Tổng quan luận án

Bản luận án phó tiến sĩ khoa học lịch sử với đề tài "Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 tại miền Nam Việt Nam" thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số chuyên ngành thời điểm thực hiện: 5.05.01), được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư Lê Mâu Hãn và Phó Giáo sư - Phó Tiến sĩ Đỗ Quang Hưng.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ rõ biến cố lịch sử Tết Mậu Thân 1968 dù đã lùi xa hơn một phần tư thế kỷ nhưng vẫn là tâm điểm tranh luận của giới chính trị, quân sự, sử học và báo chí trong nước cũng như quốc tế. Ở phương Tây, đặc biệt là giới tướng lĩnh và các nhà hoạch định chính sách Mỹ, tồn tại quan điểm phổ biến không thừa nhận quân đội Mỹ bị thất bại quân sự trên chiến trường miền Nam. Trái lại, các tài liệu từ phía Việt Nam khẳng định đây là thắng lợi chiến lược to lớn, song một số công trình và ý kiến tổng kết trước đó còn biểu hiện sự lúng túng, chỉ mô tả sơ lược diễn biến hoặc đánh giá thắng lợi - thất bại một cách khái quát, chưa giải quyết thấu đáo mâu thuẫn giữa kết quả trên chiến trường và bước lùi chiến lược của Nhà Trắng. Việc phân tích toàn diện, khách quan cơ sở hình thành chủ trương, diễn biến thực tế và nguyên nhân tạo nên tác động chiến lược của sự kiện là yêu cầu cấp thiết về mặt học thuật và thực tiễn.

Luận án xác định 4 câu hỏi nghiên cứu then chốt cần giải quyết:

  1. Tại sao Đảng lại chủ trương tổng tiến công và nổi dậy? Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn của chủ trương đó là gì?
  2. Diễn biến lịch sử tổng quát của sự kiện Tết Mậu Thân đã diễn ra như thế nào trên chiến trường?
  3. Kết quả thực tế của cuộc tiến công: quân và dân Việt Nam đã giành được thành quả ở những mặt nào và phải chịu tổn thất ở mức độ nào trên chiến trường miền Nam?
  4. Tại sao Tết Mậu Thân tạo nên tác động chiến lược làm rung chuyển nội tình nước Mỹ, buộc giới lãnh đạo Oa-sinh-tơn phải thay đổi chiến lược, xuống thang chiến tranh và chấp nhận đàm phán tại Pa-ri?

Đối tượng nghiên cứu của luận án là toàn bộ quá trình chuẩn bị, chủ trương, diễn biến và tác động của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Về phạm vi không gian, đề tài bao quát chiến trường miền Nam Việt Nam, đồng thời đặt trong mối tương quan với hậu phương miền Bắc và hậu phương nước Mỹ. Về phạm vi thời gian, dù phong trào tiến công trong năm 1968 diễn ra thành nhiều đợt, tác giả giới hạn trọng tâm nghiên cứu vào Đợt 1 (Đợt Tết), kéo dài từ giai đoạn chuẩn bị, mở màn cho đến mốc chuyển biến chiến lược ngày 31 tháng 3 năm 1968.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã tiến hành rà soát hệ thống tài liệu nghiên cứu phong phú từ cả hai phía tham chiến:

Ở hướng nghiên cứu trong nước, các công trình thông sử và lịch sử kháng chiến tiêu biểu đã điểm lại gồm: Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam (Nxb Tuyên huấn, 1988), Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam (Nxb Sự Thật, 1987), Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (2 tập, Nxb Sự Thật, 1990, 1991), Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam (Tập 2, Nxb Quân đội nhân dân, 1994). Bên cạnh đó là các chuyên khảo quân sự chuyên sâu như: Bước ngoặt lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ của Đại tướng Văn Tiến Dũng (Nxb Sự Thật, 1989), Cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ ở Việt Nam (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, 1991), Quá trình cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và quy luật hoạt động của Mỹ, ngụy trên chiến trường B2 (Ban Tổng kết chiến tranh B2, 1984), Một số vấn đề về tổng kết chiến tranh và biên soạn lịch sử quân sự của Lê Đức Thọ (Nxb Sự Thật, 1989). Tác giả cũng khảo sát hệ thống kỷ yếu hội thảo, các bài nghiên cứu trên các tạp chí chuyên ngành như Nghiên cứu Lịch sử, Lịch sử Đảng, Lịch sử quân sự, Quân đội nhân dân (sau đổi thành Quốc phòng toàn dân), cùng các bản lịch sử truyền thống địa phương tại Sài Gòn, Thừa Thiên - Huế, Quân khu 5.

Ở hướng nghiên cứu từ phía nước ngoài, đặc biệt là các tài liệu từ phía Mỹ, luận án khảo sát các công trình chính thống và biên khảo hồi ký: Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ (Pentagon Papers), Tổng kết chiến tranh Việt Nam của Bộ Quốc phòng Mỹ, hồi ký Tường trình của một quân nhân của W. Oét-mo-len (W. Westmoreland), hồi ký Lợi thế của Tổng thống L. B. Giôn-xơn (L. B. Johnson), Những năm ở Nhà Trắng của H. Kít-xinh-gơ (Henry Kissinger), các khảo cứu chuyên sâu như TẾT của Đôn Ô-bơ-đoi-phơ (Don Oberdorfer), Những bí mật về chiến tranh Việt Nam của Trung tướng Đa-vít-sơn (Davidson), Tự hoại của Cicinnatus, Việt Nam - cuộc chiến tranh mười ngàn ngày của Mai-cơn Mác-lia (Michael Maclear), Giải phẫu một cuộc chiến tranh của G. Côn-cô (Gabriel Kolko), Lời nói dối choáng lộn của Nây Si-han (Neil Sheehan), Lời phán quyết về Việt Nam của A. Am-tơ, Nước Mỹ và Đông Dương từ Ru-dơ-ven đến Ních-xơn của P. Pu-lơ.

Khoảng trống học thuật mà luận án lựa chọn giải quyết là: nhận định của hai bên về Tết Mậu Thân còn nhiều đối lập sâu sắc. Giới quân sự Mỹ căn cứ vào thước đo thống kê tổn thất và sự chuyển dịch chiến tuyến để tuyên bố "Việt cộng bị đánh bại về quân sự". Ở phía Việt Nam, bên cạnh việc khẳng định thắng lợi chiến lược, một số ý kiến so sánh chỉ tiêu ban đầu với tổn thất thực tế đã nhìn nhận sự kiện như một bước thụt lùi tạm thời, hoặc băn khoăn về cái giá phải trả như ghi nhận của Trần Văn Trà và Lê Đức Thọ. Luận án đặt vị trí của mình vào việc đối chiếu nguồn sử liệu đa chiều để dựng lại bức tranh chân thực, lý giải logic nội tại giữa đòn đánh quân sự bất ngờ vào đô thị với sự đổ vỡ ý chí chính trị của giới cầm quyền Oa-sinh-tơn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết, luận án vận dụng các nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh cách mạng và quân đội, cùng hệ thống quan điểm, đường lối quân sự của Đảng Cộng sản Việt Nam. Khung phân tích lý luận đặt trọng tâm vào quan niệm chiến tranh nhân dân, phân tích tương quan lực lượng không thuần túy dựa trên số lượng binh lực cơ học mà căn cứ vào hiệu lực thực tế trong hành động, thế trận chiến tranh và sức mạnh tổng hợp chính trị - quân sự - tâm lý.

Phương pháp nghiên cứu thực tế của luận án là sự kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp lịch sử và phương pháp lô-gíc, phù hợp với tính chất của một công trình chuyên ngành Lịch sử Việt Nam:

  • Phương pháp lịch sử được dùng để tái hiện trình tự xuất hiện của các sự kiện, hoàn cảnh ra đời của các quyết định chiến lược, diễn tiến chuẩn bị và các pha chuyển biến trên chiến trường theo đúng không gian, thời gian thực tế.
  • Phương pháp lô-gíc được sử dụng để bóc tách mối liên hệ bản chất giữa hành động quân sự và phản ứng chính trị, phân tích các mâu thuẫn nội tại trong chiến lược "chiến tranh cục bộ" của Mỹ, đánh giá tính tất yếu của việc chuyển hướng chiến lược từ phía Việt Nam.

Nguồn tư liệu thực nghiệm được khai thác từ 6 nhóm dữ liệu chính:

  1. Hệ thống văn kiện, nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng (các khóa 11, 12, 13, 14, 21), nghị quyết và biên bản họp Bộ Chính trị (tháng 6/1966, tháng 10/1967, tháng 12/1967, các tháng năm 1968), chỉ thị của Thường trực Quân ủy Trung ương, công điện tác chiến còn lưu trữ tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam và Bộ Quốc phòng.
  2. Các công trình tổng kết, tài liệu lưu hành nội bộ của các chiến trường B2, Khu 5, Trị - Thiên, lực lượng vũ trang Sài Gòn - Gia Định.
  3. Tài liệu chính thức từ phía Mỹ, bao gồm hồ sơ giải mật của Bộ Quốc phòng Mỹ, các báo cáo đánh giá của Cục Tình báo Trung ương (CIA) và Bộ Tư lệnh MACV.
  4. Hệ thống hồi ký chính trị, quân sự của các nhân chứng cấp cao trực tiếp tham gia điều hành chiến tranh của cả hai bên.
  5. Các bài nghiên cứu chuyên ngành trên hệ thống báo chí, tạp chí khoa học quân sự và lịch sử.
  6. Tư liệu phỏng vấn trực tiếp các tướng lĩnh Quân đội nhân dân Việt Nam và cán bộ lãnh đạo phụ trách chiến trường giai đoạn 1965-1968.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Tình thế mới và chủ trương chiến lược của Đảng

Nội dung chương tập trung làm rõ hai vấn đề lớn: sự biến đổi cục diện chiến tranh sau hai mùa khô và quá trình chuẩn bị, hoàn chỉnh quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng.

I. Tình thế mới của cuộc chiến tranh giữa Việt Nam và Mỹ

Sau khi chiến lược "chiến tranh đặc biệt" đứng trước nguy cơ sụp đổ, tháng 7 năm 1965, Tổng thống L. B. Giôn-xơn phê chuẩn kế hoạch chiến lược 3 giai đoạn của tướng W. Oét-mo-len nhằm thực thi chiến lược "chiến tranh cục bộ". Đỉnh cao cố gắng chiến tranh của Mỹ được triển khai qua hai cuộc phản công chiến lược mùa khô:

Trong cuộc phản công mùa khô lần thứ nhất (1965-1966), Mỹ huy động hơn 20 vạn quân viễn chinh và chư hầu (riêng quân Mỹ là 154.314 người), phối hợp cùng quân đội Sài Gòn thành lực lượng 72 vạn tên nhằm thực hiện gọng kìm "tìm - diệt" và "bình định". Kế hoạch bị chặn đánh ở nhiều địa bàn: Củ Chi, Bến Cát, Nhà Đỏ - Bông Trang, Võ Xu, Bình Tuy, Dốc Bà Nghĩa, tỉnh lộ 16, Mũi Lá, Tây Sơn Tịnh, Đồng Giáp. Về bình định, mục tiêu do Giôn-xơn và Nguyễn Văn Thiệu vạch ra tại hội nghị Hô-nô-lu-lu (tháng 2/1966) nhằm lập 900 ấp mới và củng cố 19.000 ấp bị phá sản. Chính trường Sài Gòn rơi vào khủng hoảng trầm trọng khi Thiệu - Kỳ cách chức tướng Nguyễn Chánh Thi (tháng 3 đến tháng 6/1966), gây ra biến động ly khai ở Huế và Đà Nẵng.

Trong cuộc phản công mùa khô lần thứ hai (1966-1967), Mỹ huy động 20 sư đoàn và 10 lữ đoàn chủ lực (trong đó có 7 sư đoàn và 4 lữ đoàn Mỹ), 4.000 máy bay, 2.500 xe tăng và xe bọc thép, 2.500 khẩu pháo, 500 tàu thuyền. Quân đội Mỹ liên tiếp mở 3 cuộc hành quân quy mô lớn nhắm vào căn cứ Bắc Sài Gòn:

  • Cuộc hành quân At-tơn-bơ-rơ (Attleboro, tháng 10-11/1966): huy động 30.000 quân đánh vào Dương Minh Châu; sau 72 ngày đêm bị Sư đoàn 9 và lực lượng vũ trang tại chỗ bẻ gãy, Mỹ phải rút lui ngày 24 tháng 11 năm 1966.
  • Cuộc hành quân Xi-đa-phôn (Cedar Falls, tháng 1/1967): đánh vào khu vực Tam giác sắt (Bến Súc - Củ Chi - Bến Cát); Mỹ phá hủy làng mạc, dồn 15.000 dân vào thị xã Bình Dương nhưng không tiêu diệt được cơ quan chỉ huy khu vực.
  • Cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ti (Junction City, tháng 2 đến tháng 4/1967): cuộc hành quân lớn nhất của Mỹ với 45.000 quân, 1.200 xe cơ giới, hơn 250 khẩu pháo, 17 phi đoàn không quân đánh vào Chiến khu C (rộng khoảng 1.500 km²). Lực lượng cách mạng tổ chức thế trận chiến tranh nhân dân phân thành 13 "huyện", "xã" chiến đấu. Ngày 15 tháng 4 năm 1967, Oét-mo-len phải chấm dứt hành quân sau khi chịu tổn thất 14.000 quân, gần 1.000 xe quân sự và 160 máy bay.

Về công tác bình định nông thôn, trong tổng số 16.293 ấp trên toàn miền Nam, Mỹ và chính quyền Sài Gòn chỉ kiểm soát được 5.400 ấp ở các mức độ khác nhau. Quân và dân miền Nam giải phóng thêm 390 xã, ấp, nâng tổng số lên 700 xã và 5.750 ấp giải phóng. Chính quyền Sài Gòn thừa nhận năm 1967 chỉ đạt 13% kế hoạch bình định.

Bảng tổng hợp các chỉ số chiến sự và kinh tế - xã hội được văn bản luận án ghi nhận:

Hạng mục dữ kiện Số liệu ghi nhận trong văn bản
Quân số viễn chinh Mỹ và chư hầu vào miền Nam (1965) Hơn 20 vạn quân (trong đó có 154.314 lính Mỹ)
Tổng lực lượng Mỹ, quân đội Sài Gòn, chư hầu mùa khô 1965-1966 72 vạn quân
Quân số Mỹ tăng cường trên chiến trường miền Nam giữa năm 1968 463.000 quân
Lực lượng Mỹ huy động cho cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ti (1967) 45.000 quân, 1.200 xe tăng/thiết giáp, >250 trọng pháo
Tổn thất của Mỹ trong cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ti 14.000 quân, gần 1.000 xe quân sự, 160 máy bay
Khối lượng bom Mỹ ném xuống miền Bắc tính đến cuối năm 1967 1.000.000 tấn bom
Tổn thất nhân mạng ở miền Bắc do ném bom (ước tính của CIA) 13.000 (1965), 24.000 (1966), 29.000 (1967) (80% dân thường)
Tổn thất nhân mạng ở miền Bắc trong 4 năm (Cục Tác chiến ghi nhận) 14.000 quân nhân và 60.000 dân thường
Thành tích phòng không và bờ biển miền Bắc năm 1967 Bắn rơi 1.067 máy bay, bắn cháy 69 tàu chiến
Chi viện từ hậu phương miền Bắc cho chiến trường (1966-1967) 149.037 quân bổ sung; >360.000 người vào bộ đội và TNXP
Chi phí chiến tranh của Mỹ qua các tài khóa 4,7 tỷ USD (1965-1966); 24 tỷ (1966-1967); >30 tỷ (1967-1968)
Thâm hụt ngân sách liên bang Mỹ 6,2 tỷ USD (1966); 10,7 tỷ USD (1967); 25,3 tỷ USD (1968)
Chỉ số suy thoái kinh tế Mỹ năm 1968 Lạm phát giá cả tăng 4%, 3,8 triệu lao động thất nghiệp
Yêu cầu xin tăng quân của Oét-mo-len (tháng 3/1967) Mức 1: 100.000 quân; Mức 2: 201.250 quân (tổng 671.616 quân)
Quyết định điều quân thực tế của Giôn-xơn (mùa thu 1967) Tăng 55.000 quân, mở rộng đánh phá 57 mục tiêu miền Bắc

II. Chủ trương chiến lược của Đảng

Về quyết tâm chiến lược, từ tháng 5 năm 1967, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh đã dự thảo Phương án chiến lược Đông - Xuân 1967-1968. Các hội nghị Bộ Chính trị vào tháng 6, tháng 10 và tháng 12 năm 1967 cùng Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 14 (tháng 1/1968) đã thống nhất nhận định: cố gắng chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam đã lên tới đỉnh điểm trong khi năm 1968 là năm bầu cử Tổng thống Mỹ; thời cơ chiến lược xuất hiện cho phép chuyển cuộc chiến tranh cách mạng sang thời kỳ mới nhằm giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn. Trong bức thư gửi Trung ương Cục và Quân ủy Miền trước giờ G chưa đầy hai tuần, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn nhấn mạnh: "Thời cơ là hết sức quan trọng".

Về nghệ thuật tiến công, Đảng chủ trương không đánh tuần tự từ ngoài vào trong mà chọn hướng tiến công chủ yếu nhắm thẳng vào các đô thị trên toàn miền Nam. Đòn đánh nhắm trúng các mục tiêu yết hầu, đầu não chỉ huy như Tòa Đại sứ Mỹ, Dinh Độc Lập, Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn, Bộ Tư lệnh Biệt khu Thủ đô, Tổng nha Cảnh sát, Đài phát thanh. Thời điểm mở màn được chọn vào dịp Tết Nguyên đán - thời điểm địch bộc lộ sơ hở lớn nhất (quân số quân đội Sài Gòn nghỉ phép tới một nửa). Để bảo đảm bất ngờ, các chiến dịch nghi binh quy mô lớn được thực hiện ở khu vực biên giới, Tây Nguyên và đặc biệt là chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh (tháng 1/1968), buộc Bộ Tổng chỉ huy Mỹ lầm tưởng Khe Sanh là một "Điện Biên Phủ mới" và dồn lực lượng đối phó.

Về nghệ thuật sử dụng lực lượng, tại các đô thị, lực lượng sử dụng gồm các đơn vị đặc công, biệt động, các tiểu đoàn mũi nhọn bất ngờ tập kích chiếm lĩnh mục tiêu, phối hợp cùng các đội vũ trang, bán vũ trang của các đoàn thể quần chúng (Thanh niên, Công vận, Phụ vận, Hoa vận). Các sư đoàn, trung đoàn chủ lực đóng vai trò chặn viện ở vòng ngoài hoặc kéo giãn các sư đoàn cơ động Mỹ lên vùng rừng núi, tạo điều kiện cho đô thị nổi dậy.

Chương II: Tết Mậu Thân trên chiến trường

Nội dung chương ghi nhận cụ thể công tác thực thi chiến lược và bức tranh chiến sự tổng thể:

I. Chuẩn bị và nghi binh chiến lược

Để chuẩn bị địa bàn, hệ thống cơ sở nội thành và vùng ven được củng cố bí mật; các kho vũ khí, ém quân được thiết lập ngay sát các mục tiêu chỉ huy của đối phương. Công tác nghi binh diễn ra đồng bộ trên nhiều mặt trận:

  • Về quân sự, việc chủ động mở màn chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh đã hút một bộ phận lớn lực lượng cơ động chiến lược của quân đội Mỹ (đặc biệt là lực lượng lính thủy đánh bộ) ra chôn chân ở vùng rừng núi Quảng Trị.
  • Về ngoại giao và tuyên truyền, phía Việt Nam chủ động phát tín hiệu sẵn sàng đàm phán nếu Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc, trả tự do cho tù binh Mỹ (tháng 12/1967), kết hợp việc các cơ quan ngôn luận đăng bài khẳng định phương châm đánh lâu dài để ru ngủ khả năng đề phòng của cơ quan tình báo Mỹ và chính quyền Sài Gòn.

II. Diễn biến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân

Cuộc tiến công đồng loạt bùng nổ tại hầu khắp các đô thị miền Nam, bao gồm 4 thành phố lớn, hàng chục thị xã, thị trấn, sân bay và căn cứ quân sự:

  • Tại trọng điểm Sài Gòn - Gia Định, các đội biệt động và tiểu đoàn mũi nhọn đồng loạt tập kích Tòa Đại sứ Mỹ, Dinh Tổng thống, Bộ Tổng tham mưu, Bộ Tư lệnh Hải quân, Đài phát thanh, khám Chí Hòa. Trận đánh đánh chiếm Tòa Đại sứ Mỹ kéo dài nhiều giờ tạo nên hiệu ứng truyền thông toàn cầu, làm sụp đổ các tuyên bố trước đó của Oa-sinh-tơn về việc kiểm soát tình hình.
  • Tại Trị - Thiên - Huế, quân và dân địa phương phối hợp cùng bộ đội chủ lực tiến công làm chủ thành phố Huế trong 25 ngày đêm, đánh thiệt hại nặng các lực lượng phản kích, thiết lập chính quyền cách mạng cơ sở.
  • Tại Quân khu 5, đồng bằng ven biển miền Trung và Nam Bộ, các đòn tiến công phối hợp diễn ra rộng khắp, đồng loạt giáng đòn vào các sở chỉ huy quân đoàn, trung tâm truyền tin và kho tàng tiếp vận của quân đội đối phương.

Trước đòn đánh bất ngờ, các đơn vị quân đội Mỹ và Sài Gòn rơi vào thế tê liệt ban đầu, sau đó tập trung hỏa lực phản kích quyết liệt để tái chiếm các vị trí đô thị, đẩy lực lượng tiến công ra vùng ven.

Kết quả và những đóng góp mới

Về kết quả thực tế, luận án khẳng định thắng lợi của Tết Mậu Thân không đo đếm thuần túy bằng sự dịch chuyển của chiến tuyến hay số lượng đất đai chiếm giữ được tại nội đô, mà bằng việc đánh trúng ý chí xâm lược của giới cầm quyền Oa-sinh-tơn. Cuộc tiến công đã làm phá sản hoàn toàn chiến lược "chiến tranh cục bộ", phơi bày giới hạn sức mạnh quân sự Mỹ. Quyết định ngày 31 tháng 3 năm 1968 của Tổng thống L. B. Giôn-xơn (tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra, từ chối ra tranh cử nhiệm kỳ hai và chấp nhận cử đại diện đàm phán tại Pa-ri) chính là minh chứng cho sự thất bại về mặt chiến lược của Mỹ. Việc chuyển giao gánh nặng chiến tranh sang quân đội Sài Gòn ("phi Mỹ hóa" rồi "Việt Nam hóa chiến tranh") thực chất là bước lùi bắt buộc để Mỹ rút quân về nước.

Những đóng góp mới của bản luận án được xác định gồm:

  • Luận án đã hệ thống hóa và thẩm định nguồn sử liệu đa phương diện từ cả hai phía, cung cấp cơ sở khoa học để đánh giá thực chất tầm vóc lịch sử của biến cố Tết Mậu Thân, khắc phục những đánh giá phiến diện, một chiều hoặc quá đơn giản trước đó.
  • Công trình chứng minh thuyết phục rằng thắng lợi của Tết Mậu Thân là kết quả tổng hợp của nghệ thuật nắm bắt thời cơ, nghệ thuật tiến công tạo thế bất ngờ và nghệ thuật sử dụng lực lượng lấy ít địch nhiều, lấy chất lượng cao thắng số lượng đông.
  • Luận án làm rõ tác động dây chuyền từ mặt trận quân sự đến khủng hoảng chính trị - kinh tế - xã hội bên trong nước Mỹ, giải thích tường tận nguyên nhân vì sao một cường quốc có ưu thế quân sự vượt trội lại chịu thua về chiến lược trước nghệ thuật chiến tranh nhân dân.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, do nguồn sử liệu thời điểm tác giả thực hiện còn một số phần chưa được giải mật hoàn toàn, đồng thời phạm vi đề tài tự giới hạn vào Đợt 1 (Đợt Tết), luận án chưa thể bao quát diễn biến chi tiết của Đợt 2 (tháng 5/1968) và Đợt 3 (tháng 8/1968). Văn bản cũng chưa đi sâu mổ xẻ đầy đủ diễn tiến cụ thể ở từng trận đánh riêng lẻ tại các thị xã vùng sâu.

Về các khó khăn và tổn thất lịch sử, luận án ghi nhận trung thực ý kiến của các nhà lãnh đạo như Trần Văn Trà và Lê Đức Thọ về việc đặt ra mục tiêu tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở đô thị vượt quá khả năng thực tế của ta lúc bấy giờ, dẫn đến việc lực lượng vũ trang bị tiêu hao nặng nề trong giai đoạn địch phản kích và triển khai kế hoạch bình định Phượng Hoàng sau Tết.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ luận án là mở rộng đối sánh toàn diện cả ba đợt tiến công trong năm 1968, đồng thời tiếp tục khai thác các tài liệu lưu trữ mới được giải mật của Bộ Quốc phòng Mỹ và Quân đội nhân dân Việt Nam để làm sâu sắc hơn quá trình chuyển hóa cục diện từ năm 1968 sang giai đoạn đàm phán Pa-ri.

Giá trị tham khảo

Bản luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật cao đối với:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam và Lịch sử Quân sự trong việc xây dựng bài giảng, chuyên đề về giai đoạn kháng chiến chống Mỹ (1954-1975).
  • Các cán bộ nghiên cứu chiến lược, nghệ thuật quân sự tại các học viện quốc phòng, an ninh khi tìm hiểu về phương thức điều hành chiến tranh, nghệ thuật nghi binh, tạo thời cơ và phương châm kết hợp đấu tranh quân sự với chính trị, ngoại giao.
  • Các nhà nghiên cứu quan hệ quốc tế và lịch sử ngoại giao cần cứ liệu xác thực về bước ngoặt dẫn tới bàn đàm phán Pa-ri năm 1968.

Các phần nội dung đáng tham khảo nhất trong luận án gồm: hệ thống tư liệu kinh tế - chính trị nội bộ nước Mỹ tại Chương I; các biên bản phân tích chủ trương của Bộ Chính trị; và các số liệu đối chiếu về lực lượng, vũ khí giữa hai bên trong các chiến dịch phản công mùa khô.

Câu hỏi thường gặp

  1. Giới chỉ huy quân sự Mỹ căn cứ vào hệ quy chiếu nào để khẳng định Tết Mậu Thân là một "thất bại quân sự" của đối phương?
    Giới chỉ huy quân sự Mỹ (như W. Oét-mo-len) và phương Tây căn cứ vào quan điểm quân sự truyền thống, lấy sự dịch chuyển của chiến tuyến và tỷ lệ tiêu hao sinh lực làm mốc đo. Họ cho rằng lực lượng Quân giải phóng không chiếm giữ được các đô thị lâu dài, bị đẩy lùi ra vùng ven và chịu thương vong lớn hơn số quân bổ sung từ miền Bắc, do đó quy kết cuộc tiến công là thất bại về quân sự.

  2. Ba cuộc hành quân phản công chiến lược lớn nhất của Mỹ trong mùa khô 1966-1967 nhắm vào căn cứ Bắc Sài Gòn đã bị đánh bại như thế nào?
    Đó là các cuộc hành quân At-tơn-bơ-rơ (30.000 quân, bị bẻ gãy sau 72 ngày đêm), Xi-đa-phôn (đánh vào Tam giác sắt, dồn 15.000 dân nhưng không tiêu diệt được cơ quan chỉ huy) và Gian-xơn Xi-ti (45.000 quân, cuộc hành quân lớn nhất bị đánh bại sau hơn 50 ngày đêm, chịu thiệt hại 14.000 quân, gần 1.000 xe và 160 máy bay).

  3. Chiến tranh Việt Nam đã gây ra những khó khăn kinh tế - xã hội cụ thể nào đối với nội tình nước Mỹ trước năm 1968?
    Chi phí chiến tranh tăng vọt từ 4,7 tỷ USD tài khóa 1965-1966 lên hơn 30 tỷ USD tài khóa 1967-1968; ngân sách liên bang năm 1968 thâm thủng 25,3 tỷ USD; lạm phát tăng 4%; 3,8 triệu người Mỹ thất nghiệp; phong trào biểu tình phản chiến lan rộng làm nảy sinh mâu thuẫn gay gắt giữa phái quân sự và phái dân sự trong chính quyền Giôn-xơn.

  4. Nghệ thuật nghi binh chiến lược của phía Việt Nam trước thềm Tết Mậu Thân được triển khai qua các hành động cụ thể nào?
    Bộ chỉ huy Việt Nam chủ động mở chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh vào tháng 1 năm 1968 nhằm thu hút sự chú ý và lực lượng cơ động Mỹ ra khu phi quân sự; duy trì hoạt động quân sự thông thường tại nông thôn; thả tù binh Mỹ; phát tín hiệu ngoại giao về đàm phán; và cho đăng bài xã luận khẳng định phương châm đánh lâu dài để che giấu ý định tập kích đô thị.

  5. Vì sao quyết định ngày 31 tháng 3 năm 1968 của Tổng thống Giôn-xơn được coi là sự thừa nhận thất bại chiến lược của Mỹ?
    Dù quân Mỹ vẫn còn hơn 50 vạn tên trên chiến trường, tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra, từ chối ra tái tranh cử và chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán Pa-ri của Giôn-xơn chứng minh ý chí leo thang chiến tranh của Mỹ đã bị bẻ gãy, buộc Mỹ phải chuyển hướng sang rút lui từng bước.

Kết luận

Bản luận án phó tiến sĩ khoa học lịch sử về Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 là công trình nghiên cứu hệ thống, nghiêm cẩn và có nguồn sử liệu phong phú. Bằng việc phân tích sâu sắc các dữ kiện thực tế từ cả hai phía tham chiến, tác giả đã làm rõ quy luật vận động của cuộc chiến tranh cục bộ và khẳng định bước ngoặt chiến lược không thể đảo ngược do cuộc tập kích Tết tạo ra. Công trình là tài liệu khoa học đóng góp thiết thực cho công tác nghiên cứu, tổng kết lịch sử quân sự và lịch sử dân tộc thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước.