CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE VĂN BIA HẬU PHẬT HUYỆN DAN PHUQNG Dé khảo sat đặc điểm văn bia Hậu Phật huyện Dan Phượng, phân tích công năng và giá trị của chúng trong nghiên cứu khoa học, trước hết cần khắc họa tổng quan về nhóm văn bia này. Vì vậy trong nội dung chương này, Luận văn làm rõ 03 phan: 7. Giới thuyết và phân loại văn bia huyện Đan Phượng, 1. Tình hình phân bố văn bia Hậu Phật huyện Dan Phượng, 1.
Đội ngũ tạo tác văn bia Hậu Phật huyện Đan Phượng. Giới thuyết và phân loại văn bia huyện Đan Phượng 1. Giới thuyết tong quan Văn bia Hậu Phật là những văn bản thường được khắc trên tải thé chất liệu đá, có nội dung đề cập đến việc bầu Hậu Phật, gửi giỗ tại chùa và các hoạt động thờ cúng đối tượng được bầu Hậu Phật và gửi giỗ. Thông thường văn bia Hậu Phật sẽ mang tên “Hậu Phật bi kí”, song một số văn bia không có tên này nhưng nội dung lại đề cập vấn đề bầu Hậu Phật và gửi giỗ tại chùa.
Vì vậy, thực trạng văn bia Hậu Phật có thé bao gồm 04 loại: văn bia Hậu Phật phé thông, văn bia Hậu Than Hậu Phật, văn bia Hậu Phật bài vi, văn bia Kí ki chùa. Trong đó: văn bia Hậu Phật phô thông là văn bia có nội dung phản ánh hoạt động cúng tế, thờ phụng người được bầu Hậu Phật tại chùa; văn bia Hậu Phật bài vi là văn bia có hình thức là bài vi, với nội dung ghi họ tên, chức tước người được bầu Hậu Phật tại chùa; văn bia Hậu Thần Hậu Phật là văn bia có nội dung phản ánh hoạt động cúng tế, thờ phụng người vừa được bầu Hậu Thần vừa được bầu Hậu Phật tại chùa, đền, xã, giáp; văn bia Kí ki chùa là văn bia có nội dung phản ánh hoạt động gửi giỗ sau khi mất tại chùa. Đan Phượng là tên một đơn vị hành chính cấp huyện, hiện nay trực thuộc thành phố Hà Nội, Việt Nam. Không có tài liệu đề cập thời điểm chính xác thành lập huyện Đan Phượng, song nếu căn cứ vào “Đại Nam nhất thống chí” có thê biết: “PERG: (.) ÉRPJMffiEL#: Huyện Dan Phượng: [.] Tên địa danh xuất hiện từ đời Trần về trước.
Dan Phượng đã trải qua thời kì phát triển lâu đài (qua các triều đại: Trần, Hồ, Hậu Lê sơ, Mạc, Lê Trung Hưng, Tây Sơn, 14 Nguyễn đến nay) vì vậy không tránh khỏi sự thay đôi về điên cách địa lý. Đề thuận tiện nghiên cứu văn bia Hậu Phật địa phương này, Luận văn khảo sát trên địa danh “Huyện Đan Phượng” được nhắc đến tại phần lạc khoản trong thác bản văn bia do E.O sưu tầm vào đầu thế ki XX và lưu trữ tại Viện nghiên cứu Hán Nôm. Tương ứng với giai đoạn dau thế ki XX, huyện Dan Phượng trực thuộc tinh Hà Đông. Căn cứ Phu lục 1.1: Thống kê danh sách tổng và xã thuộc huyện Đan Phượng có thê biết huyện Đan Phượng giai đoạn này gồm 7 tổng và 48 xã: Đắc Sở (5 xã), Dương Liễu (5 xã), Sơn Đồng (5 xã), Kim Thia (9 xã), La Thạch (8 xã), Dan Phượng Thượng (8 xã), Thọ Lão (8 xã).
Trong đó theo Phụ lục 1.2: Đối chiếu địa danh huyện Đan Phượng đâu thé ki XX và hiện nay, 7 tong: Dac Sở (5 xã), Dương Liễu (5 xã), Sơn Đồng (Š xã), Kim Thìa (8/9 xã) thuộc huyện Hoài Đức hiện nay; 3 tổng: Đan Phượng Thượng (8 xã), Thọ Lão (8 xã) thuộc huyện Đan Phượng hiện nay; riêng xã Tu Hoàng tông Kim Thia thuộc huyện Từ Liêm hiện nay. Phân loại văn bia huyện Đan Phượng Về cách thức phân loại văn bia Việt Nam, Hà Hoa Trân và Lưu Chính An chia thư tịch văn hiến thuộc loại văn bia của Việt Nam ra hai phương diện là hình thức và nội dung. Về phương diện hình thức chế tác:1-Bi khắc, là nguồn gốc chính của hệ thống văn hiến bi minh tại Việt Nam; 2-Mộ chí, tương tự như bị khắc; 3-Ma nhai; 4-Kinh tràng. Tuy nhiên nếu xét về nội dung có thé chia làm 7 loại: 1-Ki niệm công đức; 2-Ai điều công đức; 3-Ghi việc công đức; 4-Văn bia ghi tên tiến sĩ; 5- Van bia thơ ca; 6-Văn bia qui ước; 7-Loại khác!.
Trần Thị Kim Anh cho rằng văn bia có thé chia thành 3 thé loại: 1-Van bia kiến trúc tu tạo kiêm ghi công, ghi việc và công đức của những người hưng công, hội chủ trong hoạt động sửa chữa đình chùa, miéu vũ, từ đường, đúc chuông, tô tượng, hoặc xây sửa câu đường mở chợ; 2-Van bia ghi việc nhăm phi lại một sự 4 (SE, BTEC (2019), #Ä#BjffÄñJ SCOT, PB RM AEE, IER, 9-18: [?ã AR: M27 CRT i: —. SRSA: SA CRE WIAA: —-. | 15 kiện nào đó, bao gồm các loại như bia Hậu Thần, Hậu Phật, Hậu Hiền; 3-Văn bia lăng mộ gồm Mộ chí, Mộ bi, Lăng bi, Thần đạo bi. 43-51] Cảnh Huệ Linh trong “Van khắc Việt Nam và quy phạm xã hội/” phân văn bia Việt Nam 6 loại văn khắc: 1-Té tự, 2-Tôn giáo, 3-Nho học, 4-Ghi người, 5-Ghi việc, 6-Loai khác.
12] Tiếp thu và chỉnh lí những quan điểm trên, Luận văn tiến hành chỉnh lí và phân loại các văn bia huyện Đan Phượng. Trước hết đặt phàm lệ tất cả các văn khắc trong phạm vi Luận văn đều đặt tiêu đề và không dé “Vô đề”. Quy tắc đặt tên như sau: 1. Van khắc nếu có sẵn tiêu dé thi theo tiêu dé vốn có.
Ví dụ thác bản văn bia kí hiệu 1686/1687/1688/1689 vốn có tên là “Tu tao Diệm Xá tự/ Bản thôn hưng công đức/ Tin thi công đức/ Tịnh điền kí bi” lễ 18: 8h 22 SEAN SS LD) 8/1 6 EG a, Luận văn để nguyên tên văn bia. Văn khắc vốn không có tiêu đề, tùy theo tính chất của văn khắc mà đặt tiêu đề. Ghi thêm chữ “Vô đề? (C#tj#i) để phân biệt với văn bia vốn có tên. Ví dụ thác bản văn bia kí hiệu 1676 vốn không có tên, thác bản sau khi được thu thập vào “Thu mục thác bản văn khắc Hán Nôm Việt Nam”, lay tén 1a “Vô đề”.
Nội dung văn bia đề cập việc ông Gia Vũ bá họ Lê được bầu làm Hậu Phat, vì vay Luận văn đặt tên mới văn bia là “Gia Vii bá Lê công Hậu Phật bi kí (Vô dé)” FHEUABA KA CARD. Về việc phân loại, có thể phân loại văn bia tai địa phương này thành 06 loại: (A) Tế tự; (B) Tôn giáo; (C) Nho học; (D) Ghi người; (E) Ghi việc và (F) Loại khác. Trong đó: (A) Loại tế tự: Các văn bia có nội dung phản ánh hoạt động cúng tế, thờ phụng tại làng xã, gia tộc. Có thé phân thành 9 đơn vị thành phan: (al) Hậu Phật phổ thông: Văn bia có nội dung phản ánh hoạt động cúng tế, thờ phụng người được 5 Nguyên văn là: eR SAA Se tL HL AL 16 bau Hậu Phật tại chùa.
Ví dụ văn bia Hậu Phật bi kí kí hiệu 1495/ 1496; (a2) Hậu Phật bài vị: Văn bia có hình thức là bài vi, với nội dung ghi họ tên, chức tước người được bau Hậu Phat tại chùa. Ví dụ Tắc quận công Hậu Phật bài vị bi (Vô đê)5 kí hiệu 1655; (a3) Hậu Than: Văn bia có nội dung phản ánh hoạt động cúng tế, tho phụng người được bầu Hậu Than tại đền, miéu, đình. Ví dụ Hậu Thần từ vũ bi kí kí hiệu 1662/ 1663; (a4) Hậu Hién: Văn bia có nội dung phản ánh hoạt động cúng tế, thờ phụng người được bau Hậu Hiền tại giáp, văn chỉ. Ví dụ Hậu Hiển bi kí kí hiệu 2216/2217; (a5) Hậu Thân Hậu Phật: Văn bia có nội dung phản ánh hoạt động cúng tế, tho phụng người vừa được bầu Hậu Thần vừa được bầu Hậu Phật tại chùa, đền, xã, giáp.
Ví dụ Huệ Linh tr Hậu Thân bi văn/ Tam xã thôn Hậu Phật sự lệ kí hiệu 1462/ 1463/ 1464/ 1465; (a6) Kí kị chùa: Văn bia có nội dung phản ánh hoạt động gửi gid sau khi mat tại chùa. Ví dụ Kí ki bi kí hiệu 2254; (a7) Ki ki họ: Văn bia có nội dung phản ánh hoạt động gửi giỗ sau khi mắt tại từ đường dòng tộc. Ví dụ Trân Thi Nga ki ki bi kí hiệu 2253; (a8) Ki ki giáp: Văn bia có nội dung phản ánh hoạt động gửi gid sau khi mat tại giáp, xã. Ví du Bản giáp bi kí kí hiệu 1517; (a9) Loại khác: Văn bia có nội dung phản ánh hoạt động cúng tế, thờ phụng tại làng xã, gia tộc không thể phân vào 8 loại trên.
Ví dụ: Hương lão phụng tự bi kí kí hiệu 1476/ 1516. (B) Loại tôn giáo: Các văn bia có nội dung là tư liệu, thần tích, thần sắc phản ánh các tôn giáo, tín ngưỡng như: Phật giáo, Đạo giáo, tín ngưỡng dân gian. Trong đó, gồm 1 đơn vị thành phan: (b1) Sự tich: Văn bia ghi chép về sự tích của than. Ví dụ: Cổ tich thần từ bi kí hiệu 25.
(C) Loại Nho học: Các văn bia có nội dung phản ánh hoạt động Nho giáo, chế độ khoa cử, nhân vật khoa bảng. Có thể phân nhỏ thành 3 đơn vị thành phần: (c1) Đề danh tiến sĩ. Văn bia có nội dung phản ánh tên tuổi, quan chức của người đỗ Tiến sĩ. Ví dụ Dương Liễu xã văn chỉ bi kí kí hiệu 1265/ 12667; (c2) Văn chỉ: Văn bia có nội dung phản ánh hoạt động Nho giáo, chế độ khoa cử, nhân vật khoa 6 Văn bia nguyên không có tên, tác giả Luận van đặt mới.
7 Văn bia nguyên tác không có tên, tác giả đặt mới tên. 17 bảng, quan lại tại tong, xã, thôn, giáp. Ví dụ Tiên hiển từ bi kí kí hiệu 1667/ 1668; (c3) V6 chi: Văn bia có nội dung phan ánh chế độ võ cử, nhân vật đỗ đạt võ cử, võ quan tại tong, xã, thôn, giáp. Vi du Ban huyén/ Quan viên bi kí kí hiệu 2268/ 2270; (c4) Văn miéu: Văn bia có nội dung phản ánh hoạt động Nho giáo, chế độ khoa cử, nhân vật khoa bảng, quan lại trong huyện.
Ví dụ Tring tu văn miéu kí kí hiệu 2698. (D) Loại ghi người: Các văn bia ghi chép hành trạng, sự tích của các cá nhân. Có thé chia nhỏ thành 2 đơn vị thành phan: (d1) Gia pha: Văn bia ghi chép tên tuổi, ngày mat, công đức, mộ phần một gia đình hay dong họ. Ví dụ Trần tộc bi ki/ Tran tộc bi kí kí hiệu 1271/ 1279/ 1298; (d2) Hanh trạng: Văn bia ghi chép về tên tudi, ngày mat, sự nghiệp của các một hay nhiều nhân vat.
Vi du Pham công gia pha bi kí kí hiệu 1456/ 1457/ 1458/ 1459. (E) Loại ghi việc: Các văn bia có nội dung tóm tắt các sự kiện cùng các tác phẩm thi văn.