phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 8 tiết. 10 z NỘI DUNG Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CỘI NGUỒN TƢ TƢỞNG CỦA NGUYỄN TRÃI VỀ CÁI CAO CẢ 1.1 Lý luận chung về cái cao cả Cái cao cả là một bộ phận hợp thành hệ thống khách thể thẩm mỹ trong đời sống của con người. Cái cao cả, cái tuyệt vời, cái trác tuyệt, cái hùng vĩ, cái cao thượng, đều là những khái niệm dịch từ thuật ngữ sublime. Phạm trù cái cao cả xuất hiện trong khoa học muộn hơn phạm trù cái đẹp.
Sở dĩ lý luận về cái cao cả được nghiên cứu muộn hơn cái đẹp bởi vì trong thời kỳ cổ đại, với tư duy vũ trụ luận, con người còn hòa nhập một cách chỉnh thể đối với tự nhiên. Vũ trụ là một cơ thể tuyệt đối và con người hòa nhập vào đó. Trong khái niệm cái đẹp (kallos) của người Hy Lạp thì ý nghĩa hòa hợp của con người với tự nhiên được biểu hiện là ý nghĩa chính. Trải qua vài thế kỷ, con người đã vươn lên tách mình ra khỏi tự nhiên, và khẳng định sức mạnh của mình, con người đã đặt tự nhiên to lớn trong quan hệ với năng lực cải tạo của mình.
Lý thuyết về cái cao cả lúc đầu là khái quát cách sống của con người gắn với việc làm chủ các giá trị tinh thần của con người. Phong cách sống cao thượng; phong cách nói hùng biện; phong cách viết hùng tráng, mạnh mẽ gắn với niềm tự hào sâu sắc của bản thân con người là đối tượng quan trọng xác lập các lý thuyết về cái cao cả đầu tiên trong lịch sử mỹ học. Thoạt đầu, lý thuyết về cái cao cả được nghiên cứu theo ý nghĩa tu từ học chứ không phải là mỹ học. Vào thế kỷ thứ I đầu công nguyên, một người học trò của Apôllôdore là Tsetsili, một nhà tu từ học nổi tiếng của Hy Lạp sinh tại thành phố Kalắcty thuộc Sisin đã viết tác phẩm bàn về cái cao cả.
Trong bài này ông trình bày các quy tắc riêng của phong cách cao cả, các vấn đề kỹ thuật của ngôn từ hùng biện, phân loại các tu từ và cách chuyển nghĩa, các phong cách của nghệ thuật diễn thuyết. Khi đó, cơ sở xuất hiện lý luận về cái cao cả 11 z ngoài nguyên tắc hùng biện phát triển, còn do nghệ thuật Hy Lạp cổ đại đã sản sinh ra những hình tượng vĩ đại Héc-quyn, A-sin, Prô-mê-tê, sự hiện diện của các Kim tự tháp và phong cách sống cao cả cho phép sự xuất hiện phổ biến hơn lý luận về cái cao cả. Người đầu tiên phát hiện ra phạm trù cái cao cả là Pxêpđôlongin. Trong luận văn Bàn về cái cao cả, ông đã kể ra một loạt nguồn gốc của cái cao cả.
Theo Pxêpđôlongin thì cái cao cả gắn với ba lĩnh vực chính: lĩnh vực tự nhiên, lĩnh vực tinh thần và lĩnh vực thần thánh. Trong lĩnh vực tự nhiên, ông cho rằng, con người không bao giờ trải qua cảm xúc cao cả trong dạng của những con suối nhỏ cho dù chúng trong trẻo, thuần khiết và có ích. Nhưng con người ta phải kinh dị khi nhìn thấy sự kỳ vĩ của sông Nin, sông Đanuyp, sông Ranh, nhất là khi nhìn thấy đại dương, núi lửa phun trào những dòng diêm sinh nóng bỏng. Không phải lửa do chính con người phát hiện ra mà lửa thần gợi nên ở con người cảm xúc về cái cao cả.
Trong lĩnh vực tinh thần, cái cao cả thể hiện ở tư tưởng và niềm say mê phi thường vẻ đẹp của ngôn từ kết hợp với các tư tưởng vĩ đại. Cái cao cả là cái giá trị bên trong, đối lập với cái khuếch trương bên ngoài. Cái cao cả là lòng kiêu hãnh cự tuyệt hạnh phúc mà mình được hưởng. Nó đối lập với tính hiếu danh nhỏ nhen, với lòng khao khát thống trị người khác.
Nói cách khác cao cả là một phong cách nghiêng về các giá trị tinh thần, ít bon chen về vật chất. Trong lĩnh vực thần thánh, theo Pxêpđôlongin thì cái cao cả bao gồm cả lực lượng siêu nhiên hùng mạnh biểu thị sự vĩ đại của Chúa. Cảm xúc về cái cao cả nâng con người lên tới mức vĩ đại của thần linh. Cái cao cả làm cho con người gần gũi với thần linh.
Những nhận xét cho rằng chính những hiện tượng mà con người chưa lĩnh hội được và đối lập với con người đều hiện ra là những hiện tượng thực sự cao đẹp. Và chính qua đó, có một hạt nhân hợp lý bao hàm trong những nhận xét của Pxêpđôlongin. 12 z Theo Pxêpđôlongin quy mô lớn của hiện tượng, sức mạnh phi thường đặt trước con người và các thước đo thông thường không thể đo được sự vật - đó là bản chất của cái cao cả. Trong thế kỷ XVIII ở châu Âu có một nhà mỹ học lớn đã bàn sâu sắc và có hệ thống hơn về phạm trù cái cao cả.
Đó là Etmun Buker (1729-1797), nhà mỹ học Anh với tác phẩm Nghiên cứu triết học về nguồn gốc nhận thức của chúng ta về cái đẹp và cái cao cả (xuất bản năm 1756). Tác phẩm đã phân tích mối quan hệ giữa cái đẹp và cái cao cả. Theo Buker, cái cao cả là những dạng biểu hiện to lớn của tự nhiên như bão tố, sấm chớp và các hiện tượng to lớn khác của xã hội thường mang lại tình cảm tiêu cực cho con người. Tuy nhiên, con người cần phải tồn tại, phải bảo tồn và sinh tồn.
Cái cao cả đã làm cho con người duy trì được cuộc sống của mình. Nếu không có những hiện tượng cao cả thì con người không vươn tới các hành động cao cả. Khác với khái niệm cao cả do Pxêpđôlongin và Buker đã nêu lên, nhà mỹ học lớn, sáng lập ra nền triết học cổ điển Đức I.Kant (1724-1804) đã phát triển những tư tưởng của mình về cái cao cả trong công trình Phê phán năng lực phán đoán. Ở quyển II Phân tích pháp về cái cao cả ông đã nghiên cứu biện chứng pháp của năng lực phán đoán thẩm mỹ từ quan năng về cái đẹp sang cái cao cả.
Ông đã nghiên cứu cái cao cả về mặt độ lớn: chất và lượng. Cái cao cả tạo nên sự kinh ngạc về lượng, về cái vô hạn và khác với giá trị về chất do cái đẹp tạo nên. Kant không quan tâm sâu sắc tới các hiện tượng cao cả nảy sinh trong đời sống, ông chỉ quan tâm tới các hiện tượng ấy liên quan gì đến xúc cảm thẩm mỹ mà thôi. Kant đã giải quyết cái cao cả trong mối quan hệ độc lập với cái đẹp.
Ông nói: những cây sến cao vút và bóng râm tĩnh mịch trong khu rừng cấm là cao cả. Những vườn đầy hoa nở, những lùm cây con con là đẹp. Đêm là cao cả, ngày là đẹp. Cái cao cả làm cảm động, cái đẹp làm say mê.
Cái cao cả và cái đẹp đều cho ta xúc cảm, nhưng trạng thái xúc 13 z cảm khác nhau. Tình cảm cao cả thỏa mãn xen lẫn dữ dội, khủng khiếp, tình cảm đẹp, khoái lạc, vui tươi. Nếu cái đẹp được đặc trưng ở chất thì cái cao cả được đặc trưng ở lượng.Kant chia thành ba loại tình cảm cao cả: tình cảm cao cả khủng khiếp; tình cảm cao cả thanh cao và tình cảm cao cả huy hoàng. Cao cả khủng khiếp là trình độ thấp nhất của cái không hoàn hảo, sự thoái hóa về đạo đức.
Theo Kant, danh từ cao cả chỉ những cái gì to lớn vượt ra ngoài mọi sự so sánh. Cái cao cả là cái gì mà đem so sánh với nó thì mọi cái khác đều nhỏ bé. Người ta dễ thấy rằng, trong thiên nhiên không có một cái gì dù chúng to lớn đến đâu đi chăng nữa cũng không thể vượt được tầm kiểm soát của năng lực phán đoán. Kant đi tìm cơ sở cho cái cao cả trong tâm hồn con người.
Theo Kant, cái cao cả là quan niệm của lý trí, quan niệm về sự vô hạn, không thể chứa trong một hình thức cảm tính nào. Cái ta gọi là cao cả là biểu tượng của ta do ta phán đoán mà suy xét, nó ứng vào khách thể chứ không phải bản thân khách thể. Cái cao cả là do trí tưởng tượng và sự thích thú của ta tạo ra chứ không phải đối tượng tạo ra. Cái cao cả là do ta quyết định chứ không phải bản thân đối tượng quyết định.
Nếu nhiều nhà mỹ học trước đây đã quan niệm cái cao cả như những quang cảnh đồ sộ uy hiếp con người: biển cả, thác lớn, bão táp, sấm, thú dữ, sóng thần, núi lửa… thì I. Kant cho rằng, niềm tự hào, sự ngạc nhiên của chủ thể về cái cao cả do chính bản thân chủ thể khắc phục sự sợ hãi mà có. Cảm quan cao cả về uy lực là sức mạnh tinh thần của con người để vượt mọi thử thách, bất chấp khó khăn, khinh thường mọi lực lượng, khắc phục mọi sợ hãi. Nhờ khắc phục sự sợ hãi mà tình cảm cao cả mới đạt đến được tự do.
Nói cách khác, những phân tích của Kant chỉ ra rằng, những hiện tượng ấy trở thành cái cao cả khi người thưởng thức nó được bảo vệ: “Trận cuồng phong như muốn quét sạch mặt đất, biển cả đang cuộn sóng, thác nước đổ ầm ào tạo 14 z ra cảnh tượng con người trở nên nhỏ bé trước chúng, nhưng nếu ta được bảo vệ, được an toàn thì cảnh tượng này đầy hấp dẫn và chúng ta được nhân sức mạnh tâm linh vượt ra ngoài những bé nhỏ đời thường, tạo cho ta dũng khí và sức mạnh so với sức mạnh siêu phàm của tự nhiên”. Cái cao cả là biểu hiện sức mạnh kỳ diệu của con người đứng trước tự nhiên, làm cho con người vượt mọi hiểm nguy, đứng cao hơn hiểm nguy. Quan niệm về cái cao cả của Kant là một quan niệm tình cảm. Ông không công nhận đối tượng cao cả có tính vật chất vì ngay từ đầu ông đã khẳng định tính cao cả không có trong tự nhiên.
Nếu nghệ thuật phản ánh những hiện tượng cao cả ấy, nếu các hiện tượng cao cả ấy xảy ra ở những người khác không mang lại cho ta nỗi lo sợ thì sự hồi hộp và tình cảm xúc động trong ta mang yếu tố khoái cảm trở thành thẩm mỹ. Kant cũng cho rằng, vì sự cao cả đích thực chỉ tâm hồn con người mới nắm bắt được, cho nên phải chuẩn bị tâm hồn về mặt này. Nói cách khác, muốn có tình cảm về cái cao cả phải có sự rèn luyện về đức hạnh. Muốn có một phán đoán cao cả nhất thiết phải được huấn luyện cả về năng lực nhận thức lẫn phán đoán thẩm mỹ.