Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp đại học "Vai trò của Đại tướng Võ Nguyên Giáp với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giai đoạn 1965 - 1975" do sinh viên Nguyễn Tùng Nam thực hiện tại Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 (năm 2019), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Văn Dũng. Công trình thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, tập trung làm rõ những đóng góp của Đại tướng - Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp trong giai đoạn khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ.

  • Lý do chọn đề tài: Tác giả chỉ ra rằng cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là trang sử hào hùng của dân tộc gắn liền với sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam và Quân đội nhân dân Việt Nam. Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về Đại tướng Võ Nguyên Giáp với quy mô đồ sộ, song phần lớn các công trình mới dừng lại ở việc khái quát cuộc đời, sự nghiệp hoặc phân tích những đóng góp chung đối với cách mạng Việt Nam. Đồng thời, các công trình viết về sự chỉ đạo của "Bộ thống soái tối cao" thường phản ánh sự lãnh đạo tập thể của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam mà chưa đi sâu làm nổi bật vai trò chỉ đạo chiến lược của từng cá nhân. Do đó, việc nghiên cứu vai trò chỉ đạo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp giai đoạn 1965 - 1975 mang tính mới mẻ và có ý nghĩa lịch sử sâu sắc.
  • Mục tiêu nghiên cứu: Phác họa hình ảnh, vai trò và đóng góp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong cuộc kháng chiến chống Mỹ giai đoạn 1965 - 1975 dưới góc độ tiếp cận tổng quan trên cơ sở đối sánh tư liệu, qua đó làm sáng tỏ những đóng góp của ông đối với lịch sử dân tộc.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Phân tích vai trò, đóng góp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong công tác chỉ đạo, chỉ huy các chiến dịch quân sự trên hầu hết các chiến trường trọng điểm.
    2. Phân tích sự đóng góp của Đại tướng trong việc kế thừa và phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam - nền nghệ thuật chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện.
  • Đối tượng nghiên cứu: Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong thời kỳ 1965 - 1975 và sự chỉ huy của ông đối với Quân đội nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến đấu chống lại các chiến lược chiến tranh của Mỹ ("Chiến tranh cục bộ" 1965 - 1968, "Việt Nam hóa chiến tranh" 1969 - 1973) và trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam.
  • Phạm vi nghiên cứu: Toàn bộ vai trò, cống hiến của Đại tướng - Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc trong khung thời gian lịch sử từ năm 1965 đến năm 1975.

Cơ sở lý thuyết, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

  • Cơ sở lý luận và khung khái niệm: Khóa luận vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân và quốc phòng toàn dân. Tác giả tiếp cận đối tượng nghiên cứu thông qua nguyên lý kết hợp giữa sức mạnh tinh thần và cải tiến kỹ thuật quân sự, vận dụng phương châm tác chiến truyền thống "lấy ít địch nhiều", kết hợp chặt chẽ giữa chiến tranh chính quy và chiến tranh du kích, giữa đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao.
  • Phương pháp nghiên cứu: Tác giả sử dụng hai phương pháp cơ bản của khoa học lịch sử là phương pháp lịch sử (tái hiện tiến trình các sự kiện, chỉ đạo quân sự theo trình tự thời gian) và phương pháp lôgic (phân tích bản chất, quy luật và đặc điểm chỉ huy quân sự của Đại tướng). Bên cạnh đó, tác giả kết hợp các thao tác bổ trợ như phân tích, tổng hợp, đối sánh và xử lý tư liệu lịch sử.
  • Nguồn dữ liệu và tư liệu:
    • Tư liệu gốc: Tác phẩm Tổng tập hồi kí của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, 2014), trọng tâm là hồi ký Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng; các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Đảng trong giai đoạn 1965 - 1975 thuộc bộ Văn kiện Đảng toàn tập; các bài nói, bài viết và lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Hồ Chí Minh toàn tập.
    • Tư liệu tham khảo: Các công trình nghiên cứu, chuyên khảo của các học giả, tướng lĩnh và nhà nghiên cứu trong nước cũng như quốc tế viết về Đại tướng Võ Nguyên Giáp và cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ đạo chống Mỹ giai đoạn 1965 - 1973

Chương 1 khái quát tiểu sử của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (sinh ngày 25/8/1911 tại làng An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình; tham gia cách mạng từ năm 1925; thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân tháng 12/1944; được phong quân hàm Đại tướng năm 1948; Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam từ năm 1946 đến năm 1977; từ trần ngày 04/10/2013). Nội dung trọng tâm đi sâu vào hai giai đoạn chỉ đạo chiến lược của Đại tướng:

1. Chỉ đạo chống chiến lược "Chiến tranh cục bộ" (1965 - 1968)

  • Bối cảnh và chủ trương: Sau khi "Chiến tranh đặc biệt" phá sản, Mỹ đưa 180.000 quân viễn chinh và 20.000 quân đồng minh vào miền Nam (năm 1965), cùng 70.000 lính hải quân, không quân tại căn cứ Thái Lan, Philippines và Hạm đội 7; áp dụng chiến lược "tìm diệt" của William Westmoreland và leo thang đánh phá miền Bắc. Đảng Lao động Việt Nam ban hành Nghị quyết Trung ương 11 xác định phương hướng chiến lược, chuyển hướng kinh tế và quốc phòng.
  • Tư duy chỉ đạo của Đại tướng: Vận dụng chiến tranh nhân dân, kết hợp nhân tố con người và kỹ thuật hiện đại. Đại tướng đề ra phương án tổ chức hậu phương theo 3 cấp: hậu phương miền núi tại miền Nam, hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa (then chốt nhất) và hậu phương quốc tế từ phe xã hội chủ nghĩa (chủ yếu là Liên Xô và Trung Quốc). Đồng thời, ông đề xuất mở tuyến vận tải chiến lược Đường mòn Hồ Chí Minh (Đoàn 559).
  • Kết quả và số liệu tiêu biểu:
    • Xây dựng và bảo vệ miền Bắc: Đến năm 1967, toàn miền Bắc tăng thêm 2.628 hợp tác xã nông nghiệp; Thái Bình, Đan Phượng, Thanh Trì đạt năng suất 5 tấn thóc/ha; xí nghiệp công nghiệp đạt con số 1.000 vào năm 1968. Giáo dục phổ thông năm học 1967 - 1968 đạt 4,7 triệu học sinh, bậc đại học có 58.000 sinh viên (năm 1968). Y tế đạt 6.043 trạm xá, 981 bệnh viện (năm 1968) với trên 60.000 y bác sĩ. Lực lượng phòng không bắn rơi 834 máy bay Mỹ trong năm 1965 và 773 chiếc trong năm 1966; đánh bại cuộc tập kích ném 1.000.000 tấn bom của Mỹ tính đến cuối năm 1967.
    • Chi viện và tiến công miền Nam: Tuyến Đường mòn Hồ Chí Minh giai đoạn 1965 - 1968 đã vận chuyển hơn 30 vạn cán bộ, chiến sĩ và hàng chục vạn tấn vật chất, vũ khí (tăng gấp 10 lần giai đoạn trước). Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 đã loại khỏi vòng chiến đấu 630.000 quân địch (trong đó đầu năm 1968 có 50.387 lính Mỹ bị thương/mất tích, 9.301 lính Mỹ tử trận), phá hủy 13.000 xe quân sự, làm phá sản chiến lược "Chiến tranh cục bộ".

2. Chỉ đạo chống chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" (1969 - 1973)

  • Chỉ đạo tác chiến liên minh ba nước Đông Dương: Đại tướng trực tiếp chỉ đạo Bộ chỉ huy chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (1971), đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719 của 4 vạn quân Mỹ - Việt Nam Cộng hòa sau 43 ngày đêm, loại khỏi vòng chiến đấu 23.000 tên địch, bắn rơi và phá hủy hơn 500 máy bay, bảo vệ hành lang chiến lược Trường Sơn.
  • Cuộc tiến công chiến lược Xuân - Hè 1972: Đại tướng trực tiếp thị sát, chỉ đạo tại mặt trận Quảng Trị; chỉ đạo chọc thủng 3 phòng tuyến mạnh nhất của đối phương (Quảng Trị, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ), loại khỏi vòng chiến đấu 25 vạn quân địch, phá hủy và thu hồi 636 xe tăng, xe bọc thép, 419 khẩu pháo và 340 máy bay.
  • Chiến thắng "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không" (12/1972): Phê duyệt phương án đánh máy bay chiến lược B-52, chỉ thị Quân chủng Phòng không - Không quân "tập trung mọi khả năng nhằm đúng đối tượng B-52 mà tiêu diệt". Trong 12 ngày đêm đánh bại chiến dịch Linebacker II của Mỹ, quân dân ta đã bắn rơi 81 máy bay (gồm 32 chiếc B-52, 5 chiếc F-111), bắt sống 44 phi công Mỹ, buộc Mỹ ký Hiệp định Paris ngày 27/01/1973, hoàn thành mục tiêu "đánh cho Mỹ cút".
Giai đoạn / Chiến dịch Chỉ đạo trọng tâm của Đại tướng Võ Nguyên Giáp Kết quả quân sự nổi bật ghi nhận trong văn bản
Chống "Chiến tranh cục bộ" (1965 - 1968) Tổ chức hậu phương 3 cấp; xây dựng Quân đội chính quy; đề xuất mở rộng tuyến chi viện 559; chuẩn bị kế hoạch đánh vào đô thị năm 1968. Bắn rơi 834 máy bay (1965), 773 máy bay (1966); chi viện 30 vạn quân; Mậu Thân 1968 loại khỏi vòng chiến đấu 630.000 tên địch.
Đường 9 - Nam Lào (1971) Tập trung lực lượng tiêu diệt sinh lực và phương tiện chiến tranh; bảo vệ tuyến hành lang chi viện Trường Sơn. Đánh bại hành quân Lam Sơn 719 sau 43 ngày đêm; loại 23.000 địch, bắn rơi/phá hủy hơn 500 máy bay, gần 600 xe quân sự.
Tiến công Xuân - Hè 1972 Trực tiếp thị sát mặt trận Quảng Trị (Cửa Việt, Đông Hà, Gio Linh); phát động tiến công hiệp đồng trên quy mô lớn. Chọc thủng 3 phòng tuyến; loại khỏi vòng chiến đấu 25 vạn quân địch; phá hủy/thu hồi 636 xe tăng, xe thiết giáp, 419 pháo.
Điện Biên Phủ trên không (12/1972) Phê duyệt phương án tác chiến phòng không; ra lệnh tập trung hỏa lực tiêu diệt mục tiêu B-52. Bắn rơi 81 máy bay (32 chiếc B-52, 5 chiếc F-111), bắt 44 giặc lái; buộc Mỹ ký kết Hiệp định Paris và rút quân về nước.

Chương 2: Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ đạo Tổng tấn công và nổi dậy Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước

Chương 2 trình bày sự đóng góp mang tính quyết định của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong việc hoàn thiện kế hoạch chiến lược và điều hành tác chiến chiến dịch giải phóng miền Nam:

1. Quá trình xây dựng và hoàn thiện Kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam (1975 - 1976)

  • Sau khi Mỹ rút quân (ngày 29/3/1973) và Hội nghị Trung ương 21 (tháng 7/1973) xác định con đường bạo lực cách mạng, Bộ Chính trị họp tại Nhà Con Rồng (tháng 9/1974 và từ 18/12/1974 đến 08/01/1975) thông qua kế hoạch giải phóng miền Nam hai năm 1975 - 1976. Kế hoạch xác định năm 1975 là năm bản lề tạo thời cơ để năm 1976 tiến hành tổng công kích; đồng thời dự kiến phương án nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975.
  • 7 ý kiến chỉ đạo mang tính quyết định của Đại tướng đối với dự thảo 133/TG1 (ngày 16/5/1974):
    1. Đánh giá toàn diện thế và lực mới của chiến trường từ cuối năm 1973 để làm cơ sở cho quyết tâm chiến lược.
    2. Xây dựng kế hoạch tác chiến thành 2 bước (Bước 1: giành thắng lợi có ý nghĩa quyết định; Bước 2: phát triển đánh lớn để toàn thắng).
    3. Xác định chọn Nam Tây Nguyên làm hướng tiến công chiến lược mở đầu vì đây là nơi địch sơ hở, có điều kiện tập trung lực lượng lớn, tạo bước ngoặt chiến lược bất ngờ; thực hiện nghi binh và giữ bí mật tuyệt đối.
    4. Lập kế hoạch riêng bảo vệ và động viên sức người, sức của từ hậu phương miền Bắc; đề phòng địch đánh phá trở lại vùng biển Khu 4.
    5. Xây dựng lực lượng quân chủng, binh chủng cân đối; nâng cao chất lượng biên chế và bồi dưỡng cán bộ chiến lược.
    6. Nâng cao năng lực tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn đánh tiêu diệt chi khu, thị xã, thành phố và tiêu diệt các sư đoàn chủ lực của địch.
    7. Kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ quốc phòng với xây dựng kinh tế (nhiệm vụ phục hồi đường sắt nam Khu 4).

2. Chỉ đạo trực tiếp trong các chiến dịch lớn mùa Xuân 1975

  • Chiến dịch Tây Nguyên (Chiến dịch 275): Đại tướng chủ trì phiên họp Thường trực Quân ủy Trung ương ngày 09/01/1975 khẳng định đánh Buôn Ma Thuột là đòn hiểm đánh trúng "điểm huyệt", làm rung chuyển toàn bộ tuyến phòng thủ Vùng 2 chiến thuật của địch. Khi chiến dịch nổ ra (ngày 04/3/1975), ta nghi binh ở Bắc Tây Nguyên (Pleiku, Kon Tum), ngày 10 - 11/3 bất ngờ tiến công giải phóng hoàn toàn thị xã Buôn Ma Thuột. Quân đội ta đánh tan phản kích của Sư đoàn 23 địch, truy kích quân địch rút chạy trên đường số 7 tại Phú Bổn. Kết thúc chiến dịch vào hạ tuần tháng 3/1975, ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 10 vạn quân địch, giải phóng hơn 60 vạn dân Tây Nguyên, xóa sổ Quân đoàn 2 - Quân khu 2 Sài Gòn.
  • Chiến dịch Huế - Đà Nẵng:
    • Tại cuộc họp ngày 18/3/1975, Đại tướng nhận định quân địch suy yếu nhanh, Mỹ khó có khả năng can thiệp trở lại và đề nghị Bộ Chính trị hạ quyết tâm giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975.
    • Ngày 19/3 giải phóng Quảng Trị. Đại tướng chỉ thị cho Quân đoàn 2 cắt đứt Quốc lộ 1, ngăn chặn đường co cụm về Đà Nẵng, hình thành thế bao vây Thừa Thiên - Huế. Ngày 26/3/1975 giải phóng cố đô Huế, tiêu diệt toàn bộ lực lượng địch gồm Sư đoàn 1, Lữ đoàn 147 Thủy quân lục chiến, 2 liên đoàn biệt động quân và các đơn vị thiết giáp.
    • Ngày 24/3/1975, Đại tướng chỉ đạo giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa. Đối với căn cứ liên hiệp quân sự Đà Nẵng (nơi có 10 vạn quân địch do Chuẩn tướng Ngô Quang Trưởng chỉ huy), Đại tướng ra mệnh lệnh nắm vững phương châm "táo bạo, bất ngờ, kịp thời, chắc thắng", chỉ đạo Quân đoàn 2 tiến công chọc sâu, khống chế sân bay, bến cảng, làm chủ hoàn toàn thành phố Đà Nẵng vào ngày 29/3/1975.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả nghiên cứu chính: Khóa luận hệ thống hóa một cách khách quan, toàn diện tiến trình chỉ đạo quân sự của Đại tướng Võ Nguyên Giáp qua các giai đoạn then chốt từ 1965 đến 1975. Tác giả làm rõ vai trò của Đại tướng trong việc tham mưu cho Bộ Chính trị, lãnh đạo Quân ủy Trung ương điều hành các chiến trường, hoàn thiện nghệ thuật tác chiến hiệp đồng quân binh chủng quy mô lớn, chỉ đạo xây dựng tuyến chi viện Trường Sơn và xây dựng thế trận phòng không nhân dân đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ.
  • Đóng góp so với các công trình trước: Khóa luận khắc phục tính khái quát, dàn trải của các công trình viết về tiểu sử chung, chuyển trọng tâm vào việc phân tích vai trò ra quyết định và bản lĩnh chỉ đạo cá nhân của Đại tướng trong mối quan hệ gắn bó với tập thể Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương; đồng thời đối sánh tư liệu hồi ký cá nhân với hệ thống văn kiện chỉ đạo chiến lược của Đảng.
  • Ý nghĩa thực tiễn và giáo dục: Công trình góp phần phục vụ công tác giáo dục truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc và lòng biết ơn đối với các thế hệ đi trước cho thế hệ trẻ, đặc biệt là đối tượng học sinh, sinh viên ngành Sư phạm và Khoa học Xã hội.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn về nguồn tư liệu tiếp cận (chủ yếu dựa trên bộ Tổng tập hồi kí của Đại tướng và Văn kiện Đảng toàn tập), khóa luận tập trung nghiên cứu vai trò chỉ đạo ở cấp chiến lược và chiến dịch lớn, chưa đi sâu khảo sát chi tiết các hoạt động điều hành tác chiến tại các mặt trận cục bộ hoặc phân tích sâu các nguồn tư liệu quân sự từ phía đối phương (Mỹ và chính quyền Sài Gòn).
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Khai thác, đối chiếu thêm các tài liệu lưu trữ quân sự giải mật của nước ngoài, kết hợp nguồn tư liệu lịch sử Đảng bộ và lịch sử quân sự các địa phương để làm sâu sắc hơn nghệ thuật chỉ huy quân sự và tài thao lược của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu học thuật hữu ích cho:

  • Giảng viên, sinh viên theo học các chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Sư phạm Lịch sử, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam và Lịch sử Quân sự.
  • Các nhà nghiên cứu và người học thực hiện đề tài liên quan đến nghệ thuật quân sự Việt Nam thời kỳ chống Mỹ cứu nước, tổ chức hậu phương chiến tranh và vai trò của các tướng lĩnh lãnh đạo quân đội.
  • Các phần có giá trị tham khảo cao: Bảng phân tích 7 chỉ đạo của Đại tướng đối với Kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam năm 1974; hệ thống cứ liệu về công tác xây dựng hậu phương miền Bắc và các mốc chỉ đạo chiến dịch trong cuộc Tổng tiến công mùa Xuân 1975.

Câu hỏi thường gặp

  1. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đưa ra những ý kiến chỉ đạo then chốt nào khi hoàn thiện Kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam năm 1974?
    Trả lời: Ngày 16/5/1974, Đại tướng đã đóng góp 7 nội dung cơ bản cho dự thảo 133/TG1: đánh giá tình hình chiến trường từ cuối năm 1973; chia kế hoạch làm 2 bước; chọn Nam Tây Nguyên làm hướng đột phá chiến lược mở đầu; lập kế hoạch riêng bảo vệ và động viên sức người sức của từ miền Bắc; cân đối cơ cấu lực lượng và bồi dưỡng cán bộ; nâng cao trình độ hiệp đồng binh chủng đánh thị xã và sư đoàn địch; kết hợp quốc phòng với phát triển kinh tế (phục hồi đường sắt nam Khu 4).

  2. Vì sao Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Quân ủy Trung ương chọn Buôn Ma Thuột làm điểm mở màn Chiến dịch Tây Nguyên 1975?
    Trả lời: Theo Đại tướng, Buôn Ma Thuột là nơi bố phòng hiểm trở nhưng địch đánh giá sai ý đồ của ta, cho rằng ta chưa đủ sức đánh thị xã lớn hoặc chỉ đánh ở Bắc Tây Nguyên nên bố phòng sơ hở. Đánh Buôn Ma Thuột là đòn bất ngờ, đánh trúng "điểm huyệt", tạo khả năng làm sụp đổ hệ thống phòng ngự Vùng 2 chiến thuật của địch và thuận lợi cho ta tác chiến hiệp đồng binh chủng lớn.

  3. Mô hình tổ chức hậu phương kháng chiến 3 cấp do Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ đạo trong giai đoạn chống "Chiến tranh cục bộ" gồm những cấp nào?
    Trả lời: Đại tướng chỉ đạo xây dựng hậu phương gồm 3 mức: (1) Hậu phương miền núi tại chỗ ở miền Nam (Tây Ninh, Chiến khu D, Dương Minh Châu, Tây Nguyên, Quảng Đà); (2) Hậu phương xã hội chủ nghĩa miền Bắc (hậu phương giữ vai trò quan trọng nhất); (3) Hậu phương quốc tế từ các nước trong phe xã hội chủ nghĩa (chủ yếu là Liên Xô và Trung Quốc).

  4. Mệnh lệnh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đối với lực lượng phòng không trong 12 ngày đêm cuối năm 1972 là gì và kết quả đạt được ra sao?
    Trả lời: Đại tướng chỉ thị cho Quân chủng Phòng không - Không quân: "tập trung mọi khả năng nhằm đúng đối tượng B-52 mà tiêu diệt". Kết quả trong 12 ngày đêm (18 - 29/12/1972), quân dân miền Bắc đã bắn rơi 81 máy bay Mỹ, trong đó có 32 máy bay B-52, 5 máy bay F-111 và bắt sống 44 phi công.

  5. Phương châm tác chiến nào được Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ thị cho chiến dịch tiến công giải phóng Đà Nẵng tháng 3/1975?
    Trả lời: Trong chỉ đạo gửi Quân đoàn 2 và các lực lượng mặt trận Đà Nẵng, Đại tướng chỉ thị phải nắm vững phương châm "táo bạo, bất ngờ, kịp thời, chắc thắng", khẩn trương tiến công, bao vây không cho địch rút chạy ra biển, khống chế sân bay, bến cảng và nhanh chóng giải phóng toàn bộ thành phố.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Tùng Nam đã phục dựng toàn diện và chân thực vai trò chỉ đạo chiến lược của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong cuộc kháng chiến chống Mỹ giai đoạn 1965 - 1975. Thông qua phương pháp nghiên cứu lịch sử và đối sánh nguồn tư liệu xác thực, công trình đã làm sáng tỏ những quyết sách quân sự nhạy bén, nghệ thuật chớp thời cơ và tư duy tổ chức chiến tranh nhân dân xuất sắc của vị Tổng Tư lệnh. Đây là tài liệu học thuật có giá trị tham khảo tốt cho việc học tập, nghiên cứu lịch sử quân sự Việt Nam hiện đại và bồi dưỡng truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ.