mở đầu bằng Trần Cảnh tức Trần Thái Tông. Năm 1242, vua Trần Thái Tông đổi 24 lộ thời Lý thành 12 lộ và đặt các chức quan cai quản từ lộ đến xã. Cuối thời Lý đầu thời Trần Thanh Hóa là Phủ, năm nguyên Phong thứ 6 đời Trần Thái Tông (1256) đổi thành Trại, năm Bảo Phù thứ 3 (1275) đời Trần Thánh Tông lại gọi là Phủ. Cuối Trần (không rõ năm) đổi là lộ rồi trấn.
Năm 1397, trấn Thanh Hóa đổi thành trấn Thanh Đô. Vùng đất Thanh Hóa từ cuối thế kỷ XII đến cuối thế kỷ XIV gồm có 7 huyện, 3 châu (mỗi châu có 4 huyện). Trong đó, 7 huyện là: Huyện Cổ Đằng, với trung tâm là đất Kẻ Đừng - Phú Khê. Niên hiệu Hưng Long (1293 - 1314) nhà Trần đặt làm huyện Cổ Đằng, nay thuộc huyện Hoằng Hóa.
Huyện Cổ Hoằng, ngày nay là một phần đất huyện Hoằng Hóa. Huyện Đông Sơn: Trước kia gọi là Đông Dương hoặc Đông Cương. Đến thời Trần gọi là huyện Đông Sơn. Nay thuộc huyện Đông Sơn.
11 Huyện Cổ Lôi, ngày nay là huyện Thọ Xuân và một phần đất huyện Thường Xuân. Huyện Vĩnh Ninh, thuộc vào địa phận huyện Vĩnh Lộc ngày nay nằm ở phía tả ngạn sông Mã. Huyện Yên Định nay là huyện Thiệu Yên, nằm ở hữu ngạn sông Mã. Huyện Lương Giang, nằm cả hai bên bờ sông chu.
Trước năm 1980 là huyện Thiệu Hóa, sau đó một số xã ở tả ngạn sông Chu nhập vào Yên Định thành huyện Thiệu Yên; một số xã ở hữu ngạn sông Chu nhập vào huyện Đông Sơn ngày nay. Ba châu gồm: Châu Ái gồm 4 huyện: Hà Trung, Thống Bình, Tống Giang, Chi Nga. - Huyện Hà Trung: Ngày nay là thị xã Bỉm Sơn và huyện Hà Trung. - Huyện Thống Bình, thuộc huyện Hậu Lộc ngày nay.
- Huyện Tống Giang, là địa phận thuộc một số xã phía tây Nga Sơn, thị xã Bỉm Sơn và một số xã phía đông Bắc Hà Trung. - Huyện Chi Nga: Phần đất hiện nay thuộc huyện Nga Sơn. Châu Cửu Chân gồm 4 huyện: Cổ Chiến, Kết Thuế, Duyên Giác, Nông Cống. - Huyện Cổ Chiến: Nằm ở phía đông Nam tỉnh Thanh Hóa, nay là phần đất huyện Tĩnh Gia.
- Huyện Kết Thuế: Bao gồm phần đất phía Bắc Tĩnh Gia, phía Nam Quảng Xương ngày nay. - Huyện Duyên Giác: thuộc một số xã phía Bắc Quảng Xương đến khu vực Bố Vệ ngày nay. 12 - Huyện Nông Cống: Là phần đất phía Tây Nam Thanh Hóa gồm cả Như Xuân ngày nay. Châu Thanh Hóa gồm 4 huyện: Nga Lạc, Tế Giang, Yên Lạc, Lỗi Giang.
- Huyện Nga Lạc: Địa phận huyện Ngọc Lặc ngày nay, là một phần đất Thọ Xuân ở tả ngạn sông Chu. - Huyện Tế Giang: Vùng đất phía tây Thạch Thành ngày nay. - Huyện Yên Lạc: Phần đất của huyện Cẩm Thủy, Bá Thước ngày nay. - Huyện Lỗi Giang: Tương đương với huyện Cẩm Thủy, Bá Thước ngày nay.
Ở Thanh Hóa nhà Trần đặt các chức An phủ, Trấn phủ, hai viên chánh phó để cai trị. Năm 1243, Vua Trần cử Trần Thủ Độ đi kiểm tra sổ đinh và ông được cử làm tri Thanh hóa phủ sự: “Phong Trần Thủ Độ làm Thống quốc Thái sư tri Thanh Hóa phủ sự” [25, tr. và 1238 “duyệt sổ đinh Thanh Hóa” [25, tr. Nhà Trần rất quan tâm đến việc tổ chức xây dựng chính quyền cấp cơ sở.
Theo chế độ quản lý chung của nhà nước, các xã, sách ở Thanh Hóa đều có chức tiểu tư xã, đại tư xã thuộc ngạch quan chức của triều đình quản giữ cùng với xã sử, xã chính, xã giám, gọi là xã quan [25, tr. Hiệu lực của các tổ chức quản lý đó chặt chẽ và có tác dụng ở Thanh Hóa. Bia 興 福 寺 (Bia chùa Hưng Phúc) ở hương Yên Duyên (nay thuộc xã Quảng Hùng huyện Quảng Xương) dựng và khắc năm Khai Thái thứ 13 (1324) nói rõ việc Đại toát Lê Mạnh người đứng đầu hương Yên Duyên vào đời Trần đã tổ chức và xây dựng làng xã góp công trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ 2 (1285). 13 Thời Trần, cương vực các huyện, xã của Thanh Hóa đã rõ ràng, bộ máy chính quyền từ phủ hoặc trấn đến giáp hương, xã được kiện toàn và tổ chức chặt chẽ.
Đặc điểm dân cư Thanh Hóa Thanh Hóa là một tỉnh có dân số lớn thứ ba của Việt Nam, đồng thời cũng là tỉnh có nhiều đơn vị hành chính nhất trong cả nước (với 27 đơn vị hành chính cấp huyện và tương đương). Lịch sử hình thành và phát triển của Thanh Hóa gắn liền với quá trình cộng cư của người Việt với người Mường và các dân tộc khác, chủ yếu có 7 dân tộc là: Kinh, Mường, Thái, Thổ, Dao, Mông, Khơ Mú. Trong đó, người Kinh chiếm phần lớn dân số của tỉnh và có địa bàn phân bố rộng khắp. Các dân tộc khác có dân số và địa bàn sống thu hẹp hơn.
Trong lịch sử, quá trình di dân giữa các vùng miền là một quy luật khách quan và diễn ra thường xuyên. Có sự nhập cư thì cũng có sự chuyển cư. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự chuyển cư, có thể là các thầy đồ đi dạy học, có người đi buôn bán, làm ăn xa không trở về quê cũ và cũng có thể vì lí do chính trị mà phải bỏ quê quán ra đi. Trong tình hình tư liệu hiện nay việc xác định quá trình người Thanh Hóa chuyển cư đến các địa phương khác thời Lý - Trần là rất khó khăn.
Theo gia phả họ Bùi ở Thịnh Liệt (dòng Bùi Xương Trạch, Bùi Huy Bích.) cho biết dòng họ này gốc từ Cát Xuyên (Hoằng Hoá), chuyển ra ở Thịnh Liệt vào thời cuối Trần; sau khi định cư ở xã Định Công một đời mới dời về Thịnh Liệt. Dòng họ này từ thời Lê đã nổi danh nhiều người đỗ đạt (Tiến sĩ Bùi Xương Trạch -1478; Bảng nhãn Bùi Vĩnh -1532; Tiến sĩ Bùi Bỉnh Quân - 1619; Hoàng giáp Bùi Huy Bích -1769) v. Dựa vào các tài liệu lịch sử và các di tích khảo cổ học cho thấy địa bàn Thanh Hóa là nơi có cư dân sinh sống từ rất sớm. Cùng với thời gian, địa bàn tụ cư ngày càng được mở rộng.
14 Ở khu vực đồng bằng, đặc biệt là quanh khu vực đồng bằng sông Mã, từ xa xưa, dân cư Thanh Hóa đã có hướng phát triển ra nhiều phía. Từ rất sớm, ở vùng đồng bằng Thanh Hóa mà trung tâm là ngã ba sông Mã, sông Chu đã xuất hiện những tụ điểm dân cư thực sự đông đúc. Đó là các địa điểm: Thiệu Dương, Đông Sơn, Hoằng Lý, Hoằng Quỳ…Các di chỉ khảo cổ học từ thời Tiền sử, Sơ sử đã khẳng định quá trình tu cư sớm trên những địa bàn này. Vùng trung du miền núi Thanh Hóa là nơi sinh sống chủ yếu của đồng bào Mường, họ sống tập trung thành các làng bản, nằm dưới chân những dãy núi cao.
Khu vực ven biển Thanh Hóa, diện cư trú của cư dân ngày càng được mở rộng với những “làng cổ”. Có thể nói, cư dân Thanh Hóa từ rất sớm đã có mặt trên khắp các miền của tỉnh. Dân cư vùng này chủ yếu sống bằng nghề nông trồng lúa nước, sống quần cư theo hình thức xóm, làng. Luôn đoàn kết trong trị thủy, thủy lợi, trong đấu tranh chống giặc giữ nước.
Người dân Thanh Hóa luôn cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất và có tinh thần tương thân, tương ái, giúp đỡ nhau trong đời sống, nhất là khi thiên tai, dịch bệnh. Trải qua những giai đoạn khốc liệt của các cuộc chiến tranh, người dân nơi đây vẫn bất khuất, kiên trung vượt qua mọi khó khăn để vươn lên. Chính trên mảnh đất này người dân Thanh Hóa đoàn kết làm nên nhiều chiến công hiển hách, góp phần vào những trang sử hào hùng của dân tộc. Truyền thống yêu nước và đấu tranh của nhân dân Những tư liệu lịch sử còn lại ngày nay cho ta thấy, ngay từ buổi đầu hình thành cũng như trong quá trình xây dựng và phát triển vùng đất Thanh Hóa, biết bao thế hệ người dân nơi đây đã đoàn kết đấu tranh không ngừng để củng cố nền độc lập dân tộc cũng như chống lại chế độ cai trị hà khắc.
Trong 15 các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ tổ quốc những người dân nơi đây đã không quản ngại gian khổ, hi sinh, góp phần xứng đáng vào những chiến công hiển hách của dân tộc. Thanh Hóa vốn là một vùng đất có vị trí và vai trò đặc biệt trong lịch sử Việt Nam. Về địa lý, đây là vùng đất trung gian nối miền Bắc với miền Nam của đất nước. Về văn hóa, Thanh Hóa là nơi chứng kiến sự giao lưu tiếp xúc văn hóa vùng miền Bắc - Nam, là vùng đất tiếp nối những ảnh hưởng chính trị từ kinh đô Thăng Long lan truyền vào những vùng đất phía Nam của tổ quốc, và ngược lại.
Ngoài ra, đây còn là đất “thang mộc” của cả hai triều đại: Lê sơ - Lê Trung Hưng và triều Nguyễn trong lịch sử Trung đại Việt Nam. Thanh Hóa luôn là vùng đất “căn bản”, vùng đất "dấy nghiệp" của các vương triều ấy. Thanh Hóa là quê hương của nhiều anh hùng dân tộc, là đất anh hùng và đế vương với nhiều danh nhân tiêu biểu như: Bà Triệu, Lê Hoàn, Lê Lợi, Hồ Quý Ly, các chúa Trịnh, chúa Nguyễn, vua Nguyễn…. Hơn thế nữa, trong suốt lịch sử nghìn năm bắc thuộc, Thanh Hóa luôn là căn cứ tử thủ của nghĩa quân trong phong trào chống xâm lược.
Năm 938, Ngô Quyền từ đất Ái Châu diệt quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng. Thời chống giặc phương Bắc, cư dân vùng đất này đã góp phần không nhỏ vào sự nghiệp chống ngoại xâm, không để cho giặc phương bắc xâm lược, đồng hóa, mà ngược lại đã Việt hóa những kẻ di dân hàng loạt xuống phương Nam. Từ thời Lý-Trần, sự nghiệp của một số nhân vật người Thanh Hóa được sử sách ghi chép lại như Đào Cam Mộc - một công thần có công lớn trong việc phò trợ Lý Công Uẩn lên ngôi năm 1009; Lê Phụng Hiểu với công lao dẹp “loạn Tam vương”, phò Lý Phật Mã lên ngôi (tức Lý Thái Tông) năm 1028; một số người thi đỗ làm quan triều Trần v. 16 Từ thời Trần, nhiều văn thân người gốc Thanh Hóa đã có đóng góp cho sự phát triển thịnh trị của vương triều.
Về khoa bảng có Lê Văn Hưu, Lưu Diễm, Lưu Miễn; về chính trị có Lê Quát, trung thần tiết nghĩa có Lê Giốc, võ tướng nổi tiếng trung liệt có Trần Khát Chân.