mở đầu cho việc trực tiếp đưa quân vào tham chiến ở miền Nam Việt Nam. Tháng 7 - 1965, Lyndon B. Johnson quyết định đưa 44 tiểu đoàn Mỹ vào miền Nam Việt Nam và chấp nhận chiến lược “tìm diệt” của tướng William Westmoreland, cuộc chiến Việt Nam bước vào giai đoạn mới”- “Chiến tranh cục bộ”. Thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, Mỹ âm mưu: Nhanh“chóng tạo ra ưu thế về binh lực và hỏa lực để có thể áp đảo lực lượng chủ lực của ta bằng chiến lược quân sự mới: “tìm diệt”, có thể giành lấy thế chủ động trên chiến trường, đẩy lực lượng của ta về phòng ngự, buộc ta phải phân tán đánh nhỏ hoặc rút lui về biên giới.” Mở“rộng và củng cố hậu phương của Mỹ - Việt Nam Cộng hòa, kết hợp với các hoạt động chính trị - xã hội, thực hiện”chiến tranh tâm lí, giành lại dân, đưa Nhân dân miền Nam vào ách kìm kẹp.
Thứ hai, sự chỉ đạo của Đảng. Nước“Mỹ sen đầm không dễ dàng chấp nhận thất bại, liền thay đổi chiến lược, trực tiếp đưa quân viễn chinh và quân chư hầu tham chiến ở miền Nam, dùng không quân và hải quân đánh phá miền Bắc dữ dội. Đây là bước leo thang rất nghiêm trọng, đặt dân tộc Việt Nam trong một tình thế hiểm nghèo. Bằng kinh nghiệm và truyền thống yêu nước được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử, Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo đầy thao lược của Đảng và Bác Hồ đã bình tĩnh chấp nhận cuộc đụng đầu lịch sử một cách chủ động, kiên quyết”[10, tr.
8 c Đảng đã đề ra Nghị quyết Trung ương 11, đưa ra“phương hướng, nhiệm vụ chiến lược để lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, tích cực khẩn trương chuẩn bị, sẵn sàng chiến đấu chống chiến tranh mở rộng. Do đó, khi quân Mỹ vào”miền Nam, Đảng đã đề ra khẩu hiệu: “Xây dựng, bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đảm bảo cuộc thắng lợi cho cuộc kháng chiến”. Với tầm nhìn chiến lược,“Đảng lao động Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân”tích: “Nước Mỹ giàu, quân Mỹ mạnh, trang bị hiện đại nhưng họ vào miền Nam trong hoàn cảnh quân đội Sài Gòn đã thua trận, chính quyền tay sai rệu rã, Chiến tranh đặc biệt đã thất bại, chúng để mất thế chủ động trên chiến trường; trong khi đó, lực lượng cách mạng đang nắm quyền chủ động, xây dựng chiến tranh nhân dân vững chắc” [10, tr. Tháng 7 - 1965, Nghị quyết của Bộ Chính trị được đưa ra“chuyển hướng về kinh tế và quốc phòng, phù hợp với”yêu cầu hoàn cảnh mới.
Ngày 20 - 7 - 1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi, Người khẳng định: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm, hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá. Song nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập tự do” [9, tr.
Lúc này, toàn bộ hoạt động và chỉ đạo của Đảng đã chuyển hướng với yêu cầu của thời chiến. Trên miền Bắc - hậu phương“xã hội chủ nghĩa, hàng triệu thanh niên tình nguyện”lên đường chiến đấu, nhiều người trong số đó đi thanh niên xung phong, hàng triệu cựu binh tái ngũ. Từ các công trường, nông trường, nhà máy, xí nghiệp“không ngừng nâng cao năng suất lao động”vì miền Nam ruột thịt. Ở miền Nam, phát huy tinh thần: “Thành đồng Tổ quốc”, “thà chết chứ không chịu làm nô lệ, sẽ chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc và giành độc lập hoàn toàn… chúng ta kiên quyết đánh bại chúng, đánh cho đến khi không còn một tên xâm lược nào trên dải đất thân yêu của chúng ta”.
9 c Nam Bắc chung một ý chí: quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Chỉ đạo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và thắng lợi đạt được Đứng trước cuộc xâm lăng quy mô lớn, với vũ khí vượt trội và ưu thế về hỏa lực thuộc về phía đối phương, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đặt câu hỏi: “Làm sao để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”. Không như cuộc chiến tranh Việt - Pháp, sự mâu thuẫn chỉ thể hiện giữa mục tiêu quá lớn và phương tiện hạn chế mà bây giờ là mâu thuẫn với mục tiêu hạn chế [12, tr. Võ Nguyên Giáp nghiêng về chiến đấu trực tiếp, theo ông tinh thần chiến đấu dựa vào quyết tâm tự nhiên, hành động chiến đấu do tinh thần con người quyết định nhưng cũng phải dựa trên cải tiến về kỹ thuật.
Trả lời phỏng vấn nhà báo Pháp năm 1964, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói: “Sức mạnh của quân đội chúng tôi nằm ở tinh thần, nhuệ khí và sự ủng hộ vô hạn của Nhân dân, ngoài ra còn có các yếu tố kỹ thuật nữa”. Đối với Tướng Giáp, hướng tiến công, điểm chạm đích và khả năng tăng cường lực lượng rất quan trọng. Ông chú“trọng đến việc hiện đại hóa quân đội, từng bước xây dựng quân đội nhân dân Việt Nam chính quy và tinh nhuệ,”đủ khả năng đánh thắng kẻ thù xâm lược. Lãnh thổ không rộng, các nguồn lực hạn chế, những yếu tố đó đã quyết định đến đường lối chỉ đạo quân sự của Võ Nguyên Giáp đòi hỏi phát huy khả năng của toàn dân trong mọi lĩnh vực, trên mọi miền đất và phương diện“chính trị, kinh tế, ngoại giao và quân sự”[12, tr.
Võ“Nguyên Giáp đã vận dụng khéo léo Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh Nhân dân, một cuộc chiến tranh toàn dân toàn diện, kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy,”tiến tới phát động tổng khởi nghĩa khi có điều kiện. Với tư cách“Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng và là Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam,”Võ Nguyên Giáp cũng rất chú 10 c trọng đến công tác hậu cần. Theo ông, hậu phương phải trở thành một mặt trận và được ưu tiên số một. Ông chỉ đạo xây dựng hậu phương ở ba mức: Một là, hậu phương miền núi ở miền Nam (ở Tây Ninh, Chiến khu D, Chiến khu Dương Minh Châu, Tây Nguyên, Đặc khu Quảng Đà).
Hai là, hậu phương Xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc (đây là hậu phương quan trọng nhất). Ba là, hậu phương từ các nước trong“phe Xã hội chủ nghĩa (chủ yếu là từ Liên Xô và Trung Quốc).” Thông qua hậu phương, nhân tố kỹ thuật được đưa vào và “Tướng Giáp không quên:“Giành thắng lợi trong một thời gian tương đối ngắn bằng cách”tận dụng những điều kiện thuận lợi [12, tr. Đại“tướng Võ Nguyên Giáp rất chú trọng đến yếu tố con người, ông đòi hỏi phải xây dựng được quân đội hùng mạnh, chính quy, từng bước hiện đại.”Ông nhấn mạnh: “nếu con người quyết định thắng lợi thì vũ khí và trang bị là cơ sở vật chất, là sức mạnh chiến đấu của Quân đội và là nhân tố cơ bản của họ” [12, tr. Võ Nguyên Giáp và các cộng sự của ông tiếp tục sử dụng một phương châm tác chiến truyền thống “lấy ít địch nhiều”, đồng thời phát triển lên tầm cao mới.
Võ“Nguyên Giáp quan niệm chiến tranh nhân dân là một cuộc chiến”tranh lâu dài, khi tiến hành tuyệt đối không được nóng vội và cần có sự tham gia của mọi tầng lớp. Năm 1967, cùng với tập thể“Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng Bí thư thứ nhất Lê Duẩn chỉ đạo”Bộ Tổng tham mưu lên phương án, xây dựng phương án tác chiến cho năm 1968: “đánh thẳng vào sào huyệt địch ở các đô thị, thành phố, thị xã nhằm đánh bại hoàn toàn ý chí xâm lược của quân đội Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước”. 11 c Dưới“sự chỉ đạo của Bộ Chính trị - Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, sự chỉ đạo, chỉ huy về mặt quân sự của Quân ủy Trung ương do Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Bí thư Quân ủy, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta, ở cả hai miền Nam - Bắc đã dành được những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa vẻ vang trong cuộc chiến đấu chống chiến lược Chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ, xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa trong điều kiện chiến tranh phá hoại, làm nghĩa vụ hậu phương và chi viện cho tiền tuyến miền Nam.” Thắng lợi thứ nhất:“Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc trong điều kiện chiến tranh.” Trên mặt trận sản xuất nông nghiệp, những yêu cầu đặt ra trước đây căn bản vẫn không thay đổi. Giờ đây, yêu cầu củng cố và phát triển nền nông nghiệp hợp tác hóa cần phải xúc tiến với tinh thần khẩn trương theo phương hướng tập trung đẩy mạnh hai ngành sản xuất chính đó là trồng trọt, chăn nuôi, đặc biệt là ở vùng trung du và miền núi, nhằm giải quyết vấn đề“lương thực và thực phẩm để ổn định đời sống Nhân dân, góp phần giải quyết vấn đề hậu cần tại chỗ cho cuộc chiến đấu chống lại hải quân và không quân của Mỹ.
Bên cạnh đó, việc áp dụng các biện pháp khoa học và kỹ thuật mới nhằm”nâng cao năng suất trên toàn bộ diện tích gieo trồng, việc phát động mạnh mẽ phong trào làm thủy lợi, phong trào làm phân xanh, phong trào cải tiến nông cụ, công cụ vận chuyển,… Cũng như việc phát động các hình thức chăn nuôi tập thể quy mô“phù hợp với điều kiện, khả năng”của từng hợp tác xã đã trở nên phổ biến ở nhiều vùng nông thôn miền Bắc. Bên cạnh sản xuất nông nghiệp, sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp cũng được chuyển hướng“cho phù hợp với điều kiện thời chiến:”chuyển hướng về chủ trương, quy mô, hướng xây dựng và biện pháp tổ chức sản xuất cụ thể. Các“cơ sở sản xuất công nghiệp, nhất”là những ngành 12 c then chốt, được khẩn trương sơ tán, phân tán, che chắn hoặc tăng cường lực lượng phòng không bảo vệ.“Đây là một công việc cực kỳ khó khăn, phức tạp”và gian khổ, đòi hỏi ở giai cấp công nhân trí thông minh, sáng tạo, tài tổ chức thực hiện và sự bền bỉ, kiên cường,… Từ những ngày đầu chiến tranh phá hoại, miền Bắc đã có kế hoạch cụ thể về các hoạt động của các cơ sở sản xuất công nghiệp, xác định rõ những cơ sở nào phải phân tán, sơ tán, hoặc trụ lại tiếp tục sản xuất. Bởi thế, khi chiến tranh phá hoại lan ra cả nước, chỉ trong một thời gian ngắn, hàng trăng xí nghiệp, kho tàng của trung ương và địa phương với hàng trục vạn tấn máy móc, thiết bị, hàng triệu tấn hàng hóa, nguyên liệu được di chuyển đến những địa điểm mới, đảm bảo an toàn.
Hàng chục vạn cán bộ công nhân được sơ tán.