Chương 1: Vài nét về vùng đất Thiệu Đô Chương 2: Di sản văn hóa vật thể Chương 3: Di sản văn hóa phi vật thể 8 CHƢƠNG 1: VÀI NÉT VỀ VÙNG ĐẤT THIỆU ĐÔ 1.1 Vị trí địa l và điều kiện t nhiên 1. ị t địa l Thiệu Đô là một trong 28 xã, thị trấn của huyện Thiệu Hóa, nằm cạnh sông Chu, cách trung tâm thành phố Thanh Hóa 15km về phía Tây. Phía Bắc giáp với sông Chu, thị trấn Vạn Hà và xã Thiệu Nguyên; Phía Nam giáp xã Thiệu Trung, xã Đông Thanh (huyện Đông Sơn); Phía Tây giáp xã Thiệu Vận; Phía Đông giáp xã Thiệu Châu. Thiệu Đô có tổng diện tích đất tự nhiên là 525,23ha, trong đó đất nông nghiệp có 295,01ha.
Theo số liệu điều tra đến tháng 1 năm 2011, Thiệu Đô có 1. Điều iện t nhiên Địa hình: Thiệu Đô có địa hình tương đối bằng phẳng, nhưng ở các vùng không đồng nhất, cao thấp xen kẽ nhau, do ảnh hưởng trực tiếp của lũ lụt qua nhiều năm gây khó khăn cho việc kiến thiết đồng ruộng và thâm canh cây trồng. Thổ nhưỡng: Đất đai của Thiệu Đô được bồi đắp bởi dòng sông Chu, nên có tính chất lý, hóa tốt và được chia làm hai loại: Đất phù sa được bồi đắp hằng năm, là đất nằm ở ngoài đê thường xuyên được bồi đắp phù sa, nên có tầng đất dày, độ màu mỡ cao, thích hợp cho việc trồng cây công nghiệp như: dâu, bông, lạc, vừng… Vùng đất nội đê chủ yếu là đất ruộng, thích hợp cho trồng lúa, ngô và rau màu các loại. Khí hậu: Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, do đó Thiệu Đô chịu ảnh hưởng của 2 loại gió mùa.
Mùa hè chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Nam, kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, mang hơi nước từ biển vào nên gây ra mưa, 9 nhiệt độ trung bình từ 29 – 39C, cao nhất là 40C. Mùa đông chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, nên đã xảy ra tình trạng rét, khô hanh kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ trung bình 16 – 20C, thấp nhất 11C. Ngoài ra, xã còn chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam khô nóng, kéo dài từ 15 – 20 ngày, chia làm nhiều đợt. Mùa mưa thường đến muộn, kèm theo lũ, lượng mưa trung bình năm khá cao từ 1.000mm, phân bố không đồng đều giữa các tháng trong năm.
Mưa tập trung chủ yếu từ tháng 7 đến tháng 9, chiếm khoảng 76% tổng lượng mưa trong năm, những năm tháng còn lại ít, mưa chỉ chiếm khoảng 24%, đặc biệt vào tháng 11 và tháng 12 lượng mưa rất thấp. Độ ẩm không khí trung bình 84 – 85%, cao nhất là 90% ở các tháng 8 và 9 [3, tr12] Đồi núi: Thiệu Đô có núi Đồng Chài, hay còn gọi là nói Phượng Hoàng, nằm ở phía Đông xã Thiệu Đô thuộc địa phận làng Hồng, giáp với làng Núi (xã Thiệu Châu), diện tích 1,2ha, có độ cao khoảng vài chục mét. Đây là núi đất đỏ ba-zan và là núi chung của 2 xã Thiệu Đô và Thiệu Châu. Sông ngòi, ao hồ: Trên địa bàn xã Thiệu Đô có 2 con sông chảy qua là sông Chu ở phía Bắc, với chiều dài đi qua xã là 2,7 km và kênh nhà Lê ở phía Nam.
Ngoài ra, Thiệu Đô còn có kênh B9 và nhiều ao hồ nằm rải rác ở 3 làng. Đây là nguồn dự trữ cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp địa phương. Về giao thông đường bộ: Thiệu Đô là xã có hệ thống giao thông đường bộ tương đối thuận lợi, bởi có Quốc lộ 45 dài 2,5km và Tỉnh lộ 512 chạy qua địa bàn xã. Ngoài ra, Thiệu Đô còn có đường liên xã, liên thôn và đường nội đồng dài hàng chục km.
Thực hiện chương trình kiên cố hóa đường giao thông, nên các tuyến đường trên địa bàn Thiệu Đô đã được nhựa hóa và bê tông hóa thuận lợi cho việc đi lại, góp phần vào việc phát triển kinh tế của địa phương, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Với điều kiện tự nhiên như vậy, là điều kiện thuận lợi để Thiệu Đô phát triển một nền kinh tế nông nghiệp toàn diện, trao đổi hàng hóa với các vùng miền trong tỉnh và giao lưu văn hóa…[33;14].2 Quá trình hình thành vùng đất Thiệu Đô 1. ùng đất Thiệu Đô t ước Cách mạng tháng Tám năm 1945 Thiệu Đô là vùng đất có điều kiện tự nhiên khá thuận lợi, được con người khai phá từ rất sớm và đã hình thành những xóm làng trù phú. Kể từ khi lập làng cho đến nay đã nhiều lần thay đổi địa danh.
Trước thời Nguyễn, Lỵ Sở huyện Đông Sơn đóng ở làng Cổ Đô. Năm 1815, dưới thời vua Gia Long, phủ Thiệu Thiên đổi gọi là phủ Thiệu Hóa. Làng Hồng, làng Vạc, làng Chè thuộc phủ này. Thời vua Minh Mạng (1820 – 1841), làng Hồng, làng Vạc, làng Chè vẫn thuộc huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Hóa.
Phủ Thiệu Hóa lúc này gồm có 3 huyện là Đông Sơn, Thụy Nguyên (sau là Thiệu Hóa) và Yên Định. Năm Thành Thái thứ 12 (1900) huyện Thụy Nguyên cắt tổng Ngọc Lặc, Yên Trường, Quảng Thi để lập châu mới là Ngọc Lặc, chuyển tổng Phú Hà sang Lôi Dương để lập huyện Thọ Xuân, đồng thời nhận về tổng Lô Dương của huyện Thọ Xuân, đặt làng tổng Xuân Lai, hai tổng Vận Quy, Đại Bối và một phần của tổng Thạch Khê của huyện Đông Sơn. Như vậy, từ năm 1900, các làng Cổ Đô, Hồng Đô và làng Chè thuộc huyện Thụy Nguyên, đến năm 1928, huyện Thụy Nguyên đổi thành phủ Thiệu Hóa. Từ đó cho đến năm 1945, các làng xã Thiệu Đô thuộc tổng Vận Quy, phủ Thiệu Hóa [3; tr15].
Vùng đất Thiệu Đô từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay Cách Mạng tháng Tám năm 1945 thành công, phủ Thiệu Hóa được đổi thành huyện Thiệu Hóa, các tổng được giải thể, thành lập các xã. Lúc này, làng Vạc, làng Trà Thượng thuộc xã Hưng Đạo; làng Hồng thuộc xã Thái Bình. Cuối năm 1947, đầu năm 1948, hai xã Hưng Đạo và Thái Bình tháp nhập thành một xã, gọi là xã Thái Bình và là một trong 12 xã của huyện Thiệu Hóa lúc bấy giờ. 11 Vào tháng 3 năm 1953, thực hiện chủ trương của Chính phủ, 12 xã của huyện Thiệu Hóa được chia thành 31 xã.
Xã Thái Bình chia thành 3 xã: Thiệu Đô, Thiệu Châu, Thiệu Vận. Xã Triệu Đô lúc mấy giờ gồm 3 làng: làng Hồng (Mỹ Đô), làng Vạc (Cổ Đô) và làng Chè (Trà Thượng). Ngày 5 tháng 7 năm 1977, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 177/CP về việc giải thể huyện Thiệu Hóa để thành lập hai huyện mới là Thiệu Yên và Đông Thiệu. Theo đó, xã Thiệu đô là 1 trong 16 xã thuộc hữu ngạn sông Chu của huyện Thiệu Hóa sáp nhập vào huyện Đông Sơn và thành lập huyện mới lấy tên là huyện Đông Thiệu.
Đến ngày 30 tháng 8 năm 1982, Hội đồng Bộ Trưởng ban hành Nghị định số 149/HĐ-BT đổi tên huyện Đông Thiệu thành huyện Đông Sơn. Ngày 18 tháng 11 năm 1996, Thủ tướng Chính phủ đã ra Nghị định số 72 – ND/CP về việc điều chỉnh giới hành chính, tái lập huyện Thiệu Hóa. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày mùng 1 tháng 1 năm 1997, xã Thiệu Đô lại trở về với huyện Thiệu Hóa. Thiệu Đô có nhiều dòng họ sống xen kẽ trong làng xóm, đông hơn cả là các dòng họ: Lê, Nguyễn, Hoàng, Trần.
Họ Cao cùng các dòng họ khác như: Phạm, Đào, Tạ, Trương, Đinh, Đỗ, Vũ… hàng ngàn năm qua đã chung lưng đấu cật trên mảnh đất Thiệu Đô, dòng họ nào cũng đóng góp tài trí, vật lực cho quê hương, dòng họ nào cũng giữ được truyền thống tốt đẹp của tổ tiên. Xã Thiệu Đô có 3 làng: làng Hồng, làng Vạc, làng Chè và được chia thành 11 thôn. Làng Hồng Đô: Phía Bắc giáp sông Chu, huyện Lỵ Thiệu Hóa, phía Đông giáp làng Phúc Triền, xã Đông Thanh (huyện Đông Sơn) và xã Thiệu Châu, phía Nam giáp làng Chè xã Thượng Trung, phía Tây giáp với làng Vạc. Trước thế kỷ XIX làng có tên là Lỗ Đô trang, đến đầu thế kỷ XIX, có tên là Hồng Đô, đến năm 1848 đổi tên là Mỹ Đô thuộc tổng Vận Quy.
Từ năm (1946 – 1953) làng Hồng Đô thuộc xã Thái Bình. Tháng 3 năm 1953, Hồng 12 Đô thuộc xã Thiệu Đô tên gọi Hồng Đô vẫn giữ đến ngày nay. Trước Cách mạng tháng Tám 1945 có hai ngõ: ngõ Mã và ngõ Tuần Quan. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, làng Hồng có 06 xóm: xóm Bình Định, xóm Thái Phú, xóm Thái Thọ, xóm Thái Nhu, xóm Thái Thắng, xóm Thái Tường.
Đến nay làng chia thành 4 thôn (từ thôn 7 đến thôn 10). Xưa kia nơi đây là một vùng đồng lầy nước đọng,cây cối um tùm dân cư thưa thớt. Ban đầu làng Hồng Đô có 2 dòng họ là họ Hoàng và họ Lê, sau này có thêm các dòng họ Nguyễn, Phạm, Đào, Trần, Đinh,… từ nhiều vùng khác nhau đến nay sinh cơ lập nghiệp trở thành một cộng đồng dân cư đông đúc với xóm làng trù phú. So với các làng khác thì làng Hồng Đô có nền kinh tế nông nghiệp tương đối ổn định.
Cùng với nghề trồng lúa, người dân làng Hồng Đô còn trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt nhiễu và nghề này đã đem lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần nâng cao đời sống cho người dân nơi đây. Về di tích lịch sử: Hồng Đô có mô hình được xây ở giữa làng, để làm nơi sinh hoạt cộng đồng và thờ Thành Hoàng làng, bên cạnh đó làm còn có văn chỉ thờ Khổng Tử, võ chỉ thờ những người là võ tướng có công chống giặc ngoại xâm bảo vệ làng xóm, đất nước. Làng Vạc: Phía bắc giáp với sông Chu; phía Đông giáp với làng Hồng, phía Nam giáp với làng Chè, phía Tây giáp xã Thiệu Vận. Xưa gọi là kẻ Vạc, còn có tên là làng Kênh.
Đây là làng được hình thành sớm nhất ở Thiệu Đô. Sở dĩ làng có tên gọi là làng Vạc vì làng có hình thế giống con vạc nên nhân dân gọi là làng Vạc. Đầu thế kỷ XIX, làng có tên gọi là Cổ Đô, đến đời vua Đồng Khánh (1885 – 1888) đổi là xã Cổ Đô Thượng, tổng Vận Quy. Từ năm 1946 – 1947, thôn Cổ Đô thuộc xã Hưng Đạo từ năm 1948 – 1953 thuộc xã Thái Bình và từ tháng 3 năm 1953 đến nay, làng Cổ Đô thuộc xã Thiệu Đô.
Dưới thời phong kiến, làng Cổ Đô có một thiết chế khá chặt chẽ, dân cư được phân bố theo các ngõ: ngõ Đoài, ngõ Đông, ngõ Nam, ngõ Bắc.