng đa dạng và rất quan trọng về mặt quân sự.
Đó là những khu rừng lau sậy, sú vẹt dọc các triền sông và ven biển, có nơi rộng tới 500 mét, dài hàng chục km, tạo thành những bãi chướng ngại thiên nhiên rất thuận lợi cho việc tổ chức phòng thủ và tổ chức các căn cứ du kích, hoạt động, tác chiến của lực lượng vũ trang ta. Đó là những dãy núi hiểm yếu mà những tên gọi của nó đã gắn liền với những chiến công vang dội của Hải Phòng trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Phia đông nam thành phố có dãy núi Ngọc (Đồ Sơn) với mười ngọn kéo 11 z dài 9 km, giáp biển, hình thành một bán đảo án ngữ cửa ngõ vào thành phố như một bức tường thành. Phía Nam có núi Đối, núi Trà Phương; phía Tây nam có núi Voi, núi Xuân Sơn, núi Phù Liễn, núi Cột Cờ, núi Đấu; phía Bắc và đông bắc có núi Đèo và dãy núi Tràng Kênh.
Hải Phòng có những hòn đảo có vị trí như những người lính tiền tiêu ngày đêm canh giữ biển khơi phía Đông Bắc của Tổ quốc. Đảo xa nhất là Bạch Long Vĩ, cách đất liền 170 km, nằm giữa đường từ Hải Phòng tới đảo Hải Nam (Trung Quốc); đảo Long Châu cách bờ 50 km; đảo Cát Bà địa thế hiểm trở, rừng núi trùng điệp, có rừng nguyên sinh đã trở thành vườn quốc gia, cùng Đồ Sơn là những nơi du lịch nổi tiếng. Về giao thông đường bộ, Hải Phòng có đường quốc lộ 5 nối với Hải Dương, Hà Nội; đường 10 nối với Thái Bình, Quảng Ninh. Song song với đường 5 có đường xe lửa.
Đường 5 và đường xe lửa đi Hà Nội là những con đường có ý nghĩa chiến lược cả về kinh tế và quốc phòng. Ngoài ra có các đường tỉnh lộ nối trung tâm thành phố với các huyện, thị trấn. Đường hàng không Hải Phòng có 3 sân bay: Cát Bi, Kiến An, Đồ Sơn. Sân bay Cát Bi ngoài chức năng chuyên dụng, nó còn là đường bay dân dụng nối với các nước vùng Đông Nam Á.
Về giao thông đường biển, từ Hải Phòng, tàu biển các loại có thể đi khắp các cảng trong nước và trên thế giới. Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Hải Phòng đã từng là nơi tiếp nhận phần lớn hàng hóa của các nước anh em và nhân dân tiến bộ trên thế giới giúp đỡ Việt Nam. Hải Phòng còn là nơi xuất phát bí mật của những con tàu vỏ gỗ, vỏ sắt tạo nên “Đường mòn Hồ Chí Minh trên biển” chi viện có hiệu quả sức người, sức của cho quân dân miền Nam đánh Mỹ. Do vị trí và địa thế tự nhiên như vậy, cho nên Hải Phòng có vị trí chiến lược quan trọng cả về chính trị, kinh tế, an ninh và quốc phòng.
Nó thường là 12 z một trong những nơi đi trước về sau trong nhiều cuộc chiến tranh chống xâm lược của dân tộc ta. Địa bàn thành phố Hải Phòng ngày nay đã xuất hiện trên bản đồ hành chính nước ta liên tục từ Nhà nước cổ sơ Văn Lang đến Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nhiều tên gọi khác nhau và nhiều lần điều chỉnh địa giới, địa danh. Riêng địa bàn đô thị Hải Phòng lúc đầu được hình thành trên hai làng An Biên và Gia Viên với tên nôm là Viên Cấm. Hải Phòng là vùng đất cổ đã nổi tiếng trong lịch sử khi nữ tướng Lê Chân khai phá lập nên trang An Biên ở đây, và được gắn với các cái tên Hải tần phòng thủ.
Thời kỳ độc lập tự chủ của các triều đại phong kiến Việt Nam, vùng này lại nổi tiếng với các chiến thắng trên sông Bạch Đằng: trận Bạch Đằng - 938 của Ngô Quyền, trận Bạch Đằng - 981 của Lê Hoàn, trận Bạch Đằng - 1288 của Trần Hưng Đạo. Đến triều đại nhà Hậu Lê (giai đoạn Lê sơ), vùng này nằm trong xứ Hải Dương (là miền cực đông duyên hải của xứ này). Tới nhà Mạc vì đây là quê hương của nhà Mạc nên vùng này được chú ý xây dựng thành kinh đô thứ hai gọi là Dương Kinh. Sau đó, từ nhà Lê trung hưng đến nhà Nguyễn vùng này đều thuộc trấn Hải Dương và sau này là tỉnh Hải Dương (1831).
Năm 1870 - 1873, Bùi Viện, được sự tiến cử với vua Tự Đức của Doanh điền sứ Doãn Khuê, đã thực hiện việc xây dựng một bến cảng bên cửa sông Cấm mang tên Ninh Hải và một căn cứ phòng ngự bờ biển ở liền kế bên, gọi là nha Hải phòng sứ. Khi Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ nhất năm 1873-1874, nhà Nguyễn phải ký hòa ước Giáp Tuất, trong đó quy định nhà Nguyễn phải mở cửa thông thương các cảng Ninh Hải (Hải Phòng) thuộc tỉnh Hải Dương và Thị Nại tỉnh Bình Định, để đổi lấy việc Pháp rút quân khỏi Bắc Kỳ. Sau đó tại cảng Ninh Hải này, nhà Nguyễn và Pháp lập nên một cơ quan thuế vụ chung, quản lý việc thương mại ở vùng cảng này gọi là Hải Dương thương chính quan phòng. Như vậy, nguồn gốc địa danh Hải Phòng có thể là từ: 13 z * Tên gọi rút ngắn trong cụm từ Hải tần phòng thủ, của nữ tướng Lê Chân đầu thế kỷ 1.
* Tên gọi rút ngắn từ tên gọi của một cơ quan đời Tự Đức trên đất Hải Dương. Thời Pháp thuộc, Hải Phòng cũng trải qua nhiều biến đổi. Ngày 11 tháng 9 năm 1887, thống sứ Bắc Kỳ ra nghị định thành lập tỉnh Hải Phòng. Ngày 19 tháng 7 năm 1888, toàn quyền Đông Dương quyết định thành lập Hải Phòng và ép vua Đồng Khánh nhượng khu vực này cho thực dân Pháp.
Thành phố Hải Phòng trở thành nhượng địa, hưởng quy chế thành phố cấp 1 như Sài Gòn và Hà Nội. Ngày 31 tháng 8 năm 1889, toàn quyền Đông Dương tách thành phố Hải Phòng ra khỏi tỉnh Hải Phòng, thành đơn vị hành chính riêng, chuyển tỉnh lỵ về Phù Liễn, đổi tên là tỉnh Phù Liễn. Ngày 17 tháng 2 năm 1906 lại đổi tên thành tỉnh Kiến An. Cách mạng Tháng Tám thành công, thành phố Hải Phòng được giải phóng.
Trước yêu cầu của tình hình mới, ngày 26 tháng 11 năm 1946, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa sáp nhập Hải Phòng, Kiến An thành liên tỉnh Hải - Kiến, và do điều kiện của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tháng 12 năm 1948 lại tách ra. Đến 20 tháng 10 năm 1962, Nghị quyết Quốc hội khóa 2 quyết định hợp nhất tỉnh Kiến An và thành phố Hải Phòng lấy tên là thành phố Hải Phòng gồm địa bàn liên tỉnh Hải - Kiến cũ, cộng thêm huyện Vĩnh Bảo sáp nhập vào tỉnh Kiến An năm 1952 và hai huyện Cát Bà, Cát Hải, đảo Bạch Long Vĩ sáp nhập vào thành phố Hải Phòng từ năm 1956. Hải Phòng là một thành phố ra đời từ những năm 70 của thế kỷ XIX.