Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ lịch sử với đề tài "Đảng lãnh đạo thực hiện thời cơ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954)" do nghiên cứu sinh Nguyễn Hùng Cường thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Nguyễn Mạnh Hà, bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2024 (chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, mã số 62 22 03 15).

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò của thời cơ trong lịch sử đấu tranh cách mạng và chiến tranh giải phóng dân tộc. Thời cơ được xác định là sự kết hợp giữa các điều kiện chủ quan và khách quan thuận lợi nhằm chuyển hóa khả năng thành hiện thực. Trong chiến tranh, việc nhận thức, dự báo và chuẩn bị đầy đủ các điều kiện chủ quan để tạo thời cơ, chớp thời cơ giữ vai trò quyết định đến thành bại của cuộc chiến. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), tương quan so sánh lực lượng ban đầu vô cùng khó khăn, bất lợi cho phía Việt Nam. Trong tình thế đó, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thường xuyên phân tích tình hình, nhận định và chỉ đạo thực hiện thời cơ cách mạng nhằm từng bước giành thắng lợi.

Về khoảng trống nghiên cứu, mặc dù cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã thu hút sự quan tâm của nhiều học giả trong và ngoài nước với nhiều công trình tiếp cận đa chiều, song chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu, đánh giá một cách hệ thống, toàn diện và chuyên sâu về quá trình Đảng lãnh đạo thực hiện thời cơ xuyên suốt 9 năm kháng chiến (1945 - 1954).

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ quá trình Đảng lãnh đạo thực hiện thời cơ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954); từ đó rút ra các kinh nghiệm lịch sử phục vụ việc vận dụng vào các giai đoạn cách mạng tiếp theo.

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án gồm 4 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến nội dung luận án.
  2. Làm rõ những yếu tố tác động đến Đảng lãnh đạo thực hiện thời cơ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954).
  3. Trình bày quá trình Đảng lãnh đạo thực hiện thời cơ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954).
  4. Đưa ra một số nhận xét, kinh nghiệm về quá trình Đảng lãnh đạo thực hiện thời cơ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954).

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Nhận thức, chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện thời cơ của Đảng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954).
  • Phạm vi nội dung: Quá trình Đảng nhận thức về thời cơ, đề ra chủ trương và chỉ đạo triển khai thực hiện thời cơ; kết quả đạt được cùng những hạn chế, tập trung vào hai giai đoạn: giai đoạn 1945 - 1950 và giai đoạn 1951 - 1954.
  • Phạm vi không gian: Chủ yếu diễn ra trên lãnh thổ Việt Nam và mở rộng nghiên cứu tại một số quốc gia có liên quan trực tiếp gồm Pháp, Mỹ, Anh, Liên Xô, Trung Quốc.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát từ năm 1945 đến năm 1954.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án khảo sát, phân loại và điểm luận nguồn tư liệu nghiên cứu đã công bố theo hai nhóm vấn đề chính:

Nhóm 1: Các công trình nghiên cứu liên quan đến cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp:

  • Tài liệu trong nước: Các công trình tổng kết chiến tranh của Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị như Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, thắng lợi và bài học (1996), Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 - 1975, thắng lợi và bài học (2000); bộ sách 7 tập Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954) của Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2001 - 2017); tác phẩm Lịch sử một cuộc chiến tranh bẩn thỉu của Trần Trọng Trung (2004); Tổng tập Hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (2010); Lịch sử quân sự Việt Nam, tập 10 của Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2014); Lịch sử Việt Nam (tập 10 và 11) của Viện Sử học (2017); cuốn sách Chính sách chính trị, quân sự của Pháp ở Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954 và nguyên nhân thất bại của Nguyễn Mạnh Hà (2017). Cùng với đó là các bài viết chuyên khảo của Vũ Dương Ninh (1996), Trần Văn Thức, Vũ Như Khôi, Nguyễn Trà My trên các tạp chí chuyên ngành.
  • Tài liệu nước ngoài: Lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương của Yves Gras (1979); Tại sao Việt Nam? của Archimedes L. Patti (2008); Sự mù quáng của tướng Đờ Gôn đối với cuộc chiến ở Đông Dương của Pierre Quatrepoint (2008); Việt Nam 1946, chiến tranh bắt đầu như thế nào? của Stein Tonnesson (2013); De Gaulle và Việt Nam (1945 - 1969) của Pierre Journoud (2019); Hồ Chí Minh cơ hội cuối cùng của Henri Azeau (2021); cùng các khảo cứu, hồi ký của Lucien Bodard, Peter A. Poole, Henri Navarre, Raoul Salan.

Nhóm 2: Các công trình nghiên cứu liên quan đến quá trình Đảng lãnh đạo thực hiện thời cơ trong kháng chiến:

  • Tài liệu trong nước: Cuốn sách Sự thật về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trong 30 năm qua của Bộ Ngoại giao (1979); Tổng kết 50 năm đấu tranh trên mặt trận ngoại giao của Đảng và Nhà nước Việt Nam 1945 - 1995, tập I của Học viện Quan hệ quốc tế (1997); Mấy vấn đề chỉ đạo chiến lược trong 30 năm chiến tranh giải phóng (1945 - 1975) của Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1999); Ngoại giao Việt Nam từ Việt Bắc đến Hiệp định Giơnevơ của Nguyễn Phúc Luân (2001); Đấu tranh ngoại giao trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân (1945 - 1954) của Học viện Quan hệ quốc tế (2002); Pháp tái chiếm Đông Dương và chiến tranh lạnh của Lưu Văn Lợi, Nguyễn Hồng Thạch (2002); Hồ Chí Minh với quan hệ ngoại giao Việt - Pháp thời kỳ 1945 - 1946 của Lê Kim Hải (2005); Ngoại giao Việt Nam phương sách và nghệ thuật đàm phán của Nguyễn Khắc Huỳnh (2006); Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh của Nguyễn Dy Niên (2008); Lịch sử quan hệ đối ngoại Việt Nam (1940 - 2010) (2015) và Cách mạng Việt Nam trên bàn cờ quốc tế (2017) của Vũ Dương Ninh; kỷ yếu Hiệp định Giơnevơ 50 năm nhìn lại của Bộ Ngoại giao (2015); các bài báo của Nguyễn Mạnh Hà, Đỗ Thanh Bình, Vũ Oanh, Nguyễn Thị Quyên, Trần Trọng Trung, Nam Hưng, Đỗ Xuân, Đinh Trần Dương, Nguyễn Khắc Huỳnh, Phạm Thị Thanh Mai, Nguyễn Thị Mai Hoa, Nguyễn Trọng Hậu, Ngô Văn Minh, Raymond Aubrac.
  • Tài liệu nước ngoài: Công trình Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (Giơnevơ 1954) của Francois Joyaux (1981); Ho Chi Minh: A life của William J. Duiker (2000); Paris - Saigon - Hanoi, tài liệu lưu trữ về cuộc chiến tranh 1944 - 1947 của Philippe Devillers (2003); các ấn phẩm Câu chuyện về một nền hoà bình bị bỏ lỡ (2004) và Đối diện với Hồ Chí Minh (2009) của Jean Sainteny; tác phẩm Đồng chí Hồ Chí Minh của Evgeny Kobelev.
Nhóm công trình Đại diện tác giả tiêu biểu Nội dung trọng tâm
Lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Viện Sử học, Võ Nguyên Giáp, Yves Gras, Stein Tonnesson Tái hiện toàn diện tiến trình chiến tranh, nghệ thuật quân sự, bối cảnh quốc tế và nguyên nhân kết thúc chiến tranh của các bên tham chiến.
Chỉ đạo chiến lược, ngoại giao và thời cơ Bộ Ngoại giao, Học viện Quan hệ quốc tế, Nguyễn Dy Niên, Vũ Dương Ninh, Nguyễn Khắc Huỳnh, Francois Joyaux, Jean Sainteny Phân tích quan hệ đối ngoại, các cuộc đàm phán ngoại giao Việt - Pháp (1945 - 1946), Hiệp định Giơnevơ (1954) và sách lược hòa hoãn của Việt Nam.

Khoảng trống học thuật mà luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình nêu trên nghiên cứu từng sự kiện lịch sử, từng giai đoạn ngoại giao hoặc phân tích diễn biến chiến tranh ở quy mô thông sử, chưa có công trình nào phân tích có hệ thống quá trình Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức, tạo lập và chỉ đạo thực hiện thời cơ xuyên suốt từ năm 1945 đến năm 1954. Luận án kế thừa các sự kiện, nguồn tư liệu đã công bố để giải quyết chuyên sâu vấn đề này.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng cơ sở lý luận dựa trên:

  • Hệ tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh cách mạng, giải phóng dân tộc.
  • Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về thời cơ cách mạng, về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, quan hệ quốc tế, nghệ thuật quân sự và đấu tranh ngoại giao.

Khung khái niệm và phân tích:

  • Khái niệm thời cơ: Luận án dẫn giải định nghĩa từ Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam (thời cơ là hoàn cảnh chủ quan và khách quan thuận lợi để tiến hành thắng lợi một công việc) và Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam (thời cơ là tình thế xuất hiện trong thời điểm nhất định rất có lợi cho việc phát huy sức mạnh giành thắng lợi trong khởi nghĩa, chiến tranh và tác chiến). Luận án trích dẫn quan điểm của Ph. Ăng-ghen về việc không được bỏ lỡ thời điểm thuận lợi và tư tưởng Hồ Chí Minh qua bài thơ Học đánh cờ ("Lạc nước, hai xe đành bỏ phí / Gặp thời, một tốt cũng thành công").
  • Mối quan hệ biện chứng giữa "Thế", "Lực" và "Thời cơ":
    • Thế: Chỉ xu thế phát triển của cục diện chiến tranh, của trận đánh, là khí thế và trạng thái chính trị, tinh thần của các bên tham chiến. Thế luôn vận động và chuyển hóa theo thời gian; khi sự chuyển hóa phát triển đến trạng thái có lợi cho cách mạng, bất lợi cho đối phương thì tạo thành thời cơ.
    • Lực: Là cơ sở vật chất của thế (quân đội, vũ khí, kinh tế, hậu cần). Không có lực lượng cần thiết thì không thể bố trí thế trận. Thế quyết định việc phát huy sức mạnh của lực; lực thúc đẩy sự hình thành của thời cơ.
    • Thời cơ: Xuất hiện từ sự vận động, tương tác giữa thế của ta và thế của địch, có thể do thực lực trong nước tạo ra hoặc do hoàn cảnh quốc tế đem lại. Nếu không chuẩn bị thực lực đủ mạnh thì không thể chủ động tạo ra thời cơ và khi thời cơ đến sẽ không kịp thời tranh thủ được.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp chủ đạo: Phương pháp lịch sử (tái dựng tiến trình Đảng lãnh đạo thực hiện thời cơ theo trình tự thời gian từ 1945 đến 1954) kết hợp phương pháp logic (khái quát hóa các sự kiện thành các nhận định, quy luật và bài học kinh nghiệm).
  • Phương pháp bổ trợ: Phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp khảo sát, phương pháp phê phán sử liệu.
  • Phương pháp đặc thù của khoa học Lịch sử Đảng: Sử dụng hệ thống văn bản nghị quyết, chỉ thị, báo cáo của Đảng làm cơ sở đối chiếu với thực tiễn sự kiện và hoạt động của nhân vật lịch sử để phân tích, đánh giá khách quan.

Nguồn tư liệu:

  • Nguồn tư liệu lưu trữ Đảng và Nhà nước: Văn kiện Đảng Toàn tập, Hồ Chí Minh Toàn tập, tài liệu tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Phòng Tư liệu Viện Lịch sử Đảng.
  • Văn bản chỉ đạo tác chiến của Tổng Quân ủy, Bộ Tổng Tư lệnh, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam.
  • Các tư liệu, hồ sơ lưu trữ lịch sử, hồi ký của các nhân chứng trong và ngoài nước (Pháp, Mỹ, Anh, Liên Xô, Trung Quốc) đã được dịch và xuất bản.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và quá trình chỉ đạo chiến lược, chỉ đạo ngoại giao của Đảng.

Chương này rút ra các kết quả nghiên cứu đã đạt được trong giới học thuật:

  • Tái hiện tương đối đầy đủ diễn biến chiến tranh, âm mưu quân sự - chính trị của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.
  • Phân tích sự bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ giới cầm quyền Pháp và thái độ của các nước lớn (Liên Xô, Trung Quốc, Mỹ, Anh).
  • Làm rõ tính nhất quán trong chủ trương cứu vãn hòa bình của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa giai đoạn 1945 - 1946.

Từ việc đánh giá tổng quan, chương 1 chỉ ra các vấn đề mà luận án tập trung giải quyết: làm rõ nguyên nhân bùng nổ chiến tranh gắn với trách nhiệm của phía Pháp; hệ thống hóa quá trình Đảng nhận thức và chỉ đạo thực hiện thời cơ qua từng giai đoạn; khẳng định nỗ lực ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh; đúc kết các nhận xét và kinh nghiệm lịch sử.

Chương 2: Đảng lãnh đạo thực hiện thời cơ giai đoạn 1945 - 1950

Nội dung chương 2 phân tích các yếu tố tác động và diễn trình chỉ đạo thực hiện thời cơ từ năm 1945 đến năm 1950 qua hai nội dung lớn:

  1. Những yếu tố tác động đến Đảng lãnh đạo thực hiện thời cơ (1945 - 1950):
  • Cơ sở lý luận: Quan niệm Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về sự kết hợp giữa điều kiện chủ quan và khách quan trong việc tạo lập và chớp thời cơ.
  • Bối cảnh quốc tế: Trật tự hai cực sau Chiến tranh thế giới thứ hai, sự thành lập Liên hợp quốc (1945); phong trào giải phóng dân tộc phát triển tại Ấn Độ, Miến Điện, Mã Lai, Philippines; mâu thuẫn trong nội bộ nước Pháp bị tàn phá nặng nề sau chiến tranh (ngân sách 1945 thiếu hụt 55%, hơn 3 triệu người thương vong, 400.000 người thất nghiệp hoàn toàn, 3 lần đổ nội các trong năm 1946); việc các nước xã hội chủ nghĩa (Trung Quốc, Liên Xô, Triều Tiên, các nước Đông Âu) công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam vào đầu năm 1950.
  • Bối cảnh trong nước: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945; tình thế "ngàn cân treo sợi tóc" với sự hiện diện của hơn 20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc ở miền Bắc, quân Anh và thực dân Pháp nổ súng xâm lược ở miền Nam (23-9-1945); nạn đói làm chết gần 2 triệu người chưa khắc phục xong; hơn 90% dân số mù chữ.
  • Thực tiễn thực hiện thời cơ giai đoạn tiền khởi nghĩa (1939 - 1945): Đảng chuyển hướng chỉ đạo chiến lược qua Hội nghị Trung ương 6 (11-1939), Hội nghị Trung ương 7 (11-1940), Hội nghị Trung ương 8 (5-1941) thành lập Mặt trận Việt Minh; ra Chỉ thị Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta (12-3-1945) phát động cao trào kháng Nhật cứu nước; chớp thời cơ Nhật đầu hàng Đồng minh để phát động Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 giành chính quyền trong cả nước.
  1. Quá trình nhận thức và chỉ đạo thực hiện thời cơ (1945 - 1950):
  • Giai đoạn 1945 - 1946: Nhận thức rõ sự non trẻ của chính quyền và nguy cơ đối đầu cùng lúc nhiều kẻ thù, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương thực hiện sách lược "hòa để tiến", tạm thời hòa hoãn với quân Tưởng ở miền Bắc để tập trung đánh Pháp ở miền Nam; sau đó ký Hiệp định Sơ bộ (6-3-1946) và Tạm ước (14-9-1946) với Pháp nhằm đẩy 20 vạn quân Tưởng về nước, tranh thủ thời gian hòa bình quý báu để củng cố thực lực chính trị, quân sự, kinh tế.
  • Giai đoạn 1946 - 1950: Khi thực dân Pháp bội ước, Đảng kịp thời phát động Toàn quốc kháng chiến (19-12-1946); chỉ đạo tiến hành Chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947 đập tan chiến lược "đánh nhanh, thắng nhanh" của Pháp; lãnh đạo phát triển chiến tranh toàn diện (1948 - 1949); chớp thời cơ thắng lợi của cách mạng Trung Quốc (1949) và sự công nhận ngoại giao của Liên Xô, Trung Quốc (đầu năm 1950) để mở Chiến dịch Biên Giới Thu - Đông 1950, giành quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ.

Chương 3: Đảng lãnh đạo thực hiện thời cơ đưa cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi (1951 - 1954)

Chương 3 trình bày sự lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn kháng chiến chuyển biến căn bản về so sánh thế và lực:

  1. Bối cảnh mới và chủ trương thực hiện thời cơ (1951 - 1954):
  • Bối cảnh: Mỹ can thiệp sâu vào chiến tranh Đông Dương thông qua viện trợ quân sự cho Pháp; Pháp triển khai các kế hoạch quân sự mới, đỉnh điểm là Kế hoạch Navarre (1953) nhằm tìm kiếm một thắng lợi quân sự quyết định để rút lui trong danh dự.
  • Chủ trương của Đảng: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (tháng 2-1951) hoàn thiện đường lối kháng chiến; xác định phương châm tích cực tiêu hao sinh lực địch, xây dựng và phát triển khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường thực lực quân sự chính quy.
  1. Quá trình chỉ đạo thực hiện thời cơ đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi:
  • Đẩy mạnh hoạt động quân sự tạo thời cơ: Đảng chỉ đạo mở các chiến dịch quy mô lớn ở trung du, đồng bằng và miền núi; tổ chức Cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954 buộc quân Pháp phải phân tán khối cơ động chiến lược thành 5 nơi (Đồng bằng Bắc Bộ, Điện Biên Phủ, Xênô, Pleiku, Luông Phabăng - Mường Sài); tập trung toàn lực mở Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954), tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của Pháp ở Đông Dương.
  • Chỉ đạo phối hợp quân sự và ngoại giao: Kết hợp chặt chẽ giữa "đánh" trên chiến trường và "đàm" trên bàn hội nghị; nắm bắt thời cơ quốc tế khi Hội nghị Tứ cường tại Berlin (tháng 1-1954) thống nhất triệu tập hội nghị quốc tế về Đông Dương; cử phái đoàn tham dự Hội nghị Giơnevơ (1954), chuyển hóa thắng lợi quân sự Điện Biên Phủ thành văn bản pháp lý quốc tế là Hiệp định Giơnevơ (ký ngày 21-7-1954), chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương.

Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm

Chương 4 tổng kết các đánh giá khoa học và bài học kinh nghiệm:

  • Nhận xét: Luận án chỉ rõ Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích chính xác bối cảnh lịch sử, đánh giá đúng so sánh lực lượng giữa ta và địch; kết hợp hài hòa giữa tính nguyên tắc chiến lược và tính linh hoạt trong sách lược; kiên quyết tạo thời cơ bằng việc xây dựng thực lực trong nước, đồng thời nhạy bén tranh thủ các chuyển biến quốc tế thuận lợi. Bên cạnh thành công, luận án chỉ ra những hạn chế, khó khăn mang tính lịch sử do tương quan lực lượng ban đầu và những toan tính phức tạp giữa các nước lớn.
  • Kinh nghiệm lịch sử: Đúc kết 4 bài học kinh nghiệm cốt lõi:
    1. Thường xuyên đánh giá đúng tình hình, nhận thức quy luật vận động của thế, lực và thời cơ để đề ra chủ trương chỉ đạo chiến lược chính xác.
    2. Chủ động xây dựng thực lực cách mạng vững mạnh toàn diện làm cơ sở nền tảng để đón và tạo thời cơ.
    3. Triệt để khai thác mâu thuẫn trong hàng ngũ đối phương, phân hóa kẻ thù, thực hiện sách lược mềm dẻo nhằm bảo vệ lợi ích tối cao của dân tộc.
    4. Kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, kết hợp đồng bộ giữa mặt trận quân sự và mặt trận ngoại giao để kết thúc chiến tranh thắng lợi.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận:

  • Hệ thống hóa nhận thức lý luận của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về thời cơ cách mạng trong chiến tranh giải phóng; làm rõ mối quan hệ tương tác hữu cơ giữa ba nhân tố "Thế", "Lực" và "Thời cơ".
  • Bổ sung cơ sở lý luận về nghệ thuật tạo thời cơ, chớp thời cơ thông qua sự kết hợp giữa đấu tranh vũ trang và đấu tranh ngoại giao ("vừa đánh vừa đàm").

Về mặt thực tiễn:

  • Phục dựng bức tranh lịch sử có hệ thống về quá trình Đảng chỉ đạo thực hiện thời cơ qua hai giai đoạn chiến lược: 1945 - 1950 (từ hòa hoãn tránh chiến tranh đến giành thế chủ động chiến lược) và 1951 - 1954 (tạo thời cơ quân sự đưa tới kết thúc chiến tranh bằng giải pháp ngoại giao).
  • Phân tích và khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các thời điểm bước ngoặt: ký kết Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946, Tạm ước 14-9-1946, phát động Toàn quốc kháng chiến 19-12-1946, Chiến dịch Biên Giới 1950, Chiến dịch Điện Biên Phủ và đàm phán Hiệp định Giơnevơ 1954.
  • Đúc kết các bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn đối với sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân và công tác đối ngoại trong giai đoạn hiện nay.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế:

  • Do giới hạn về nguồn tư liệu và phạm vi nghiên cứu của đề tài tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng, luận án tập trung chủ yếu vào cấp lãnh đạo chỉ đạo chiến lược của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; chưa đi sâu khảo sát việc vận dụng cụ thể chủ trương thời cơ của Đảng ở từng chiến trường địa phương (như Nam Bộ, Nam Trung Bộ hoặc chiến trường liên minh phối hợp tại Hạ Lào, Thượng Lào, Campuchia).
  • Nguồn tư liệu lưu trữ của các bên tham chiến nước ngoài (Pháp, Mỹ) chủ yếu tiếp cận qua các bản tài liệu, hồi ký đã được dịch sang tiếng Việt hoặc công bố công khai, chưa khai thác trực tiếp toàn diện hệ thống hồ sơ gốc tại Trung tâm Lưu trữ Hải ngoại của Pháp (ANOM) và Cục Lưu trữ Quốc gia Mỹ (NARA).

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Khai thác mở rộng các hồ sơ giải mật của Pháp, Mỹ, Trung Quốc, Nga về các cuộc thương lượng hậu trường trong giai đoạn 1945 - 1946 và 1953 - 1954.
  • Nghiên cứu so sánh nghệ thuật lãnh đạo thực hiện thời cơ của Đảng giữa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954) với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975).

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo phục vụ các nhóm đối tượng:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên: Thuộc các ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Quân sự, Quan hệ Quốc tế tại các trường đại học, học viện nghiên cứu.
  • Cán bộ nghiên cứu chiến lược: Phục vụ công tác nghiên cứu lý luận chính trị, tổng kết chiến tranh, hoạch định đường lối đối ngoại và an ninh quốc phòng.

Các phần có giá trị tham khảo cao trong công trình:

  • Khung phân tích lý luận về mối liên hệ biện chứng giữa "Thế", "Lực" và "Thời cơ" (Chương 2).
  • Khảo cứu tư liệu về các cuộc tiếp xúc, đàm phán ngoại giao Việt - Pháp giai đoạn 1945 - 1946 nhằm tìm kiếm giải pháp hòa bình (Chương 2).
  • Tiến trình phối hợp giữa đấu tranh quân sự trong chiến cục Đông - Xuân 1953 - 1954, trận Điện Biên Phủ với bàn đàm phán Hiệp định Giơnevơ 1954 (Chương 3).

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa mối quan hệ giữa "Thế", "Lực" và "Thời cơ" như thế nào?

Theo phân tích của luận án, "Thế" là xu thế phát triển cục diện chiến trường và trạng thái tinh thần, chính trị của các bên; "Lực" là sức mạnh vật chất của thế (quân sự, kinh tế, hậu cần); "Thời cơ" là tình thế có lợi nhất xuất hiện từ sự chuyển hóa và tương tác giữa thế của ta và thế của địch. Lực là nền tảng của thế, thế quyết định hiệu quả phát huy của lực; khi thế và lực chuyển hóa đến trạng thái có lợi cho cách mạng và gây khó khăn cho địch thì thời cơ xuất hiện.

2. Đảng đã nhận định và chuẩn bị đón thời cơ như thế nào trong giai đoạn tiền khởi nghĩa (1939 - 1945)?

Đảng đã chuyển hướng nhiệm vụ chiến lược, đặt giải phóng dân tộc lên hàng đầu qua các Hội nghị Trung ương 6 (11-1939), Trung ương 7 (11-1940) và Trung ương 8 (5-1941), đồng thời thành lập Mặt trận Việt Minh. Khi Nhật đảo chính Pháp ngày 9-3-1945, Đảng ban hành Chỉ thị Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta (12-3-1945), nhận định ba cơ hội chín muồi cho khởi nghĩa và phát động cao trào tiền khởi nghĩa, tạo thực lực để chớp thời cơ Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945.

3. Sách lược "hòa để tiến" giai đoạn 1945 - 1946 được Đảng triển khai nhằm mục tiêu gì?

Sách lược "hòa để tiến" (thể hiện qua việc ký Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946 và Tạm ước ngày 14-9-1946) nhằm phân hóa kẻ thù, đẩy hơn 20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc về nước, tránh đối đầu cùng lúc với nhiều kẻ thù, đồng thời kéo dài thời gian hòa hoãn quý báu để củng cố chính quyền, xây dựng lực lượng vũ trang và chuẩn bị cơ sở vật chất cho cuộc kháng chiến toàn quốc lâu dài.

4. Bối cảnh quốc tế đầu năm 1950 đã tác động như thế nào đến việc Đảng tạo lập thời cơ quân sự?

Đầu năm 1950, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (18-1-1950), Liên Xô (30-1-1950) cùng các nước dân chủ nhân dân Đông Âu lần lượt công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhận thức thời cơ phá thế bao vây cô lập đã mở ra, Đảng chủ trương mở Chiến dịch Biên Giới Thu - Đông 1950 nhằm khai thông biên giới Việt - Trung, nối liền hậu phương quốc tế và giành quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ.

5. Sự phối hợp giữa đấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao được thể hiện ra sao trong giai đoạn 1953 - 1954?

Đảng chỉ đạo mở Cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954 và Chiến dịch Điện Biên Phủ nhằm đập tan Kế hoạch Navarre của Pháp. Thắng lợi quân sự quyết định tại Điện Biên Phủ đã trực tiếp tạo thế áp đảo trên bàn đàm phán tại Hội nghị Giơnevơ, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ (21-7-1954), công nhận các quyền dân tộc cơ bản của ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Nguyễn Hùng Cường là công trình nghiên cứu lịch sử Đảng hệ thống hóa toàn diện quá trình lãnh đạo thực hiện thời cơ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954). Tác giả đã làm rõ cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa thế, lực và thời cơ; tái hiện diễn trình nhận thức, chuyển hóa chủ trương thành hành động thực tiễn qua các mốc lịch sử từ giai đoạn hòa hoãn 1945 - 1946 đến thắng lợi Điện Biên Phủ và Hiệp định Giơnevơ năm 1954. Công trình luận giải thành công vai trò lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời đúc kết những bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị khoa học cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.